Chuyên viên tư vấn sẵn sàng hỗ trợ!
Tư vấn sử dụng dịch vụ miễn phí
"Nếu không có 'cây gậy' trừng phạt đi kèm, mọi nội quy hay quy trình của tổ chức đều trở nên vô hại và bị phớt lờ".
Luật sư Phạm Ngọc Minh
Thời cổ đại, Hàn Phi tử cho rằng, quản trị đất nước phải dựa vào tình người. Tình cảm của con người có yêu thích có chán ghét, nên có thể sử dụng ban thưởng và hình phạt và xây dựng lệnh cấm. Nhà vua nắm quyền bính để xử thế, mệnh lệnh truyền xuống được chấp hành nghiêm chỉnh.
Hàn Phi Tử nghe có vẻ khốc liệt, nhưng khi 'dịch' sang ngôn ngữ quản lý ngày nay, ông chính là người đầu tiên đặt nền móng cho Quản trị dựa trên động lực học hành vi, bản chất cốt lõi của khoa học quản trị nhân sự hiện đại:

Sách Hàn Phi Tử chương Bát Kinh (Tám nguyên tắc kinh điển) có ghi: Phàm muốn trị vì thiên hạ thì tất phải dựa vào tâm lý, bản tính của con người (nhân tình). Bản tính con người là có cái thích (hiếu) và cái ghét (ố), cho nên biện pháp thưởng và phạt mới có thể áp dụng được. Khi thưởng và phạt đã áp dụng được thì các lệnh cấm và luật lệ mới thiết lập được, và công cụ trị nước từ đó mà đầy đủ vậy.
Bậc minh quân nắm giữ đại quyền (bính) và đứng ở vị thế tối cao (thế), cho nên ban lệnh ra thì thuộc cấp phải làm, cấm điều gì thì thuộc cấp phải dừng. Đại quyền (Bính) chính là cơ chế định đoạt sự sống và cái chết; Vị thế (Thế) chính là tư bản, là chỗ dựa để áp đảo và quản lý đám đông.
Nguyên văn chữ Hán: 凡治天下,必因人情。人情者,有好惡,故賞罰可用;賞罰可用,則禁令可立而治道具矣。君執柄以處勢,故令行禁止。柄者,殺生之制也;勢者,勝眾之資也。Phiên âm Hán Việt: Phàm trị thiên hạ, tất nhân nhân tình. Nhân tình giả, hữu hiếu ố, cố thưởng phạt khả dụng; thưởng phạt khả dụng, tắc cấm lệnh khả lập nhi trị đạo cụ hỹ. Quân chấp bính dĩ xử thế, cố lệnh hành cấm chỉ. Bính giả, sát sinh chi chế dã; thế giả, thắng chúng chi tư dã.
- Ý nghĩa cốt lõi:
Đoạn trích này ngắn nhưng chứa đựng toàn bộ thế giới quan và phương pháp luận cốt lõi của phái Pháp trị:
Xuất phát từ bản tính con người (nhân tình): Hàn Phi Tử không duy tâm, không mơ mộng rằng con người sinh ra đã tốt lành. Ông nhìn thẳng vào thực tế: Con người ai cũng thích lợi lộc (hiếu) và sợ tổn hại, đau đớn (ố).
Cơ chế 'hai lưỡi dao' (thưởng - phạt): vì con người ham lợi - sợ hại, nhà cai trị mới có thể dùng "củ cà rốt" (thưởng) để dẫn dắt họ làm việc ích nước, và dùng "cây gậy" (phạt) để răn đe họ không làm điều loạn. Đây chính là tiền đề để xây dựng hệ thống luật pháp (Pháp).
Bính (thao túng quyền lực) và Thế (vị trí độc tôn): để luật pháp có hiệu lực, người đứng đầu phải nắm chắc hai thứ: Bính (quyền sinh sát, quyết định khen thưởng hay trừng phạt, không được chia sẻ cho cấp dưới) và Thế (sức mạnh đến từ chiếc ghế lãnh đạo, từ danh vị chính thống). Khi có đủ hai yếu tố này, cấp dưới tự khắc phục tùng mà không cần người đứng đầu phải dùng đến lời lẽ thuyết phục hay đạo đức giáo điều.
- Câu chuyện quản trị:
Kết quả của việc “tạo quan hệ, đi cửa sau” thường là làm trái kỷ cương pháp luật, tham ô hủ bại. Singapore nổi tiếng là một quốc gia có bộ máy quan chức thanh liêm trên thế giới. Nhưng có thể mọi người vẫn chưa quên, trước khi Lý Quang Diệu cầm quyền, giới quan chức Singapore cũng từng có những hiện tượng tạo quan hệ, đi cửa sau, tham ô... hết sức nghiêm trọng làm toàn dân căm phẫn.
Vào những năm 50 của thế kỷ 20, vì Lý Quang Diệu giương cao khẩu hiệu “đánh đổ tham ô” vốn đã khắc sâu trong tâm trí dân chúng, nên ông nghiễm nhiên được nhân dân ủng hộ lên nǎm chính quyền.
Ở một đất nước tham ô hủ bại nặng nề như thế, Lý Quang Diệu chọn cách nào để đạt được thành công như mọi người trông đợi? Lý Quang Diệu sử dụng rất nhiều phương pháp cụ thể, song chung quy lại phương pháp cốt lõi là vừa nắm “hình” vừa dùng “đức” xác định tiêu chuẩn đúng sai, thưởng phạt nghiêm minh, có công ắt có thưởng, có tội ắt có phạt, thực tế là áp dụng mưu trí “nhà vua nắm quyền bính để xử thế, dùng hình phạt và đức hạnh chế phục bề tôi” của Hàn Phi Tử.
Năm 1952, sau khi bước lên vũ đài chính trị, Lý Quang Diệu lập tức ban hành một chế độ lấy thưởng phạt làm nòng cốt, khiến cho nhân viên chính phủ buộc phải lựa chọn hoặc được trọng thưởng vì không tham ô hoặc bị phạt nặng vì tham ô.
Trước tiên, chính phủ Singapore ban hành chế độ đãi ngộ khác nhau giữa các cấp lãnh đạo khiến cho độ chênh lệch đãi ngộ giữa cán bộ cấp cao và cán bộ cấp cơ sở lên tới hơn chín lần. Còn “chủ nghĩa thành tích” nghiêm minh lại khiến cho việc thăng chức của cán bộ viên chức hoàn toàn không phụ thuộc các yếu tố bên ngoài như xuất thân, gia cảnh, lý lịch, mối quan hệ,.. mà hoàn toàn dựa vào “thành tích” cao thấp của mỗi cá nhân. Người có “thành tích” cao không ngừng phấn đấu sẽ được hưởng lương cao; ngược lại, người mãi dừng lại ở cấp cơ sở sẽ có thu nhập thấp. Đó là cách thưởng phạt phân minh.
Cùng với đó là chế độ công quỹ, quy định mỗi cán bộ viên chức đều phải trích 16,5% tiền lương của mình vào công quỹ, bỏ vào ngân hàng trong nước thu lãi, và chính phủ sẽ cấp 20,5% tiền lương cho vào công quỹ, tổng cộng mỗi tháng cán bộ viên chức có 37% tiền lương cho vào công quỹ, hưởng lãi suất ngân hàng. Nếu cán bộ viên chức luôn phấn đấu công tác, làm hết chức trách thì sau khi nghỉ hưu ở tuổi năm mươi lăm, anh ta sẽ được lĩnh toàn bộ số tiền công quỹ hậu hĩnh, đó là trọng thưởng; còn nếu có người muốn bỏ dở giữa chừng thì sẽ bị khấu trừ phần công quỹ chính phủ cung cấp. Nếu có người phạm tội tham nhũng thì ngay cả công quỹ do bản thân anh ta đóng góp cũng bị tịch thu sung công, đó là phạt nặng.
Chính phủ Singapore còn quy định: Cuối mỗi nǎm, cán bộ viên chức đểu phải kê khai toàn bộ tài sản của mình và người thân trong gia đình, bao gồm cổ phiếu, nhà đất, sổ tiết kiệm ngân hàng... Thứ trưởng thường vụ của mỗi bộ phụ trách việc xét duyệt những bản kê khai này. Nếu có người nhận quà biếu, ông ta phải lập tức giao nộp vật phẩm cho người chuyên trách xử lý; nhưng nếu người nhận quà biếu muốn giữ lại vật phẩm thì sẽ mua lại theo giá cả thị trường sau khi người chuyên trách thẩm định giá trị.
Đồng thời, chính phủ còn lập Cục điều tra tham nhũng, trực thuộc quyền quản lý của thủ tướng, phụ trách việc kiểm tra đánh giá phẩm chất nghề nghiệp của mười lǎm vạn cán bộ viên chức, các vụ án gian lận được giao cho các cơ quan tư nhân điều tra. Nǎm 1970, trong một vụ thanh trừ nạn tham nhũng, mấy nhân vật cấp bộ trưởng, thứ trưởng đều bị tống vào tù, ngay cả người thân tín của Lý Quang Diệu cũng không thể thoát tội vì phạm tội tham nhũng...
Lý Quang Diệu vận dụng mưu trí “nhà vua nắm quyền bính để xử thế, dùng hình phạt và đức hạnh chế phục bề tôi” khiến cho các cấp dưới của ông phải giữ đúng bổn phận vì ham lợi, kiềm chế bản thân vì sợ tội, từ đó quét sạch luồng gió tham ô nhận hối lộ, nhũng nhiễu dân chúng, và mở ra một luồng gió mới là quan chức liêm khiết được cả thế giới ca ngợi.

Dù ngôn từ của Hàn Phi Tử nghe có vẻ khốc liệt, nhưng khi 'dịch' sang ngôn ngữ quản lý ngày nay, ông chính là người đầu tiên đặt nền móng cho Quản trị dựa trên động lực học hành vi, bản chất cốt lõi của khoa học quản trị nhân sự hiện đại:
Hàn Phi Tử nói con người có cái thích (hiếu) và cái ghét (ố). Quản trị hiện đại gọi đây là Động lực nội tại và Ngoại tại (Intrinsic & Extrinsic Motivation).
Hiếu (Ham lợi): Nhân viên muốn thu nhập cao, thăng tiến, được công nhận, môi trường làm việc tốt.
Ố (Sợ hại): Nhân viên sợ bị phạt tiền, sợ hạ bậc lương, sợ bị sa thải, sợ mất uy tín cá nhân.
Ứng dụng: Nhà quản lý không thể quản trị bằng "niềm tin" hay kêu gọi lòng trung thành suông. Muốn nhân sự cống hiến, hệ thống phải đáp ứng đúng cái họ "hiếu" và có chế tài với cái họ "ố".
Trong doanh nghiệp, đây chính là sự kết hợp giữa cơ chế đãi ngộ và Nội quy lao động.
Thưởng sòng phẳng: Sử dụng KPIs/OKRs để đo lường. Làm vượt chỉ tiêu thì thưởng xứng đáng (hoa hồng, thưởng nóng, thăng chức).
Phạt nghiêm minh: Quy chế xử phạt rõ ràng với các hành vi vi phạm đạo đức kinh doanh, rò rỉ dữ liệu, chậm tiến độ nghiêm trọng.
Cấm lệnh khả lập: Khi thưởng - phạt được thực thi minh bạch, nhân viên sẽ tự giác khép mình vào kỷ luật, quy trình vận hành (SOP) mới có hiệu lực thực tế.
Chấp bính (Nắm giữ quyền sinh sát): Người đứng đầu (CEO/Founder) phải giữ quyền quyết định tối cao về nhân sự chủ chốt, ngân sách chiến lược và cơ chế cốt lõi. Nếu chia sẻ "bính" này sai cách, doanh nghiệp sẽ rơi vào tình trạng "trên bảo dưới không nghe" hoặc phân rã bè phái.
Xử thế (Điểm tựa quyền lực chính thống): Quyền lực của nhà lãnh đạo đến từ chiếc ghế hợp pháp (Chức danh, sơ đồ tổ chức) và uy tín cá nhân. Lãnh đạo phải đứng đúng vị trí để điều phối vĩ mô, tránh sa đà vào việc vi mô (micromanagement) làm mất đi cái "thế" chiến lược của mình.
Nếu áp dụng tư tưởng này một cách máy móc, doanh nghiệp sẽ biến thành một "cỗ máy độc hại" khiến nhân tài rời bỏ. Sự khác biệt lớn nhất giữa Quốc gia cổ đại và Doanh nghiệp hiện đại là: Dân chúng thời xưa không có quyền chọn Vua, nhưng Nhân sự thời nay có quyền chọn Sếp.
Do đó, để ứng dụng thành công, nhà quản trị cần lưu ý:
Biến 'sợ hãi' thành 'tôn trọng': Hệ thống phạt không phải để trừng trị, mà để bảo vệ sự công bằng. Một nhân viên lười biếng không bị phạt chính là một sự bất công lớn đối với những nhân viên đang nỗ lực.
Thưởng phải đi trước Phạt: Luôn dùng 'lợi' để dẫn dắt trước khi dùng cử chỉ nghiêm khắc để răn đe.
Mô hình quản trị lý tưởng hiện đại chính là: Bên ngoài bao bọc bằng Văn hóa doanh nghiệp nhân văn (để thu hút tâm hồn), nhưng Bên trong vận hành bằng Quy trình và Thưởng phạt sòng phẳng của Pháp trị (để giữ vững hiệu suất).
Xem thêm: Dịch vụ luật sư riêng của Công ty Luật TNHH Everest
.png)
Chuyên viên tư vấn sẵn sàng hỗ trợ!
Tư vấn sử dụng dịch vụ miễn phí
TVQuản trị viênQuản trị viên
Xin chào quý khách. Quý khách hãy để lại bình luận, chúng tôi sẽ phản hồi sớm