Trang chủ » Kỹ năng thu thập chứng cứ trong vụ án hành chính

Kỹ năng thu thập chứng cứ trong vụ án hành chính

Xuất phát từ các vấn đề cần chứng minh trong vụ án khiếu kiện Quyết định hành chính về Xử lý vi phạm hành chính, Luật sư cần chú ý đến kỹ năng thu thập chứng cứ chứng minh về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, về thời hiệu, thời hạn ban hành Quyết định hành chính.

thu thập chứng cứ trong vụ án hành chính
Công ty Luật TNHH Everest – Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198

Kỹ năng thu thập chứng cứ trong vụ án hành chính

Về nguyên tắc, các đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh. Tòa án chỉ xác minh, thu thập chứng cứ trong những trường hợp xét thấy cần thiết (nếu việc xác minh, thu thập chứng cứ của Tòa án bảo đảm cho việc giải quyết vụ án hình chính được toàn diện, chính xác, công minh, đúng pháp luật). Để tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ trong vụ án khiếu kiện về Quyết định hành chính, Hành vi hành chính trong Xử lý vi phạm hành chính Luật sư cần phải:

(i) Xác định đúng, đủ các đương sự của vụ án, những người tham gia tố tụng khác và đề nghị Tòa án tạo điều kiện để khách hàng của minh được thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ của họ. Trong thủ tục xử lý vi phạm thường có người chứng kiến, cần phân biệt giữa người chứng kiến trong thủ tục hành chính và người làm chứng trong tố tụng hành chính.(xem thêm : tư vấn luật lao động)

(ii) Xác định chính xác đối tượng khởi kiện của vụ án là Quyết định hành chính hay Hành vi hành chính nào, khi nào kiện Quyết định hành chính khi nào kiện Hành vi hành chính khi nào kiện một hoặc nhiều đối tượng để giúp khách hàng tiến hành xác minh, thu thập chúng tục, vì trong các vụ Xử lý hành vi vi phạm hành chính, cơ quan hành chính, người có thẩm quyền luôn phải thực hiện nhiều Hành vi hành chính, ban hành nhiều văn bản hành chính nhưng không phải tất cả đều là đối tượng khiếu kiện theo quy định của Luật Tố tụng hành chính.

(iii) Xác định những vấn đề chính cần giải quyết trong vụ án để có định hướng đúng về những vấn đề cần phải chứng minh, phải xác minh thu thập chứng cứ chứng minh và các văn bản quy phạm pháp luật cán áp dụng.

(iv) Xác định các biện pháp cần phải tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ có trong vụ án để áp dụng khi cần thiết.(đọc về: tư vấn luật hình sự)

Theo quy định tại khoản 1 Điều 9 Luật Tố tụng hành chính “Các đương sự có quyền và nghĩa vụ chủ động thu thập, giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án và chứng minh yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp” Với quy định này, việc thu thập chứng cử là quyền và nghĩa vụ của đương sự. Việc các đương sự phải cung cấp chứng cứ và chứng minh cho yêu cầu của mình là một trong những nguyên tắc xuất phát từ quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự đối với việc khởi kiện của mình (quy định Tài Điều 8 Luật Tố tụng hành chính). Khi khởi kiện vụ án hành chính để Tòa án giải quyết và không định rằng việc khởi kiện là có căn cứ và đúng pháp luật thì các đương sự trong vụ án hành chính phải tự mình thu thập, cung cấp chứng cứ, tài liệu này cho Tòa án.

Đối với người khởi kiện, Luật sư phải giúp chứng minh được quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng bị xâm phạm bởi quyết định xử phát quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn, quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả, quyết định hay hành vi cưỡng chế, chứng minh tính hợp pháp và tính có căn cứ của yêu cầu khởi kiện là hủy các quyết định đó, tuyên bố hành vi đó là trái pháp luật hoặc hủy quyết định đó, tuyên bố hành vi đó là trái pháp luật và bồi thường thiệt hại.

Đối với người bị kiện là các cá nhân, cơ quan có thẩm quyền ban hành Quyết định hành chính , Hành vi hành chính bị khởi kiện phải đưa ra được các tài liệu, chứng cứ để chứng minh quyết định Xử lý hành vi vi phạm hành chính, Hành vi hành chính của mình thực hiện trong quá trình tiến hành Xử lý hành vi vi phạm hành chính là có căn cứ và hợp pháp.

Theo quy định của Luật Tố tụng hành chính thì quyền, nghĩa vụ chứng minh không chỉ đặt ra với bên khởi kiện mà đặt ra với cả bên bị kiện, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khi không đồng ý với yêu cầu của người khởi kiện. Đó không những là quyền các đương sự trong việc cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án mà đó còn là nghĩa vụ của họ phải thực hiện để Tòa án ra phán quyết giải quyết vụ án một cách khách quan, toàn diện và đúng pháp luật.(quan tâm tới: hợp đồng vay tiền)

Các bên có quyền, nghĩa vụ cung cấp tài liệu, chứng cứ hoặc cũng có quyền không đưa ra các tài liệu, chứng cứ (trừ trường hợp đã được Tòa án yêu cầu) nhưng phải chịu hậu quả của việc không đưa ra được các chứng cứ, tài liệu để chứng minh cho yêu cầu của mình. Trong trường hợp người khởi kiện không đưa ra được tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình (không chứng minh được Xử lý hành vi vi phạm hành chính, Hành vi hành chính trong Xử lý hành vi vi phạm hành chính là trái pháp luật) thì người khởi kiện sẽ bị bác yêu cầu khởi kiện. Còn nếu người bị kiện không đưa ra được chứng cứ, tài liệu chứng minh Xử lý hành vi vi phạm hành chính, Hành vi hành chính do minh ban hành hoặc thực hiện là có căn cứ đúng pháp luật thì có thể bị Tòa án hủy một phần hoặc toàn bộ Xử lý hành vi vi phạm hành chính hoặc tuyên bố một số hoặc toàn bộ các Hành vi hành chính là trái pháp luật (Điều 193 Luật Tố tụng hành chính năm 2015′ – Thẩm quyền của Hội đồng xét xử).

Trách nhiệm thu thập chứng cứ của Tòa án trong vụ án hành chính

Luật Tố tụng hành chính quy định đương sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh cho yêu cầu khởi kiện. Tòa án chỉ tiến hành thu thập chứng cứ khi đương sự đã áp dụng mọi biện pháp nhưng vẫn không thu thập được và có yêu cầu Tòa án tiến hành thu thập. Với quy định này. Luật Tố tụng hành chính quy trách nhiệm cho dương sự đồng thời bảo đảm được minh bạch, khách quan, tránh việc Thẩm phán lạm dụng biện pháp thu thập chứng cứ có lợi cho một trong các bên đương sự để ra phản quyết không đúng với bản chất của vụ án đang giải quyết, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

Đồng thời với việc quy định quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ của đương sự, Luật Tố tụng hành chính còn quy định trách nhiệm thu thập chứng cứ của Tòa án và chỉ được tiến hành trong những trường hợp do Luật tố tụng hành chính quy định (khoản 2 Điều 9). Quy định về trách nhiệm thu thập chứng cứ của Tòa án thể hiện ở một số điểm:

(i) Trong vụ án hành chính, một bên đương sự (người bị kiện) là người có thẩm quyền trong cơ quan hành chính nhà nước hoặc cơ quan hành chính mang quyền lực của nhà nước, nắm chắc các quy định của pháp luật và một bên đương sự (người khởi kiện) không mang quyền lực và sự hiểu biết pháp luật đối khi còn hạn chế đồng thời họ ở phía “yếu thế” hơn trong việc tự thu thập tài liệu, chứng cứ để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Khi họ khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết thì họ không biết cần phải có các chứng cứ, tài liệu nào để bảo vệ quyền lợi của mình hoặc tìm kiếm các chứng cứ đó ở đâu để cung cấp cho Tòa án. Nếu quy định quyền và nghĩa vụ chứng minh chỉ thuộc về đương sự thì có thể đương sự không thể chứng minh để bảo vệ quyền 

(ii) Người khởi kiện nộp đơn khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án nhưng họ không cung cấp được đầy đủ các tài liệu, chứng cứ cần thiết để Tòa án thụ lý vụ án. Có nhiều nguyên nhân dẫn tới việc này như họ chưa nhận được các tài liệu, chứng cứ từ các cá nhân, cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc các cá nhân, cơ quan nhà nước có thẩm quyền không cung cấp cho họ vì lý do nào đó, mặc dù họ đã yêu cầu được cung cấp tài liệu, chứng cứ đó dẫn đến việc khởi kiện của họ gặp trở ngại ngay từ khi nộp đơn khởi kiện, điều này đòi lại phải có sự can thiệp của Tòa án là cơ quan thay mặt nhà nước giải quyết tranh chấp, giúp đương sự trong việc thu thập chứng cứ đang lưu nhi tại các cơ quan, tổ chức đương sự không thể thu thập được.

Luật Tố tụng hành chính quy định Tòa án tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ trong những trường hợp do Luật này quy định. Thủ tục thu thập chứng cứ được quy định cụ thể tại Điều 84 và các điều luật tương ứng khác của Luật Tố tụng hành chính. Thẩm phán chỉ được tự mình tiến hành một hoặc một số biện pháp sau để thu thập chứng cứ lấy lời khai của đương sự (Điều 85); lấy lời khai của người làm chứng khi xét thấy cần thiết (Điều 86); đối chất khí xét thấy có sự mâu thuẫn trong lời khai của các đương sự, người làm chứng (Điều 87); xem xét, thẩm định tại chỗ (Điều 88); Ủy thác thu thập chứng cứ, xác minh tài liệu, chứng cứ (Điều 92)… Luật còn quy định điều kiện để Thẩm phán được tiến hành một hoặc một số biện pháp thu thập chứng cứ khi đương sự không thể tự mình thu thập được và có yêu cầu như: lấy lời khai người làm chứng; đổi chất, trưng cầu giám định: định giá tài sản, thẩm định giá tài sản, yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp chứng cứ

Điều 10 Luật Tố tụng hành chính quy định về nghĩa vụ cung cấp tài liệu, chứng cứ của cá nhân, cơ quan, tổ chức có thẩm quyền. Theo đó, cá nhân, cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm cung cấp đầy đủ và đúng thời hạn các tài liệu, chứng cứ mà mình đang lưu giữ, quản lý khi có yêu cầu của đương sự, Tòa án, Viện kiểm sát. Trường hợp không cung cấp được thì phải thông báo bằng văn bản cho đương sự, Tòa án, Viện kiểm sát biết và nêu rõ lý do của việc không cung cấp được tài liệu, chúng cử. Thời hạn cung cấp chứng cứ cho Tòa án, Viện kiểm sát là 15 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu của Toà án, Viện kiểm sát(xem thêm về: hợp đồng đặt cọc mua đất)

Có những tài liệu, chứng cứ do nhiều cá nhân, cơ quan, tổ chức khác nhau lưu giữ nên nếu cá nhân, cơ quan, tổ chức đó không cung cấp cho Tòa án thi ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án đó, Thẩm phán không thể ra được phán quyết đúng và nếu ra phán quyết sai sẽ gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Do đó, trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ không chỉ là quyền, nghĩa vụ của đương sự mà còn là trách nhiệm của cá nhân, tổ chức đang giữ tài liệu, chứng cứ. Luật sư cần vận dụng quy định này để bảo đảm cho việc hồ sơ được xây dựng đầy đủ, toàn diện hơn trước khi Tòa án đưa ra phán quyết giải quyết vụ án hành chính.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

19006198
Liên hệ