Trang chủ » Căn cứ tái thẩm và kháng nghị tái thẩm

Căn cứ tái thẩm và kháng nghị tái thẩm

Cũng như giám đốc thẩm, căn cứ tái thẩm không phải là một cấp xét xử mà là thủ tục đặc biệt của Tố tụng Hình sự. Đây là thủ tục xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhưng bị kháng nghị vì có tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định mà Tòa án không biết được khi ra bản án, quyết định đó.

căn cứ tái thẩm
Công ty Luật TNHH Everest – Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198

Căn cứ tái thẩm

Cũng như giám đốc thẩm, tái thẩm không phải là một cấp xét xử mà là thủ tục đặc biệt của Tố tụng Hình sự. Đây là thủ tục xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhưng bị kháng nghị vì có tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định mà Tòa án không biết được khi ra bản án, quyết định đó. Theo Điều 198 BLTTHS năm 2015, bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục tái thẩm khi có một trong các căn cứ:

(i) Có căn cứ chứng minh lời khai của người làm chứng, kết luận giám định, kết luận định giá tài sản, lời dịch của người phiên dịch, bản dịch thuật có những điểm quan trọng không đúng sự thật. Ví dụ : Căn cứ vào lời dịch của người phiên dịch, Tòa án đã kết án bị cáo, nhưng sau đó có căn cứ xác định lời dịch này là không đúng sự thật.

(ii) Có tình tiết mà ĐTV, KSV, Thẩm phán, Hội thẩm do không biết được mà kết luận không đúng làm cho bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật không đúng sự thật khách quan của vụ án.

(iii) Vật chứng, biên bản về hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, biên bản hoạt động tố tụng khác hoặc những chứng cứ, tài liệu, đồ vật khác trong vụ án bị giả mạo hoặc không đúng sự thật.

(iv) Những tình tiết khác làm cho bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật không đúng sự thật khách quan của vụ án.

Kháng nghị tái thẩm

Cũng như kháng nghị giám đốc thẩm, để có thể kháng nghị tái thẩm đối với bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật việc đầu tiên là phải phát hiện ra những tình tiết mới là căn cứ tái thẩm. Bất cứ cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân nào cũng có quyền phát hiện những tình tiết mới của vụ án. Người phát hiện có thể gửi đơn hoặc thông báo kèm theo tài liệu liên quan cho bất kỳ VKS hoặc Tòa án nào về những tình tiết mới. Nếu Toà án nhận được đơn hoặc thông báo tự mình phát hiện ra tình tiết mới thì chuyển cho Viện trưởng VKS có thẩm tái thẩm.

Trước khi quyết định kháng nghị theo thủ tục tái thẩm, Viện trưởng VKS có thẩm quyền kháng nghị tái thẩm ra quyết định xác minh những tình tiết đó. VKS phải kiểm tra tính xác thực và phải tiến hành xác minh về tình tiết mới phát hiện. Khi xét thấy cần thiết, Viện trưởng VKS có thẩm quyền kháng nghị tái thẩm yêu cầu CQĐT có thẩm quyền xác minh tình tiết mới của vụ án và chuyển kết quả xác minh cho VKS. Trong quá trình xác minh tình tiết mới được phát hiện VKS, CQĐT có quyền áp dụng các biện pháp điều tra tối tụng theo quy định của BLTTHS.

Thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm của VKS các cấp được quy định như sau:

(i) Viện trưởng VKSNDTC có quyền kháng nghị tái thẩm đối với những bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của TAND hoặc Tòa án quân sự các cấp.

(ii) Viện trưởng VKSNDTC không có quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm quyết định của Hội đồng Thẩm phán TANDTC vì Hội đồng Thẩm phán TANDTC là cơ quan xét xử cao nhất, do đó quyết định của Hội đồng Thẩm phán TANDTC là quyết định cuối cùng và không thể bị kháng nghị.

(iii) Viện trưởng VKS quân sự trung ương có quyền kháng nghị tái thẩm đối với những bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án quân sự cấp dưới.

(iv) Viện trưởng VKSND cấp cao có quyền kháng nghị tái thẩm đối với những bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của TAND cấp tỉnh và TAND cấp huyện thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *