Trang chủ » Quy tắc quan hệ với khách hàng của Luật sư

Quy tắc quan hệ với khách hàng của Luật sư

Theo Luật Luật sư , khách hàng là các cơ quan, tổ chức, cá nhân sử dụng dịch vụ pháp lý của luật sư – một trong những chủ thể quan trọng nhất cấu thành nghề luật sư . Bởi không có khách hàng, không có nghề luật sư. 

Tôn trọng khách hàng
Công ty Luật TNHH Everest – Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198

Quy tắc quan hệ với khách hàng

Theo Luật Luật sư , khách hàng là các cơ quan, tổ chức, cá nhân sử dụng dịch vụ pháp lý của luật sư – một trong những chủ thể quan trọng nhất cấu thành nghề luật sư. Bởi không có khách hàng, không có nghề luật sư. Dưới góc độ cung cầu dịch vụ pháp lý , khách hàng đại diện cho bên cầu quyết định việc cung cấp dịch vụ pháp lý . Tuy nhiên, dưới góc độ pháp lý quan hệ luật sư với khách hàng là một loại quan hệ dân sự , chịu sự điều chỉnh của pháp luật dân sự . Trong quan hệ này, các quyền và nghĩa vụ của luật sư với khách hàng được thiết lập trên cơ sở bình đẳng, thỏa thuận với sự tự nguyện của các bên. Bản chất quan hệ của luật sư và khách hàng là quan hệ pháp luật dân sự , bình đẳng, thỏa thuận. Tuy nhiên, trong quan hệ này vẫn có yếu tố khác tác động , đó là việc “ nhờ ” và “ nhận ” . Sự bình đẳng, thỏa thuận của khách hàng về mặt lý thuyết và pháp lý đặt ra trong quan hệ với luật sư nói chung. Tuy nhiên, khi phải đối mặt với tình thế khó khăn liên quan đến sinh mạng, tự do, tài sản của mình, khách hàng vẫn phải lựa chọn một tổ chức hành nghề luật sư và luật sư cụ thể nào đó để cung cấp dịch vụ cho mình. Mặt khác, với sự chuyên nghiệp của mình, luật sư có thể vận dụng các quy định đưa lại lợi thế cho mình. Chính vì vậy, Bộ Quy tắc đạo đức và Ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam đã dành chương quan trọng gồm 12 Quy tắc để quy định về quan hệ giữa luật sư và khách hàng và chia thành bốn nhóm quy tắc, với các quy định rất cụ thể , xác định tương đối rõ ràng các ranh giới xử sự của luật sư trong quan hệ với khách hàng từ nhóm quy tắc cơ bản đến nhóm quy tắc về nhận vụ việc ; nhóm quy tắc thực hiện vụ việc và nhóm quy tắc kết thúc vụ việc nhằm cụ thể hóa, minh bạch hóa các quyền và nghĩa vụ cụ thể trong quan hệ giữa luật sư và khách hàng.

Nhóm quy tắc cơ bản

a ) Quy tắc 5. Bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng Luật sư có nghĩa vụ tận tâm với công việc, phát huy năng lực, sử dụng kiến thức chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp và các biện pháp hợp pháp để bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng theo quy định của pháp luật và Bộ Quy tắc Đạo đức và Ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam. Luật sư có nghĩa vụ bảo đảm chất lượng dịch vụ pháp lý cung cấp cho khách hàng, tận tâm sử dụng các kỹ năng nghề nghiệp cần thiết để bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích của khách hàng theo quy định của pháp luật. Khi hành nghề, cung cấp dịch vụ pháp lý cho khách hàng , đảm bảo chất lượng dịch vụ và chất lượng dịch vụ ngày càng nâng cao, bảo vệ tốt nhất quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng chính là tiêu chuẩn đạo đức cao nhất của người luật sư và nghề luật sư . Ở đây đạo đức chính là chất lượng dịch vụ pháp lý tốt nhất cho khách hàng. Bảo đảm chất lượng dịch vụ pháp 1 và lợi ích của khách hàng theo quy định của pháp luật , đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư chính vừa là nghĩa vụ pháp lý , vừa là nghĩa vụ đạo đức của luật sư . Bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng cũng là việc luật sư góp phần bảo vệ pháp luật, bảo vệ công lý . Ở đây giữa quyền lợi của khách hàng và công lý , lợi ích chung của xã hội không có mâu thuẫn mà Khác với các chức danh tiến hành tố tụng, cán bộ , công chức khi tiến. hành tố tụng, thực thi công vụ , chỉ được làm những việc mà pháp luật cho phép, luật sự có quyền sử dụng mọi biện pháp pháp luật không cấm để bảo vệ khách hàng của mình. Do vậy, trong quan hệ với khách hàng, luật sư có nghĩa vụ tận tâm với công việc , đặt quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng lên trên hết, phát huy năng lực, sử dụng kiến thức chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp và các biện pháp hợp pháp để bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng theo quy định của pháp luật và Bộ Quy tắc Đạo đức và Ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam.

Tình huống 1 : Luật sư A trao đổi với Luật sư B ( Giám đốc Công ty Luật TNHH B ) về phương án bào chữa và đề xuất mức án trong phiên xử sắp tới đối với khách hàng C. Luật sư A có nêu : “ Ông C và gia đình cần một mức án treo, qua trao đổi chuyên môn với Tòa án, Thẩm phán – Chánh án X, chủ tọa đã đồng ý rồi, hôm tới nếu không có gì mới trong diễn biến của phiên tòa sẽ tuyên. Tuy nhiên, trong Hồ sơ và các chứng cứ khác khi tôi nghiên cứu thu được thấy ông C không phạm tội, chỉ vi phạm hành chính, cùng lắm hình sự hóa chỉ là cảnh cáo thôi. Nếu chứng minh theo hướng này sẽ phải thu thập thêm nhiều chứng cứ khác nữa, mảng a, mảng b. Quá trình tiến trình tố tụng sẽ kéo dài thêm, chi phí trên mức thù lao mình đã ký sẽ tăng, hiệu quả giảm thậm chí còn âm, phải đàm phán lại với khách hàng ” . Luật sư B nói : “ Ông đề xuất phương án sau đó mình cùng bàn ! ” Nếu là luật sư A trong tình huống nói trên, bạn sẽ đưa ra phương án gì ? Tại sao ? Nếu là Giám đốc Công ty luật B, bạn sẽ quyết định theo phương án nào trong tình huống nói trên ?

Tình huống 2 : Luật sư A bảo vệ cho bị cáo B, người chưa thành niên bị truy tố theo tội cưỡng đoạt tài sản tại Điều 170 Bộ luật Hình sự . Tòa án nhân dân huyện H đã xử phạt B 1 năm tù , cho hưởng án treo. Gia đình bị cáo B đã chấp nhận, không muốn tiếp tục vì nhiều lý do. Qua nghiên cứu hồ sơ , luật sư thấy mức án trên là quá nghiêm khắc, bị cáo B có đủ căn cứ , không để được chuyển tội danh và áp dụng hình phạt nhẹ hơn là cải tạo | giam giữ . Nếu bạn là luật sư A, bạn sẽ xử sự như thế nào ?

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *