Trang chủ » Doanh nghiệp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

Doanh nghiệp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

Theo quy định của pháp luật hiện hành, doanh nghiệp có thể chấm dứt hợp đồng lao động trong các trường hợp được quy định tại Điều 34, Điều 36 Bộ luật lao động năm 2019.

Doanh nghiệp đơn phương chấm dứt
Công ty Luật TNHH Everest – Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198

Quy định pháp luật về đơn phương chấm dứt hợp đồng

Căn cứ chấm dứt, thủ tục chấm dứt cũng như quyền lợi người lao động được hưởng khi bị chấm dứt hợp đồng lao động trong các trường hơp là khác nhau, do đó, Luật sư cần căn cứ vào quy định của pháp luật hiện hành, hoàn cảnh thực tế của khách hàng… để tư vấn chính xác cho khách hàng là người sử dụng lao động khi chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động.

Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động là quyền của cả người lao động và người sử dụng lao động trong quá trình thực hiện hợp đồng lao động. Tuy nhiên, khi thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của mình, người sử dụng lao động phải tuân thủ đúng quy định của pháp luật hiện hành. Nếu quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động là trái pháp luật, người sử dụng lao động sẽ phải chịu các chế tài quy định tại Điều 42 Bộ luật lao động năm 2012 (Điều 41 Bộ luật lao động năm 2019).

Điều kiện để Doanh nghiệp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động

Khi tư vấn cho doanh nghiệp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động mà hành vi sự kiện dẫn đến quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động xảy ra trước ngày 01/01/2021, Luật sư cần lưu ý quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động được xác định là đúng pháp luật khi thỏa mãn các điều kiện sau:

(i) Thứ nhất, quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động phải có căn cứ. Người sử dụng lao động chỉ được quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động trong những trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 38 Bộ luật lao động năm 2012.

Trong các trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động quy định tại khoản 1 Điều 38 Bộ luật lao động năm 2012, trường hợp quy định tại điểm a (người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đông lao động) là phổ biến trên thực tế nhất và cũng dễ phát sinh tranh chấp nhất. Theo quy định tại khoản 1 Điều 12 Nghị định có 05/2015/NĐ-CP thì người sử dụng lao động phải có tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thành công việc trong quy chế của doanh nghiệp để làm cơ sở đánh giá người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động. Quy chế đánh giá mức độ hoàn thành công việc do người sử dụng lao động ban hành sau khi có ý kiến của Ban chấp hành công đoàn cơ sở hoặc Ban chấp hành công đoàn cấp trên trực tiếp (nếu ở doanh nghiệp chưa thành lập công đoàn cơ sở).

(ii) Thứ hai, người sử dụng lao động phải thực hiện đúng thủ tục khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động. Cụ thể:

Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, người sử dụng lao động phải bảo trước cho người lao động một thời hạn nhất định theo quy định tại khoản 2 Điều 38 Bộ luật lao động năm 2012. Thời hạn báo trước dài hay ngắn tuỳ thuộc vào thời hạn của hợp đồng lao động hoặc căn cứ chấm dứt. Một điểm cần lưu ý về số ngày báo trước là ngày làm việc của doanh nghiệp chỉ áp dụng với số ngày báo trước là 03 ngày; đối với số ngày báo trước dài (30 hoặc 45 ngày) thì được xác định theo lịch dương lịch.

Phải trao đổi, thống nhất với Ban chấp hành công đoàn cơ sở hoặc Ban chấp hành cấp trên trực tiếp cơ sở trong trường hợp người lao động bị đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động là cán bộ đoàn không chuyên trách.

(iii) Thứ ba, người lao động không thuộc trường hợp pháp luật cấm người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt được quy định tại Điều 39 Bộ luật lao động năm 2012 (đang ốm đau hoặc bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp đang điều trị, điều dưỡng, đang nghỉ hằng năm, nghĩ việc riêng và những trường họp nghỉ khác được người sử dụng lao động đồng ý; lao động nữ đang có thai, nuôi con nhỏ dưới 12 tháng tuổi…).

Khi tư vấn cho người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động mà hành vi/sự kiện dẫn đến quyết định đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động xảy ra từ ngày 01/01/2021 trở đi, Luật sư căn cứ vào quy định tại Điều 36 Bộ luật lao động năm 2019 và các văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật lao động năm 2019.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Gọi tư vấn
icons8-exercise-96