Quan hệ pháp luật đầu tư theo hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC)

09/09/2022
Đinh Thị Thương
Đinh Thị Thương
Quan hệ pháp luật đầu tư theo hợp đồng hợp tác kinh doanh là vấn đề quan trọng trong BCC. Cùng tham khảo quan hệ pháp luật đầu tư theo hợp đồng hợp tác kinh doanh.

Đầu tư được định nghĩa là những hoạt động sử dụng các nguồn lực hiện tại; nhằm mang đến cho nền kinh tế xã hội những kết quả lớn hơn trong tương lai so với nguồn lực đã sử dụng. Hình thức đầu tư phổ biến là hợp đồng hợp tác kinh doanh. Hợp đồng hợp tác kinh doanh (sau đây gọi là hợp đồng BCC) là hợp đồng được ký giữa các nhà đầu tư nhằm hợp tác kinh doanh, phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm theo quy định của pháp luật mà không thành lập tổ chức kinh tế. Quan hệ pháp luật đầu tư theo hợp đồng hợp tác kinh doanh là vấn đề quan trọng trong BCC. Cùng tham khảo quan hệ pháp luật đầu tư theo hợp đồng hợp tác kinh doanh.

Quan hệ pháp luật đầu tư theo hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC)

Chủ thể của hợp đồng hợp tác kinh doanh

Nhà đầu tư được hiểu là tổ chức, cá nhân thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh. Trong đó gồm nhà đầu tư trong nước, nhà đầu tư nước ngoài và tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Hợp đồng BCC được ký kết giữa các nhà đầu tư trong nước với nhau hoặc giữa nhà đầu tư trong nước với nhà đầu tư nước ngoài. Về chủ thể, hợp đồng BCC được ký kết giữa các nhà đầu tư trong nước với nhau hoặc giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài.

Số lượng chủ thể hợp đồng BCC trong từng hợp đồng không giới hạn. Tùy thuộc vào quy mô dự án và nhu cầu, khả năng mong muốn của các nhà đầu tư. Nếu trong trường hợp, nhà đầu tư nước ngoài là cá nhân có quốc tịch nước ngoài, tổ chức thành lập theo pháp luật nước ngoài thì sẽ phải thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh tại Việt Nam. Còn nếu như hợp đồng BCC được ký kết, thương thảo giữa các nhà đầu tư trong nước thì sẽ thực hiện theo quy định của Bộ luật dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành.

Về mặt nguyên tắc của Luật, bất cứ nhà đầu tư trong nước hay nước ngoài nào muốn ký kết hợp đồng hợp tác kinh doanh. Điều kiện đầu tiên là hợp đồng phải dựa trên tinh thần tự nguyện, cam kết không rơi vào trong các trường hợp mà pháp luật cấm, đều trở thành chủ thể của hợp đồng.

Xem thêm: Dịch vụ pháp lý lao động

Khách thể của hợp đồng hợp tác kinh doanh

Khách thể của hợp đồng hợp tác kinh doanh có thể hiểu là nội dung cơ bản quy định trong hợp đồng.

Hợp đồng BCC là những thỏa thuận hợp tác kinh doanh bao gồm các thỏa thuận cùng góp vốn kinh doanh và cùng phân chia lợi nhuận, cũng như cùng chịu rủi ro. Nội dung hợp đồng BCC gồm những nội dung chủ yếu sau:

Mục tiêu, phạm vi hoạt động đầu tư kinh doanh

Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng và phương thức giải quyết tranh chấp

Họ tên, địa chỉ của người đại diện có thẩm quyền của các bên tham gia hợp đồng. Địa chỉ giao dịch hay địa chỉ nơi thực hiện dự án.

Đóng góp của các bên tham gia hợp đồng, cũng như việc phân chia kết quả đầu tư kinh doanh giữa các bên

Quy định về tiến độ, thời hạn thực hiện hợp đồng

Quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng

Quy định về sửa đổi chuyển nhượng và chấm dứt hợp đồng

Tìm hiểu thêm: Dịch vụ trợ lý pháp lý

Quan hệ pháp luật đầu tư theo hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC)

Ưu điểm và hạn chế của hợp đồng hợp tác kinh doanh

Ưu điểm

Hợp đồng BCC không yêu cầu phải thành lập pháp nhân được xem là ưu điểm nổi bật đối với các nhà đầu tư. Nhà đầu tư và đối tác có thể thỏa thuận với nhau về quyền và nghĩa vụ thông qua hợp đồng với tư cách là nhà đầu tư độc lập mà không bị ràng buộc bởi một pháp nhân chung.

Nhà đầu tư sẽ tiết kiệm được thời gian, chi phí cho việc thành lập và vận hành một pháp nhân mới.

Đầu tư theo hình thức Hợp đồng BCC cũng là một trong những lựa chọn tối ưu cho các nhà đầu tư nước ngoài khi có ý định đầu tư vào một thị trường mới nhưng vẫn nhanh chóng tiếp cận được thông tin dưới sự am hiểu về thị trường thông qua những đối tác trong nước.

Nhược điểm

Việc thực hiện những hợp đồng, giao dịch bên lề nhằm phục vụ cho Hợp đồng BCC cũng sẽ gây phân vân cho bên thứ ba khi không tồn tại một đại diện – một công ty liên doanh giữa các nhà đầu tư. Trong khi pháp luật Việt Nam vẫn chưa có quy định cụ thể về trách nhiệm giữa các bên đối tác khi giao kết hợp đồng với bên thứ ba. Ngoài ra, các nhà đầu tư sẽ phải thỏa thuận việc lựa chọn con dấu của một trong hai bên để phục vụ cho việc kí kết các hợp đồng với bên thứ ba. Nếu rủi ro xảy ra, cụ thể khi các bên bất đồng quan điểm trong việc sử dụng con dấu để ký kết hợp đồng, thì dự án đầu tư đó sẽ phải dừng lại và chờ đợi giải quyết.

Xem thêm: Dịch vụ pháp lý lĩnh vực đầu tư

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest:

Bài viết trong lĩnh vực nêu trên được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.

Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết

Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: info@everest.net.vn.

0 bình luận, đánh giá về Quan hệ pháp luật đầu tư theo hợp đồng hợp tác kinh doanh (BCC)

TVQuản trị viênQuản trị viên

Xin chào quý khách. Quý khách hãy để lại bình luận, chúng tôi sẽ phản hồi sớm

Trả lời.
Thông tin người gửi
Bình luận
Nhấn vào đây để đánh giá
Thông tin người gửi
Tổng đài tư vấn: 024-66 527 527
Giờ làm việc: Thứ 2 - Thứ 7: 8h30 - 18h00
0.04664 sec| 912.492 kb