Trang chủ » Kỹ năng của Luật sư sau khi hồ sơ được chuyển đến Tòa án phần ba

Kỹ năng của Luật sư sau khi hồ sơ được chuyển đến Tòa án phần ba

Đối với các vụ án xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, sau khi hồ sơ được chuyển đến Tòa án, Luật sư cần có kỹ năng thực hiện một số thủ tục để đảm bảo tốt nhất quyền và lợi ích của bị cáo.

Xin xóa án tích
Công ty Luật TNHH Everest – Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198

Trong trường hợp cần thiết, Luật sư cần kiến nghị Tòa án quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung và xác định vi phạm nghiêm trọng thủ làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo

Thực tiễn tố tụng hình sự những năm qua cho thấy một thực trạng trả hồ sơ để điều tra bổ sung nhiều lần rất phổ biến, kéo dài thời hạn tố tụng, xâm phạm, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội. Trong một số trường hợp, việc trả hồ sơ của Tòa án không đảm bảo nguyên tắc suy đoán vô tội, thậm chí kết tội danh nặng hơn đối với bị can, đồng thời không thông báo cho Luật sư được biết. Nhằm khắc phục những vướng mắc nêu trên, khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã quy định Thẩm phán chủ tọa phiên tòa ra quyết định trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung khi thuộc một trong các trường hợp: (a) Khi thiếu chứng cứ dùng để chứng minh một trong những vấn đề quy định tại Điều 85 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 mà không thể bổ sung tại phiên tòa được; (b) Có căn cứ cho răng ngoài hành vi mà Viện kiểm sát đã truy tố, bị can còn thực hiện hành vi khác mà Bộ luật hình sự quy định là tội phạm; (c) Có căn cứ cho rằng còn có đồng phạm khác hoặc có người khác thực hiện hành vi mà Bộ luật hình sự quy định là tội phạm liên quan đến vụ án nhưng chưa được khởi tố vụ án, khởi tố bị can; (d) Việc khởi tố, điều tra, truy tố vi phạm nghiêm trọng về thủ tục

Nhìn ở góc độ Luật sư bào chữa, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị cáo hay người bị hại, đương sự, việc nhận diện và xác định các chứng cứ quan trọng đối với vụ án (bao gồm cả chứng cứ buộc tội và chứng cứ gỡ tội) có ý nghĩa rất lớn, vì nếu thiếu các chứng cứ này thì không thể giải quyết vụ án được khách quan, toàn diện, đúng pháp luật. Đó là các chứng cứ chứng minh có hành vi phạm tội xảy ra hay không; Thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội; Ai là người thực hiện hành vi phạm tội; Hành vi bị coi là phạm tôi có lỗi hay không có lỗi, Các tình tiết chứng minh năng lực trách nhiệm hình sự, mục đích, động cơ phạm tội; các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo; Những đặc điểm về nhân thân của bị can, bị cáo là chứng cứ xác định lý lịch tư pháp của bị can, bị cáo; Cũng như tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra. Đương nhiên, Luật sư cũng có quyền có ý kiến đề nghị Tòa án không trả hồ sơ để điều bổ sung khi chứng cứ trong hồ sơ vụ án cho thấy có thể xét xử bị cáo về một hay nhiều tội tương ứng bằng hay nhẹ hơn hoặc có thể xét xử bị can (bị cáo) ít tội hơn số tội mà Viện kiểm sát truy tố; Hoặc đã có căn cứ quyết định tách vụ án hoặc chưa có quyết định tác vụ án của Cơ quan điều tra …

Điều quan trọng mà Luật sư cần quan tâm chính là xem xét các hành vi tố tụng của các cơ quan và người tiến hành tố tụng có phù hợp với các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 hay không? Điểm d khoản 1 Điều 280 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định Thẩm phán có quyền trả hồ sơ để điều tra bổ sung khi có căn cứ xác định việc khởi tố, điều tra, truy tố vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng. Về vấn đề này, Điều 6 Thông tư liên tịch số 02 / 2017 / TTLT – VKSNDTC – TANDTC – BCA – BQP ngày 22/12/2017 đã liệt kê 16 trường hợp bị coi là có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, mà trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, cơ quan tiến tụng, không đúng, không đầy đủ các trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định đã xâm hại nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng hoặc làm ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan và toàn diện của vụ án.

Luật sư cũng có thể nêu hành vi bị coi là vi phạm nghiêm trọng đã xâm phạm về thủ tục tố tụng đến quyền tự bào chữa, nhờ Luật sư hoặc người bào chữa, cũng như cản trở, xâm phạm đến các quyền và nghĩa vụ của người bào chữa. Trong đó, phải kể đến hành vi không yêu cầu cử người bào chữa cho bị can, bị cáo trong trường hợp bắt buộc phải chỉ định người bào chữa; cản trở, đưa ra những yêu cầu vô lý để từ chối đăng ký bào chữa, không tạo điều kiện cho thân nhân và người bào chữa được gặp mặt người bị buộc tội khi họ từ chối người bào chữa.

Đó còn là các hành vi không giao các lệnh, quyết định tố tụng cho bị can, bị cáo theo đúng quy định của pháp luật xâm phạm đến quyền bào chữa của bị can, bị cáo; xác định không đúng tư cách tham gia tố tụng của người tham gia tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố xét xử dẫn đến xâm hại nghiêm trọng quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Bên cạnh đó, cũng phải đưa vào diện vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng khi có căn cứ để xác định có việc mớm cung, bức cung, nhục hình trong quá trình tiến hành tố tụng làm cho lời khai của bị can không đúng sự thật; các khiếu nại, tố cáo của bị can, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không được giải quyết theo đúng quy định của pháp luật đã xâm phạm nghiêm trọng đến quyền, lợi ích của họ.

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest:

  • Bài viết trong lĩnh vực pháp luật thương mại được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  • Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.

Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: info@everest.org.vn.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *