Trang chủ » Trao đổi, tiếp xúc với các cá nhân có liên quan

Trao đổi, tiếp xúc với các cá nhân có liên quan

Việc tương tác, trao đổi, tiếp xúc trực tiếp hoặc qua điện thoại hay bằng các phương thức liên hệ khác với các cá nhân có liên quan giúp cho người hành nghề luật hiểu rõ, đúng và toàn diện hơn về bối cảnh của vụ việc

Trao đổi tiếp xúc
Công ty Luật TNHH Everest – Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198

Trao đổi, tiếp xúc với các cá nhân có liên quan

Việc nghiên cứu hồ sơ giúp cho người hành nghề luật nắm bắt được một phần nhất định của vụ việc mà không phải toàn bộ bối cảnh sự việc. Người hành nghề luật cần những thông tin “sống”, cần biết thêm những “câu chuyện, những mong muốn, những diễn biến thực tế, những vấn đề không thể hiện trong hồ sơ vụ việc. Việc tương tác, trao đổi, tiếp xúc trực tiếp hoặc qua điện thoại hay bằng các phương thức liên hệ khác với các cá nhân có liên quan giúp cho người hành nghề luật hiểu rõ, đúng và toàn diện hơn về bối cảnh của vụ việc.

Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 có những quy định giúp cho Thẩm phán, Luật sư, Kiểm sát viên có điều kiện để trao đổi, tiếp xúc với các cá nhân có liên quan đến vụ việc. Quy định về việc lấy lời khai của dương sự (Điều 98 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015); Lấy lời khai của người làm chứng (Điều 99 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015); và Đổi chất (Điều 100 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015) là những cơ sở pháp lý quan trọng để người hành nghề luật có thể tìm hiểu sự việc một cách trực tiếp, đầy đủ và có được những đánh giá, nhận định khách quan, sát thực và thuyết phục về những tài liệu, tình tiết, chứng cứ có ý nghĩa quan trọng trong việc tìm giải pháp và giải quyết vụ việc.

Trên thực tế có những vấn đề quan trọng, cần trao đổi tiếp xúc để biết những mong muốn, động cơ của các cá nhân trong việc giải quyết tranh chấp, khởi kiện thường không thể hiện trên văn bản viết. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp đây mới là những thông tin quan trọng để Luật sư đưa ra giải pháp cho khách hàng hoặc Thẩm phán đưa ra để xuất hòa giải cho các bên đương sự trong việc giải quyết các vụ án dân sự.

Đưa ra giả thuyết, nghĩ vẫn, suy luận, câu hỏi

Người hành nghề luật thường phải giải những “bài toán khó về chuyên môn, đó có thể là những đề nghị cung cấp dịch vụ tư vấn pháp lý cho những giao dịch lớn, có nhiều yếu tố phức tạp, giải quyết các vụ tranh chấp có sự tham gia của nhiều bên, với giá trị tranh chấp kém và phức tạp về những góc độ tài chính, kỹ thuật hay pháp lý, những vụ án có nhiều tình tiết, dữ kiện, sự kiện diễn ra trong một thời gian dài, khó chứng minh.

Để có thể giải được những bài toán này, người hành nghề luật phải có óc phán đoán, phải đưa ra những nghi vấn, suy đoán, trao đổi tiếp xúc và những câu hỏi để lý giải những tình tiết, sự kiện, dữ kiện,… đang có vấn đề. Từ những giả thuyết, nghĩ vắn, suy đoán và câu hỏi đó, người hành nghề luật tiến hành thu thập thông tin, tiếp xúc với các cá nhân, tổ chức có liên quan, đi xem xét thực tế và thực hiện các biện pháp nghiệp vụ khác để luận giai, chúng minh và trả lời cho những giả thuyết, nghi vấn, suy đoán, câu hỏi của mình. Quá trình chứng minh và trả lời những câu hỏi chuyên môn trong một số trường hợp sẽ giúp cho người hành nghề luật xác định được bản chất của vấn đề và tìm được đáp số, giải pháp giải quyết vấn đề.

Ví dụ: Công ty Cổ phần A là công ty 100% vốn đầu tư nước ngoài của các nhà đầu tư HỌ tại Việt Nam (Công ty A). Công ty A chuyển san xuất sản phẩm đồ gỗ cao cấp xuất khẩu sang châu Âu, Hàn Quốc và có số lượng người lao động thường xuyên khoảng 5.000 người. Trong quá trình sản xuất, Công ty có thai ra một số loại chất thai nguy hại. Vì không có điều kiện vận chuyển và tiêu huy được chất thải nguy hại nên ngày 02/5/2019, Công ty A đã ký Hợp đồng số 13/HĐ-KT về việc thu gom văn khuyển như thải với Công ty Cổ phần XBV (Công ty XBV). Tại thời điểm kỳ Hợp đồng số 13/HĐ-KT. Công ty XBV chua được cấp Mã số quản lý chất thải nguy hại, mặc dù trong Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp của Công ty XBV có ngành nghề kinh doanh vận chuyển, xử lý chất thải trong các Khu Công nghiệp. Công ty XBV có giải thích với Công ty A rằng họ đang làm thủ tục xin cấp phép. Đến tháng 9/2019, Công ty XBV không xuất trình được Mã số quản lý chất thải dơ Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp, do đó Công ty A yêu cầu thanh lý Hợp đồng. Tại thời điểm này. Công ty XBV trình Công ty A bản the thao Hợp đồng số 63/HĐ-KT dự định kỷ giữa Công ty XBV và Công ty Cổ phần Dịch vụ Môi trường (Công ty DVMT). Đến thời điểm đề nghị Luật sư tư vấn, Công ty DVMT cũng chung chính thức ký Hợp đồng sử 63/HD-KT với Công ty XBV. Tuy nhiên, Công ty A không đồng ý và hai bên đã ký biên bản thanh lý Hợp đồng số 13/HĐ KT. Ngày 10/5/2020, Công ty A nhận được Công văn số 27/CV-HC ngày 07/3/2020 của Công ty DVMT với các nội dung sau: “Công ty Cổ phần Dịch vụ Môi trường là một doanh nghiệp Nhà nước hoạt động công kh với chức năng, nhiệm vụ là vệ sinh môi trường và quản lý đô thị được phê duyệt. Công ty đã được Ủy ban nhân dân tỉnh T cấp Giấy phép hành nghề vận chuyển chết thải nguy hại với mã số QLCTNH: 50003 vào ngày 31/12/2018. Tuy nhiên, kể từ thời điểm đó đến nay, Công ty vẫn chưa từng ký bất kỳ hợp đồng thu gom vận chuyển chất thải nguy hại với Công ty A Nhưng hiện nay ở Phòng Tài nguyên và Môi trường thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T lại xuất hiện 06 chứng từ chất thải nguy hại từ sở QI/A/CTCT đến (A/CTCT của chủ nguồn thải là Công ty Có phản đã Khu Công nghiệp S, tỉnh T. Trung chứng từ có ghi chủ vận chuyển và chủ xử lý tiêu huy đều là Công ty Cổ phần Dịch vụ Môi trường.

Về vấn đề này. Công ty xin báo cáo rằng Công ty chúng tôi không ký hợp đồng với Công ty A, cũng không vận chuyển, xử lý bất kỳ một kilôgam chất thải nào của chủ nguồn chất thải trên. Về việc xác nhận của còn bộ Công ty vào chủng từ chất thải nguy hại của chủ nguồn thải trên là không đúng với quy định của pháp luật của nghiệp vụ quản lý chất thải nguy hại còn hạn chế. Với Công ty Cổ phần Dịch vụ Môi trường xin bảo cáo cụ thể để Quý Sở được biết và có ý kiến đối với Công ty A về số chứng từ chất thải nguy hại trên là chưa phù hợp, chưa đúng với quy định nhà nước và cần phải được hủy bỏ Công văn số 27/CV-HC cũng đã được gửi đến Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T. Phòng Tài nguyên và Môi trường thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T đã giới Công văn mới Công ty A lên làm việc Buổi làm việc sẽ có sự tham gia của Cảnh sát môi trường Phòng Tài nguyên và Môi trường thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T và các bên có liên quan. Công ty d là ngại về những hậu quả pháp lý bắt lại có thể phát sinh từ vụ việc trên nền đã ký Hợp đồng dịch vụ pháp lý với Văn phòng Luật sư đề nghị tư vấn các vấn đề pháp lý liên quan đến vụ việc. Vụ việc cũng đồng thời được những người hành nghề luật khác tham gia nghiên cứu, giải quyết.

Khi nghiên cứu hồ sơ vụ việc nêu trên, Luật sư có thể nhận thấy điểm bất thường sau cần thiết phải làm rõ để có thể tư vấn cho khách hàng cũng như tìm giải pháp tư vấn cho Công ty A giải quyết vụ việc

Vì sao Công ty A ký Hợp đồng số 13/HĐKT với Công ty XBV mà việc xử lý chất thải nguy hại của Công ty A lại liên quan đến nhân viên của Công ty DVMT ..

Tại sao Công ty DVMT biết được Phòng Tài nguyên và Môi trường thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T có 06 chứng từ chất thải nguy hại từ số QI/A/CTCT đến 06/N/CTCT của chủ nguồn thải là Công ty Cổ phần A ở Khu Công nghiệp S, tỉnh T? Trong chứng từ có ghi chủ vận chuyển và chủ xử lý tiêu hủy đều là Công ty DVMT nhưng Phòng Tài nguyên và Môi trường thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T không thông báo về vấn để này với các biến có liên quan và cũng không đề nghị lên giải trình trước khi nhận được Công văn số 27/CV-HC của Công ty DVMTR

Tại sao Công ty DVMT lại đưa vẫn để này ra để các cơ quan cả thẩm quyền điều tra vụ việc

Lý do vì sao Công ty DVMT lại công nhận thực tế là “Về việc xác nhận của cán bộ Công ty vào chứng từ chất thải nguy hại của chủ nguồn thải trên là không đúng với quy định của pháp luật do nghiệp vụ quản lý chất thải nguy hại còn hạn chế”

Các giả thuyết, nghị vẫn, suy luận, câu hỏi của người hành nghề luật được đưa ra trên cơ sở; kiến thức chuyên môn đã được đào tạo tại bậc cử nhân luật; kiến thức về các quy định pháp luật và việc áp dụng các quy định pháp luật này; kiến thức về kỹ năng thực hành nghề nghiệp đã được đẩu gạo, tác kiến thức chuyên ngành bổ trợ khác (tài chính, kinh tế. chính trị, xã hội, văn hoá, nghệ thuật…); kinh nghiệm và các ý kiến trao đổi chuyên môn với các đồng nghiệp hoặc chuyên gia trong từng lĩnh vực. Càng nhiều giả thuyết, nghỉ vẫn, suy luận và câu hỏi được đưa ra người hành nghề luật cũng có thêm các định hướng để tìm hiểu vụ việc một cách toàn diện. Trong giai đoạn tìm hiểu bối cảnh vụ việc thông qua việc đưa ra các giả thuyết, nghi vấn, suy luận, câu hỏi, người hành nghề luật không nên đánh giá các mệnh đề mà mình đưa ra mà chỉ nên suy nghĩ và liệt kê các giả thuyết, nghỉ vắn, suy luận, câu hỏi. Việc đưa ra các đánh giá, chứng minh quá sớm sẽ hạn chế khả năng tư duy, phán đoán để đưa ra các giả thuyết, nghi vấn, suy luận, câu hỏi

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest

1. Bài viết trong lĩnh vực nêu trên được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: info@everest.org.vn.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *