Trang chủ » Luật sư nghiên cứu biên bản ghi lời khai

Luật sư nghiên cứu biên bản ghi lời khai

Để xác định sự thật khách quan của vụ án, trong quá trình điều tra, truy tố, những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có thể tiến hành biên bản lấy lời khai của nhiều đối tượng có liên quan đến vụ án như người làm chứng, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự.

biên bản lời khai
Công ty Luật TNHH Everest – Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198

Nghiên cứu biên bản ghi lời khai

Để xác định sự thật khách quan của vụ án, trong quá trình điều tra, truy tố, những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có thể tiến hành lấy lời khai của nhiều đối tượng có liên quan đến vụ án như người làm chứng, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự.. Khi lấy lời khai của các đối tượng này, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải lập biên bản theo quy định pháp luật, đánh số bút lục và đưa vào hồ sơ vụ án.

Trong trường hợp điều tra viên lấy lời khai, biên bản ghi lời khai sử dụng Mẫu số 178 ban hành kèm theo Thông tư số 61/2017/TT-BCA. Bố cục biên bản gồm ba phần: Phần đấu ghi thông tin về thời gian, địa điểm lay lời khai; thông tin về cán bộ lấy lời khai; thông tin vê đối tượng lấy to khai và tư cách tố tụng của họ; trách nhiệm giải thích quyền, nghĩa vụ của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Phần thứ hai là hỏi và đáp, lại cầu hỏi của người có thẩm quyền tiến hành tố tung và cầu trả lời củ đối tượng được hỏi. Phán cuối biên bản ghi nhân thời gian kết thúc buổi làm việc, chữ ký của những người tham gia. Trong trường hợp KSV lấy lời khai, biên bản ghi lời khai sử dụng Mẫu số 125/HS ban hành kèm theo Quyết định số 15/QĐ-VKSTC.

Nghiên cứu biên bản ghi lời khai của người làm chứng

Người làm chứng là người biết được những tình tiết liên quan đến nguồn tin về tội phạm, về vụ án và được cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng triệu tập đến làm chứng. Khi tham gia lấy lời khai, người làm chứng trình bày những gì họ biết nguồn tin về tội phạm, về vụ án, nhân thân của người bị buộc tội, bị hại, quan hệ giữa họ với người bị buộc tội, bị hại, người làm chứng khác và trả lời những câu hỏi do người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đặt ra. Pháp luật quy định không được dùng làm chứng cứ những tình tiết do người làm chứng trình bày nếu họ không thể nói rõ vì sao biết được tình tiết đó.

Việc ghi lời khai của người làm chứng chủ yếu do ĐTV tiến hành, trường hợp xét thấy việc lấy lời khai của ĐTV không khách quan hoặc có vi phạm pháp luật hoặc xét cần làm rõ chứng cứ, tài liệu để quyết định việc phê chuẩn hoặc không phê chuẩn quyết định tố tụng quyết định việc truy tố thì KSV có thể lấy lời khai của người làm chứng.

Khi nghiên cứu biên bản ghi lời khai của người làm chứng, luật sư cần lưu ý:

– Kiểm tra biên bản ghi lời khai của người làm chứng để đảm bảo việc lấy lời khai được thực hiện dúng quy định về mặt tố tụng:

+ Về địa điểm lấy lời khai, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải đảm bảo việc lấy lời khai của người làm chứng được tiến hành tại nơi tiến hành điều tra, nơi cư trú, nơi làm việc hoặc nơi học tập của người đó.

+ Xác định tính độc lập, khách quan của biên bản ghi lời khai. Trong trường hợp vụ án có nhiều người làm chứng thì người có thẩm quyển tiến hành tố tụng phải lấy lời khai riêng từng người và không để cho họ tiếp xúc, trao đổi với nhau trong thời gian lấy lời khai.

+ Trước khi lấy lời khai, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải giải thích cho người làm chứng biết quyền và nghĩa vụ của họ theo quy định của pháp luật, việc giải thích quyển và nghĩa vụ cho người làm chứng phải được ghi vào biên bản.

+ Đối với người làm chứng là người dưới 18 tuổi, khi lấy lời khai phải có người người đại diện 18 tuổi không quá 02 lần trong một ngày và mỗi lấn không quá 02 giờ, trừ trường hợp vụ án có nhiều tình tiết phức tạp.

+ Pháp luật quy định những người sau đây không được làm chứng:

người bào chữa của người bị buộc tội; người do nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất mà không có khả năng nhận thức được những tình tiết liên quan nguồn tin về tội phạm, về vụ án hoặc không có khả năng khai không đúng đắn.

+ Kiểm tra biên bản ghi lời khai có bị tẩy, xóa, thêm, bớt hay không. Trong trường hợp biến bản có nội dung bị tẩy, xóa, thêm, bớt thì có chữ ký xác nhận của người làm chứng, người có thẩm quyền tiến hành tố tu hay không.

– Trước khi hỏi về nội dung vụ án, người có thẩm quyền tiến hành 4 tụng phải hỏi để xác định mối quan hệ giữa người làm chứng với bị can bị hại và những tình tiết khác về nhân thân của người làm chứng. Qua nghiên cứu những nội dung này, luật sư có thể xác định, đánh giá tính thách quan, trung thực trong lời khai của người làm chứng. Trong thực tiễn giải quyết vụ án hình sự, đã có trường hợp người làm chứng, vì trước đó có mâu thuẫn với bị can nên khi được mời ra làm chứng, đã cố tình khai báo không đúng sự thật, theo hướng bất lợi cho bị can, ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc xác định sự thật khách quan của vụ án.

– Khi nghiên cứu biên bản ghi lời khai của người làm chứng, luật sư cần xác định xem người làm chứng thuộc loại trực tiếp hay gián tiếp. Người làm chứng trực tiếp là người trực tiếp nghe thấy, nhìn thấy sự việc xảy ra. Người làm chứng gián tiếp là người được nghe kể lại sự việc qua người khác. Về nguyên tắc thì lời khai của người làm chúng trực tiếp, nếu đảm bảo tính khách quan, trung thực thì sẽ có độ tin cậy cao hơn lời khai của người làm chứng gián tiếp.

– Sự việc người làm chứng khai trong biên bản rõ ràng do họ trực ép nhìn thấy, nghe thấy và thuật lại trung thực sự việc, hay có chứa yêu ố phỏng đoán, suy diễn. Về nguyên tắc, người làm chứng cần khai báo trung thực, khách quan những gì họ nhìn thấy, nghe thấy. Tuy nhiên, có những trường hợp, người làm chứng, từ những gì nhìn thấy, nghe tha họ lại tự ý suy diễn, phỏng đoán theo tư duy của họ.

– Trạng thái tinh thần, tuổi của người làm chứng cũng cần được sự lưu ý khi nghiên cứu biên bản ghi lời khai của người làm chứng.

– Người làm chứng có quyền lợi, nghĩa vụ gì liên quan đến vụ không. Nếu xác định người làm chứng có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, luật sư cần thận trọng, nghiên cứu kỹ lưỡng, toàn diện lời khai bởi lời khai của người làm chứng trong trường hợp này có thể thiếu tính khách quan.

– Cương vị, điều kiện công tác, nơi ở của người làm chủng, điều kiện chủ quan và khách quan có cho phép họ biết rõ sư việc như họ đã khai báo không, Như đã để cập, pháp luật quy định không được dùng làm chứng những tình tiết do người làm chứng trình bày nếu họ không thể nói rõ vì sao biết được tình tiết đó.

– Khi nghiên cứu biên bản ghi lời khai của người làm chứng, luật sư cần phải kiểm tra, đánh giá xem những nội dung người làm chứng khai báo có phù hợp với các chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án hay không, bởi vi lời khai của người làm chứng là một nguồn chứng cứ có tỉnh chủ quan, sự chính xác, khách quan, trung thực có thể bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tổ như:

+ Người làm chứng tuy khai báo khách quan nhưng vì trí nhớ hoặc khả năng thị giác không tốt nên thuật lại có thể không hoàn toàn dúng với diễn biến sự việc;

+ Sự việc xảy ra đã quá lâu nên không nhớ chi tiết, thuật lại có thiếu sót;

+ Do ngại phiến phúc, rắc rối, thù oán nên không khai hết sự việc mà mình đã biết;

+ Vì cảm tình hoặc có mâu thuẫn với một bên trong vụ án mà khai thêm, bớt, thiếu chính xác. Có người làm chứng vi không nhớ kỹ mà khai thêm, bớt, suy diễn theo chủ quan của mình;

+ Vì bị đe dọa hoặc mua chuộc mà khai báo sai sự thật;

+ Đã khai không đúng sự thật, nhưng sau vẫn giữ nguyên lời khai vì sợ khai khác thì bị đánh giá là người không trung thực.

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest

1. Bài viết trong lĩnh vực nêu trên được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: info@everest.org.vn.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Gọi tư vấn
icons8-exercise-96