Trang chủ » Thuật ngữ đàm phán và những điều cần biết

Thuật ngữ đàm phán và những điều cần biết

“Đàm phán” là một thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong cuộc sống và cả trong pháp luật của các nước trên thế giới. Ở Việt Nam, thuật ngữ này được sử dụng rộng lớn.

Thuật ngữ đàm phán
Công ty Luật TNHH Everest – Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198

Thuật ngữ đàm phán là gì?

Đàm phán mang tính bao quát khi muốn đề cập đến việc cần phải đạt được một mục tiêu nhật định nào đó nhưng giữa hai hay nhiều bên còn có những bất đồng. Vì vậy, đàm phán như là một công cụ và quá trình nhằm xóa nhòa các bất đồng để hai bên đều đạt được điều mình mong muốn.

Người ta có thể nói đến “đàm phán quốc tế giữa các quốc gia về một vấn đề quan trọng như giải trừ vũ khí hạt nhân, nhưng một từ báo mạng cũng có thể nói đến “Bí quyết đàm phán tiền lương trước khi nhận việc”, thậm chí một bậc thầy về đàm phán quốc tế có thể nói về “Đàm phán với chính mình” như một sự nhắc nhở rằng trở ngại đầu tiên trong đàm phán chính là vượt qua bản thân mình. Tuy vậy, thuật ngữ đàm phán lại ít được sử dụng chính thức trong các văn bản pháp luật của Việt Nam.

Trong Bộ luật dân sự năm 2015 hầu như không nhắc đến thuật ngữ này, ngoại trừ ở khoản 4 Điều 420 nói về đàm phán sửa đổi, chấm dứt hợp đồng”. Trong khoa học pháp lý, các chuyên gia sử dụng đàm phán” như là một thuật ngữ có tính bao quát, nhưng cũng có người sử dụng thuật ngữ kép đàm phán, thương lượng” hoặc “thương thuyết” hay “thương lượng” Các chuyên gia cũng có thể sử dụng những thuật ngữ đồng nghĩa khác như “thương thảo”, “thoả thuận” v.v…

Thuật ngữ “đàm phán” như là một quá trình (quy trình), theo đó, đàm phán gồm có các giai đoạn từ chuẩn bị, tiếp xúc, tham gia (thương lượng) và kết thúc. Như vậy, có thể hiểu thương lượng (hay thương thảo, thương thuyết, thoả thuận…) là nội dung quan trọng nhất, là giai đoạn cuối cùng của quá trình đàm phán mà kết thúc của nó hoặc là thống nhất được ý kiến (đàm phán thành công) hoặc là đàm phán đổ và không thông nhất được quan điểm. Tuy nhiên, khi nói về thương lương phải quyết tranh chấp về kinh doanh, thương mại chúng tôi sử dụng thuật ngữ thương lương như là một quá trình để phù hợp việc pháp luật Việt Nam.

Phân loại đàm phán

Trong khoa học pháp lý tiếng Anh được biết đến hai loại đàm phán phổ biến: distributive negotiation/bargaining (đàm phán phân bổ) và intergrative negotiation/bargaining (đàm phán tích hợp). Người ta cũng có thể nói về các cuộc đàm phán có thể chứa các lợi ích tương và/hoặc không tương thích giữa các nhà đàm phán (compatible And/or incompatible interests).

Trong cuộc sống hàng ngày, có thể có cả lợi ích tương thích và lợi ích không tương thích cho các nhà đảm phần trong một cuộc đàm phán đơn lẻ – nói cách khác, đàm phán có chứa động lực hỗn hợp của các yếu tố phân phối và tích hợp. Tuy nhiên, về măt lý thuyết, nó là cần thiết để phân biệt sự khác biệt của phủ định tích phân và phân phải theo định nghĩa.

Đàm phán phân bổ là đàm phán mà theo đó nhà đàm phán phải tiến hành tìm kiếm cách phân chia một lượng tài nguyên cố định trong một cuộc đàm phán cho hai bên. Phân phối thương lượng là một “trò chơi tổng bằng không từ quan điểm của lý thuyết trò chơi, trong đó giá trị dọc theo một chiều duy nhất thay đổi theo một trong hài hưởng một bên là tốt hơn và người kia kém hơn. Diễn giải đơn giản hơn theo thuyết chiếc bánh cố định (the Fixed Pie).

Ngược lại, đàm phán tích hợp (intergrative negotiation) là đàm phản win – win, và hai bên đều thẳng, cả hai bên đều đạt được một điều gì đó mà mình muốn. Vì vậy, đàm phán tích hợp có nghĩa là lợi ích không hoàn toàn trái ngược hoặc hoàn toàn không tương thích. Tiềm năng tích hợp này cho phép hai bên đàm phán tương hỗ nhằm đạt được thỏa thuận mà kết quả cao hơn thỏa hiệp 50 – 50.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Gọi tư vấn
icons8-exercise-96