Chuyên viên tư vấn sẵn sàng hỗ trợ!
Tư vấn sử dụng dịch vụ miễn phí
"Có công lý nhưng không có sức mạnh cũng bất lực; có sức mạnh không có công lý là bạo tàn".
Luật sư Phạm Ngọc Minh, Giám đốc Công ty Luật TNHH Everest
Thời cổ đại, Hàn Phi Tử đã nhìn nhận, nhà vua (cầm quyền) có tài trí trung bình, trên thì không bằng Nghiêu, Thuấn, dưới cũng không đến mức tồi tệ như Kiệt, Trụ. Nắm chắc pháp luật, giữ vững quyền thế thì đất nước bình trị; quay lưng với pháp luật, vứt bỏ quyền thế thì đất nước đại loạn.
Ngày nay, trong quản trị hiện đại, áp dụng triết lý này vẫn rất hiệu quả, doanh nghiệp xây dựng một hệ thống luật nội bộ vững chắc với quy trình đồng bộ, chính sách tạo động lực hiệu quả, để người bình thường cũng có thể làm được việc phi thường, thay vì phụ thuộc vào vài cá nhân kiệt xuất.

Sách Hàn Phi Tử thiên Nan thế (biện luận về quyền thế) có viết: Bậc vua chúa có tài trí trung bình, trên thì không bằng Nghiêu, Thuấn, dưới cũng không đến mức tồi tệ như Kiệt, Trụ. Nắm chắc pháp luật, giữ vững quyền thế thì đất nước bình trị; quay lưng với pháp luật, vứt bỏ quyền thế thì đất nước đại loạn.
Nếu nay phế bỏ quyền thế, quay lưng với pháp luật để ngồi chờ bậc thánh nhân như Nghiêu, Thuấn xuất hiện thì mới trị được nước, thì chẳng khác nào ngàn đời loạn mới có một đời trị. Ngược lại, cứ giữ chặt pháp luật và quyền thế để đợi những kẻ bạo chúa như Kiệt, Trụ đến mới làm loạn, thì đất nước sẽ có ngàn đời trị mới có một đời loạn...
Vả lại, nếu vứt bỏ cái khuôn gỗ dùng để uốn thẳng (ẩn quát), bỏ đi các công cụ đo lường (độ lượng), thì dù có để Hề Trọng (bậc thầy đóng xe thời cổ) làm xe, ông ta cũng không thể đóng nổi một cái bánh xe. Nếu không có phần thưởng để khuyến khích, không có hình phạt để răn đe, mà lại vứt bỏ quyền thế, buông lỏng pháp luật, thì dù Nghiêu, Thuấn có đến từng nhà để thuyết phục, đến từng người để tranh biện, cũng không quản lý nổi ba hộ gia đình.
Nguyên văn chữ Hán: 中者,上不及堯、舜,而下亦不為桀、紂。抱法處勢則治,背法去勢則亂。 今廢勢背法而待堯、舜,堯、舜至乃治,是千世亂而一治也。抱法處勢而待桀、紂,桀、紂至乃亂,是千世治而一亂也。且夫治千而亂一,與治一而亂千也... 夫棄隱栝之法,去度量之數,使奚仲為車,不能成一輪。無慶賞之勸,刑罰之威,釋勢委法,堯、舜戶說而人辨之,不能治三家。
Phiên âm Hán-Việt: Trung giả, thượng bất cập Nghiêu, Thuấn, nhi hạ diệc bất vi Kiệt, Trụ. Bão pháp xử thế tắc trị, bối pháp khứ thế tắc loạn. Nay phế thế bối pháp nhi đãi Nghiêu, Thuấn, Nghiêu, Thuấn chí nãi trị, thị thiên thế loạn nhi nhất trị dã. Bão pháp xử thế nhi đãi Kiệt, Trụ, Kiệt, Trụ chí nãi loạn, thị thiên thế trị nhi nhất loạn dã. Thả phu trị thiên nhi loạn nhất, dữ trị nhất nhi loạn thiên dã... Phu khí ẩn quát chi pháp, khứ độ lượng chi số, sử Hề Trọng vi xa, bất năng thành nhất luân. Vô khánh thưởng chi khuyến, hình phạt chi uy, thích thế ủy pháp, Nghiêu, Thuấn hộ thuyết nhi nhân biện chi, bất năng trị tam gia.
Đoạn văn này là một trong những áng văn nghị luận xuất sắc nhất của Hàn Phi Tử, thể hiện nhãn quan chính trị cực kỳ sắc bén, thực tế và mang tính hệ thống cao. Để hiểu sâu sắc ý nghĩa của đoạn văn, chúng ta có thể bóc tách và phân tích theo 3 tầng nội dung cốt lõi sau:
Bậc vua chúa có tài trí trung bình, trên không bằng Nghiêu Thuấn, dưới không tệ như Kiệt Trụ... Nhìn thẳng vào thực tế xã hội, Hàn Phi Tử không xây dựng một lý thuyết chính trị dựa trên ảo tưởng. Nghiêu, Thuấn là những bậc thánh nhân nghìn năm có một; Kiệt, Trụ cũng là những kẻ đại bạo chúa hiếm thấy. Phần lớn những người nắm quyền trong lịch sử (và cả con người trong xã hội) đều thuộc tầng lớp "Trung giả" – tức là những người có tài năng và đạo đức ở mức trung bình.
Ý nghĩa quản trị: một hệ thống quản lý quốc gia hay tổ chức xuất sắc không thể được thiết kế dựa trên kỳ vọng rằng người lãnh đạo hay nhân viên phải là thánh nhân. Nếu hệ thống chỉ vận hành tốt khi có người tài giỏi xuất chúng, thì hệ thống đó sẽ sụp đổ khi gặp người bình thường. Do đó, quản trị là phải thiết kế một cơ chế sao cho ngay cả một người có năng lực trung bình khi bước vào bộ máy vẫn có thể điều hành tốt.
Hàn Phi Tử đặt lên bàn cân hai trường phái quản trị thời bấy giờ: trường phái Đức trị (Nho gia) có quan điểm ngồi chờ một minh quân, thánh triết (như Nghiêu, Thuấn) xuất hiện để dùng đạo đức cảm hóa thiên hạ; trường phái Pháp trị (Pháp gia) thì cho rằng dùng Luật pháp (Pháp) và Quyền lực (Thế) để định hình xã hội ngay lập tức.
Ông đưa ra một phép so sánh mang tính toán học và xác suất cực kỳ thuyết phục: nếu bỏ qua Pháp và Thế để ngồi chờ Thánh nhân, thì vì Thánh nhân cực kỳ hiếm hoi, kết quả sẽ là "ngàn đời loạn mới có một đời trị" (Thiên thế loạn nhi nhất trị). Ngược lại, nếu thiết lập được một hệ thống thượng tôn pháp luật vững chắc và nắm giữ quyền lực nghiêm minh, thì ngay cả khi gặp phải một vị vua tầm thường, đất nước vẫn chạy tốt. Phải xui xẻo lắm mới gặp phải một kẻ đại phá hoại như Kiệt, Trụ thì mới loạn. Kết quả là "ngàn đời trị mới có một đời loạn" (Thiên thế trị nhi nhất loạn).
Bài học quản trị: đừng phụ thuộc vào "người hùng" hay "ngôi sao". Hãy xây dựng quy trình (Pháp) và cơ chế vận hành, phân quyền (Thế) rõ ràng. Quy trình tốt giúp doanh nghiệp/quốc gia vận hành ổn định lâu dài, giảm thiểu rủi ro khi có sự thay đổi nhân sự.
Hàn Phi dùng hai hình ảnh ẩn dụ rất đắt giá để chứng minh sức mạnh của Hệ thống và Công cụ:
Ẩn dụ về Hề Trọng đóng xe - vai trò của công cụ và quy chuẩn: Hề Trọng là ông tổ nghề đóng xe, đại diện cho người có kỹ năng và chuyên môn đỉnh cao nhất. Nhưng Hàn Phi chỉ ra: dù anh có là thiên tài, nếu tước đi của anh cái khuôn uốn thẳng (ẩn quát) và thước đo tiêu chuẩn (độ lượng), anh cũng không thể làm ra một chiếc bánh xe tròn trịa. Ý nghĩa rằng, trong một tổ chức, năng lực cá nhân là chưa đủ, phải có công cụ và quy chuẩn (KPIs, quy trình, luật lệ). Thiếu quy chuẩn công bằng, người tài cũng trở nên bất lực, sản phẩm làm ra sẽ méo mó.
Ẩn dụ về Nghiêu Thuấn hộ thuyết - Sự bất lực của giáo điều và thuyết phục suông: Nghiêu và Thuấn là đỉnh cao của đức hạnh và uy tín cá nhân. Nhưng nếu họ tự tước bỏ công cụ điều hành là "Thưởng - Phạt" (Khánh thưởng - Hình phạt) và buông lỏng "Pháp - Thế", thì dù họ có hạ mình đến từng nhà để giải thích, khuyên nhủ bằng tình cảm, họ cũng không quản lý nổi 3 hộ gia đình (tam gia - một cộng đồng nhỏ nhất). Ý nghĩa là, lòng tốt và những lời kêu gọi đạo đức suông không có sức mạnh duy trì trật tự xã hội. Con người luôn bị chi phối bởi lợi ích (muốn được thưởng) và nỗi sợ hãi (sợ bị phạt). Quản trị mà chỉ dùng "văn hóa nói suông", dùng tình cảm hay thuyết phục mà không có chế tài rõ ràng thì bộ máy sẽ trở nên vô lực, kỷ luật bị xem nhẹ.
Đoạn văn này là một tuyên ngôn đanh thép của Hàn Phi Tử về "Hệ thống trị" thay vì "Người trị". Muốn xã hội hay tổ chức ổn định bền vững, người điều hành phải:
Xác lập quy chuẩn rõ ràng (Pháp): Để ai cũng biết việc gì được làm, việc gì không.
Giữ vững quyền uy và vị thế (Thế): Để bảo vệ tính nghiêm minh của quy chuẩn.
Thưởng phạt phân minh (Khánh thưởng - Hình phạt): Tạo động lực thực tế cho con người hành động.
Khi ba yếu tố này được vận hành đồng bộ, tổ chức sẽ tự chạy một cách trơn tru mà không cần phải trông chờ vào việc người đứng đầu có phải là một "vị thánh" hay không.
Đế Tân, vị vua cuối cùng của nhà Thương, hay còn gọi là Trụ, là vị vua nổi tiếng tàn bạo trong lịch sử Trung Quốc. Trụ là con trai thứ của đế Ất, nhưng vì anh trai của Trụ là Vi Tử không phải là con của chính thất, còn mẹ của Trụ là chính thất nên Trụ được kế vị ngôi vua.
Trụ rất thông minh, cũng có tài năng. Ông giỏi biện luận, nhanh nhẹn hơn người; dáng mạo khôi ngô, sức khoẻ vô song, có thể đánh vật với thú dữ. Tiếc là, sự thông minh và tài năng của ông chẳng những không thể cứu vãn tình thế suy sụp của vương triều nhà Thương, ngược lại còn đẩy nhà Thương đến con đường diệt vong. Đó là vì, một mặt Trụ vương ở vào giai đoạn bế tắc của nhà Thương, sức người không thể vãn hồi Đại Hạ. Mặt khác, sự thông minh và tài năng của Trụ vương đều dồn hết vào việc ăn chơi hưởng lạc nên càng khắc sâu hình ảnh ông vua tàn bạo.
Vương Tôn Mãn, đại phu nhà Chu nói: Vua Trụ nhà Thương bạo ngược, chín đỉnh dời về nhà Chu.
Câu nói này có đạo lý nhất định. Trụ vương thực thi chính sách đối nội đối ngoại tàn bạo chẳng khác nào đổ thêm dầu vào lửa, đẩy nhanh quá trình diệt vong của nhà Thương.
Sự hoang dâm vô độ của Trụ vương vượt qua đời trước hàng ngàn lần.
Sau khi lên ngôi, Trụ vương dời kinh đô từ Lạc Dương về Triều Ca (nay thuộc huyện Kì, tỉnh Hà Nam), xây dựng hành cung biệt quán, ăn chơi hưởng lạc trên cả một vùng đất rộng lớn bao gồm Hàm Đan, Sa Khâu (nay thuộc phía Đông Bắc làng Bình, tỉnh Hà Bắc). Sa Khâu là một cứ điểm hưởng lạc quan trọng của Trụ vương. Ông cho sửa sang nhà cửa, vườn tược quy mô lớn, trong vườn nuôi các loài chim thú quý hiếm do các địa phương trong nước dâng hiến, đây là vườn thú vương gia mang niềm thích thú đến cho ông. Ở đây tập trung rất nhiều trò vui, và còn có cả Đắc Kỷ - mỹ nữ họ Tô người được ông vô cùng sủng ái, suốt ngày ca múa, mua vui hưởng lạc. Ông chán kiểu múa hát truyền thống, bèn sai nhạc sư dạy những những thể loại nhạc tục tĩu. Trụ vương ngày càng nát rượu. Ông đổ rượu thành ao, treo thịt thành rừng, cho nam nữ lõa thể đuổi bắt nhau ở đây, hưởng lạc thâu đêm.
Để lấp đầy dục vọng của mình, Trụ vương còn bòn rút tài sản, vắt kiệt sức lao động của nhân dân. Vô số tài vật quý báu đểu đổ vào Lộc đài, bao nhiêu lương thực không ngừng chảy vào kho thóc của nhà vua. Ngay cả giới quý tộc cũng rất bất mãn với chế độ sưu cao thuế nặng của Trụ vương, “đại sư” của nhà Thương nói với Vi Tử rằng: “Nay quốc vương của chúng ta dùng hình phạt nặng tàn sát người dân vô tội, nhằm vơ vét tài sản của dân, tuy dân chúng vô cùng căm ghét nhưng vẫn không biết đường dừng lại. Một người như hắn làm ra bao nhiêu tội ác, dân chúng khốn khổ tột cùng, không có chỗ nào kêu cầu” (theo Thượng thư - Vi Tử).
Để đàn áp luồng bất mãn, phản kháng đang ngày càng gia tăng ở trong và ngoài nước, Trụ vương lại tiếp tục lạm dụng hình phạt tàn khốc, tha hồ làm bậy. Ông dùng sắt nung đỏ đốt da người dân vô tội, biểu diễn “tiết mục” giết người này lấy lòng Đắc Kỷ. Ngoài ra, ông dùng nhiều hình phạt tàn khốc như “hải” (bǎm thịt người phạm tội), “bồ” (phơi khô thịt người phạm tội), sát hại trung thần can gián ông.
Những việc làm trái với lẽ thường của Trụ vương càng gia tăng sự chia rẽ nội bộ trong bộ máy thống trị. Ông trọng dụng kẻ xấu làm thân tín, còn đả kích bức hại đại thần và quý tộc chính trực. Thi kinh – Đại nhã - Thang mượn lời Chu Văn vương trách hỏi Thương Trụ vương, vạch trần chế độ chính trị đen tối của nhà Thương:
Chu Văn vương trách hỏi Trụ vương rằng: Than ôi! Nhà Ân Thương các ngươi. Nếu trong triều đình có người hiền, Kè ác bá cường bạo sē oán hận họ. Rêu rao đơm đặt nhằm hām hại họ, Kẻ tiểu nhân tranh quyền đoạt lợi đã đi vào nội bộ. Bọn chúng bịa đặt sinh chuyện, châm chọc chửi bới, Không có giới hạn, không có cùng tận.
Chu Văn vương vạch trần tất cả những giả dối sai trái của Trụ vương. Phí Trọng là một kẻ chuyên a dua nịnh hót lại tham tiền tài háo sắc nhưng Trụ vương tin dùng hắn ta, giao cho nhiều nhiệm vụ quan trọng. Có kẻ tên là Ác Lai rất giỏi đâm bị thóc chọc bị gạo, cũng được Trụ vương xem trọng, thăng chức. Còn những bậc hiền đức được mọi người ủng hộ đều bị Trụ vương chê bai chỉ trích, cách chức. Tỉ Can, thúc phụ của Trụ vương cũng rất chính trực, nhiều lần can gián, ông không nghe. Hai anh trai của ông là Vi Tử, Cơ Tử can gián, ông cũng một mực từ chối, tiếp tục làm theo ý mình.
Không chỉ đại thần, quý tộc trong triều phản đối Trụ vương, chư hầu và các phương quốc dân tộc thiểu số cũng không đồng lòng. Tộc Chu ở phía Tây là một phương quốc của nhà Thương, người Chu dưới sự lãnh đạo của Cơ Xương (tức Chu Văn vương) đang ngày càng lớn mạnh.
Trụ vương bắt buộc phải phong cho Cơ Xương làm Tây bá. Cơ Xương cùng Cửu hầu, Ngạc hầu trở thành tam công nhà Thương. Cửu hầu dâng người con gái rất mực ngoan hiền, đức hạnh của mình cho Trụ vương, nhưng vì nàng không thích cuộc sống hoang dâm sa đọa nên làm Trụ vương phật ý, sai người giết nàng, còn xử Cửu hầu hình phạt băm thịt. Ngạc hầu đứng ra nói thay Cửu hầu, câu nào cũng có lý, làm cho Trụ vương cứng họng. Trụ vương chuyển từ hổ thẹn sang phẫn nộ, khép Ngạc hầu vào tội chết. Tây bá Cơ Xương thấy Trụ vương tàn bạo như vậy, liền thốt lên mấy tiếng thở dài bị Sùng Hầu Hổ, thân tín của Trụ vương tố giác, Trụ vương bắt ông nhốt ở Dữu Lý. Về sau, bọn Hoằng Yêu, đại thần của Tây bá bàn mưu dâng con gái đẹp của Sằn thị, văn mã (một loại ngựa tốt có bờm màu hồng, thân màu trắng) của Ly Nhung, chín cỗ xe ngựa của Hùng thị và rất nhiều vàng bạc châu báu cho Trụ vương thông qua Phí Trọng.
Trụ vương vô cùng thích thú, nói: Chỉ cần lễ vật là mỹ nữ của Sằn thị cũng đủ để phóng thích Tây bá, huống hổ còn có bao nhiêu thứ khác. Rồi tha Tây bá.
Sau khi về nước, Tây bá tích cực chuẩn bị cho công cuộc diệt Trụ. Ông dần dần mở rộng thế lực ra phía Ðông, tiêu diệt Lê, thuộc quốc của nhà Thương ở phía Tây.
Tổ Y, đại thần nhà Thương báo cáo lên Trụ vương hoạt động quân sự của người Chu và tình trạng lòng dân trong nước bất ổn, nhưng Trụ vương gạt đi: Ngươi sợ cái gì? Chẳng phải là ta có thiên mệnh sao?
Tổ Y thở dài: Trụ vương hết thuốc chữa rồi!
Trong tình thế khó khăn trong ngoài, Trụ vương chuyển tầm mắt, phát động cuộc chiến tranh chinh phạt các phương quốc xung quanh. Ông phô trương thanh thế với phía Tây, diễn tập quân sự quy mô lớn ở dãy núi Thái Hàng Sơn, khu vực Lê tộc sinh sống. Người Di ở phía Ðông nhân cơ hội tạo phản, Trụ vương bèn điều động toàn bộ binh lực đến rìa phía Đông, đàn áp bộ lạc Đông Di. Và tất nhiên là Trụ vương giành thắng lợi, đoạt được một số lượng lớn nô lệ và của cải, nhưng chiến tranh cũng làm tiêu hao không ít nhân lực và vật lực của nhà Thương, tăng thêm gánh nặng cho người dân vốn đã mâu thuẫn gay gắt với giai cấp thống trị, nay lại càng căng thẳng.
Lúc này, Trụ vương vẫn không tỉnh ngộ, lại còn ăn chơi sa đoạ hơn. Vi Tử thấy đại thế đã mất, nên trốn vào rừng sâu ở ẩn, thái sư, thiếu sư nhà Thương cũng cầm tế khí và nhạc khí của nhà Thương sang cậy nhờ người Chu, Cơ Tử nơm nớp lo sợ, không biết xử trí thế nào, đành giả bệnh, thế nhưng ông vẫn bị Trụ vương giam vào tù.
Tỷ Can lấy cái chết ra can gián, Trụ vương không nghe, cả giận, nói: Ta nghe nói tim của thánh nhân có bảy lỗ, khác với người thường.
Sau đó sai người chặt Tỷ Can ra làm tám mảnh, moi tim của ông xem. Bộ máy thống trị của Trụ vương hoàn toàn tan rã, không thể tập hợp.
Bấy giờ, Cơ Xương đã mất, con trai của ông là Cơ Phát lên nối ngôi, đó chính là Chu Vũ vương chiến công hiển hách sau này. Năm 1027 trước Công nguyên, Chu Vũ vương chỉ huy quân đội tiến về phía Đông, các nước chư hầu hô hào hưởng ứng.
Ðại quân thảo phạt vượt qua sông Hoàng Hà, tiến sát ngoại thành kinh đô nhà Thương. Trụ vương điều động binh lực lớn ra nghênh chiến. Rạng sáng ngày giáp tý tháng 2, Chu Vũ vương phát động cuộc tổng tấn công tiến đánh quân Thương, hai bên giao chiến, quân đội của Trụ vương lũ lượt trở giáo quay đầu đánh Trụ vương. Trụ vương đại bại trốn về kinh thành, tới Lộc đài mà hàng ngày ông vẫn bày sưu cao thuế nặng, đắp đầy vàng bạc châu báu lên người, rồi nhảy vào đống lửa tự thiêu. Bao nhiêu của cải Trụ vương bòn rút của nhân dân trong nhiều năm đều tan thành mây khói, thật đáng xấu hổ.
Vào thế kỷ 17 trước Công nguyên, chế độ nhà nước nô lệ thứ hai của Trung Quốc do Thành Thang xây dựng nên đã đi đến diệt vong sau sáu trăm năm trị vì, từ đó bắt đầu lập nên chế độ nhà nước nô lệ thứ ba trong lịch sử, tức là Tây Chu.
Thật ra, trước khi Trụ vương cẩm quyền, vương triều nhà Thương đã làm trái nguyên tắc cai trị đất nước dựa vào pháp luật, dẫn đến tình trạng trong nước hỗn loạn. Nhưng Trụ vương không những không tỉnh ngộ, lại còn làm sự việc càng trở nên trầm trọng. Thân làm vua, Trụ vương không lo trị lý đất nước mà chỉ ăn chơi hưởng lạc, đồng thời, lạm dụng thưởng phạt, xử phạt những đại thần vô tội và có công, còn gian thần thì được ban thưởng, trọng dụng. Đối với dân chúng, Trụ vương cũng thi hành những hình phạt hà khắc, tàn sát người vô tội, nhằm vơ vét tài sản của dân, khiến cho đất nước càng hỗn loạn.
Ngược lại với sự thống trị của Trụ vương, từ Chu Văn vương đến Chu Vũ vương đều đi theo nguyên tắc “bảo pháp xử thế”, chế độ kỷ cương pháp luật trong nước từ trên xuống dưới đều khá là hoàn thiện, bản thân hai vị lại chăm lo chính sự, khiến cho cuộc sống của người dân trong khu vực cai trị ổn định, nên nhanh chóng giành được lòng dân, sĩ phu có tài lũ lượt kéo về nhà Chu. Cuối cùng, lợi dụng sự hỗn loạn của nhà Thương, nhà Chu tiêu diệt nhà Thương. Quá trình Tây Chu tiêu diệt Ân Thương chứng minh tính chính xác của mưu lược thống trị “bão pháp xử thế tắc trị, bối pháp khử thế tắc loạn”.
Xem thêm: Dịch vụ pháp lý về Sáp nhập và Mua lại doanh nghiệp (M&A) của Công ty Luật TNHH Everest

II- ỨNG DỤNG TRONG QUẢN TRỊ DOANH NGHIỆP HIỆN ĐẠI
Tư tưởng của Hàn Phi Tử trong đoạn văn trên hoàn toàn có thể ứng dụng một cách cực kỳ hiệu quả vào quản trị doanh nghiệp hiện đại. Thực tế, nhiều tập đoàn lớn trên thế giới đang vận hành chính xác theo triết lý này: Xây dựng một hệ thống vững chắc để người bình thường cũng có thể làm được việc phi thường, thay vì phụ thuộc vào một vài cá nhân kiệt xuất. Nếu chuyển đổi các khái niệm cốt lõi của Pháp gia sang ngôn ngữ quản trị doanh nghiệp, chúng ta sẽ có một mô hình vận hành như sau:
Hàn Phi Tử nói hầu hết người cầm quyền là "người trung bình". Trong doanh nghiệp cũng vậy, bạn không thể tuyển dụng toàn bộ nhân sự là những "ngôi sao" hay thiên tài xuất chúng.
Cách ứng dụng: thiết kế quy trình làm việc chuẩn hóa (SOP - Standard Operating Procedure) sao cho một nhân sự mới có năng lực ở mức trung bình, sau khi được đào tạo theo hệ thống, vẫn có thể hoàn thành tốt 80% yêu cầu công việc.
Ví dụ điển hình: McDonald's. Họ không cần những đầu bếp 5 sao. Hệ thống của họ chi tiết đến mức một người bình thường chỉ cần bấm nút, lật bánh đúng giây là có thể tạo ra những miếng khoai tây chiên và hamberger có chất lượng đồng đều trên toàn thế giới.
Cách ứng dụng:
Khuôn nắn (ẩn quát): chính là Tầm nhìn, Sứ mệnh, Giá trị cốt lõi và Nội quy doanh nghiệp. Nó giúp "nắn" hành vi của nhân viên đi đúng hướng, không bị lệch lạc khỏi văn hóa công ty.
Thước đo (độ lượng): chính là hệ thống chỉ số đo lường hiệu suất KPIs hoặc OKRs. Quản trị hiện đại không thể nói chung chung "em hãy làm việc chăm chỉ", mà phải cụ thể bằng con số (doanh số, tỷ lệ chuyển đổi, thời gian hoàn thành). Có thước đo rõ ràng, nhân viên mới biết mình làm tốt hay tệ, cấp trên mới đánh giá công bằng.
Nghiêu Thuấn dù có đức độ, đến từng nhà khuyên răn cũng không trị nổi 3 hộ gia đình nếu thiếu "Thưởng - Phạt". Trong doanh nghiệp, việc kêu gọi tinh thần cống hiến, "vẽ bánh" tương lai hay dùng tình cảm suông mà không có cơ chế lợi ích rõ ràng sẽ sớm thất bại. Cách ứng dụng:
Thưởng (khánh thưởng): xây dựng cơ chế lương thưởng minh bạch (Thưởng doanh số, thưởng hiệu suất, cơ chế thăng tiến). Nhân viên phải thấy rõ: "Nếu tôi cống hiến, tôi sẽ nhận lại được gì tương xứng" (động lực kéo).
Phạt (hình phạt): chế tài nghiêm minh đối với các hành vi vi phạm kỷ luật, làm ảnh hưởng đến tổ chức (khiển trách, trừ thưởng, hoặc sa thải). Phạt nghiêm túc để bảo vệ những người làm việc nghiêm túc (động lực đẩy).
Lưu ý hiện đại: phạt trong doanh nghiệp hiện đại không phải là trừng phạt bạo lực, mà là sự nghiêm minh của luật chơi. Nếu "luật chơi" bị buông lỏng, những nhân viên xuất sắc sẽ nản lòng vì họ thấy nỗ lực của mình cào bằng với kẻ lười biếng.
'Pháp' là luật lệ, quy trình. 'Thế' là vị thế, quyền hạn của người quản lý. Cách ứng dụng:
Luật pháp (Pháp): ngay cả Chủ tịch hay Giám đốc công ty cũng phải tuân thủ quy trình. Không thể có chuyện sếp hứng lên là phá vỡ quy định tài chính hoặc quy trình nhân sự. Khi sếp tôn trọng "Pháp", nhân viên mới nể phục.
Quyền thế (Thế): phải phân quyền rõ ràng cho các cấp quản lý. Quản lý cấp trung phải có đủ thẩm quyền để quyết định trong phạm vi của mình (được duyệt chi bao nhiêu, được phạt/thưởng nhân viên cấp dưới trong hạn mức nào). Nếu nắm vị trí quản lý mà không có "Thế" (không có quyền quyết định), họ sẽ trở nên vô lực trước nhân viên.
Kết luận: ứng dụng tư tưởng Hàn Phi Tử vào doanh nghiệp hiện đại chính là việc chuyển dịch từ 'nhân trị' (quản lý bằng tình cảm, sự tùy hứng của cá nhân) sang 'hệ thống trị' (quản lý bằng quy trình, công cụ và cơ chế minh bạch). Đây là con đường bắt buộc nếu một doanh nghiệp muốn mở rộng quy mô bền vững.
Xem thêm: Dịch vụ luật sư riêng của Công ty Luật TNHH Everest

Chuyên viên tư vấn sẵn sàng hỗ trợ!
Tư vấn sử dụng dịch vụ miễn phí
TVQuản trị viênQuản trị viên
Xin chào quý khách. Quý khách hãy để lại bình luận, chúng tôi sẽ phản hồi sớm