Trang chủ » Kỹ năng tranh luận , đối đáp tại phiên tòa sơ thẩm hình sự của Luật sư (Phần 2)

Kỹ năng tranh luận , đối đáp tại phiên tòa sơ thẩm hình sự của Luật sư (Phần 2)

Kỹ năng tranh luận , đối đáp tại phiên tòa sơ thẩm là kỹ năng mà một luật sư cần trau dồi và rèn luyện để bảo vệ tốt hơn quyền lợi cho thân chủ của mình.

Công ty Luật TNHH Everest – Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198

 Trình bày phần mở đầu bài bào chữa

Trong phần mở đầu của bài bào chữa , luật sư cần tạo sự chú ý , gây ấn tượng ngay từ lúc mở đầu . Phong thái , khẩu khí , văn phong của luật sư đóng vai trò quan trọng nên luật sư phải chú ý đến “ không gian ” pháp đình đông người hay ít người tham gia , có nhiều cơ quan thông tấn , báo chí và phóng viên tham dự không, để lựa chọn cách mở đầu bào chữa cho phù hợp , thu hút sự chú ý của HĐXX và những người tham dự. Luật sư cần giới thiệu rõ tên mình , Văn phòng ( Công ty luật ) nơi mình đang hoạt động , Đoàn Luật sư nơi mình tham gia , sau đó nêu lý do mà luật sư tham gia bào chữa cho thân chủ như được mời tham gia , được chỉ định tham gia hoặc tự nguyện bào chữa miễn phí cho thân chủ . Tùy từng trường hợp , trong phần mở đầu , luật sư có thể bày tỏ sự cảm ơn tới các cơ quan tiến hành tố tụng , người tiến hành tố tụng đã tạo điều kiện thuận lợi cho luật sư tác nghiệp . Đối với vụ án đặc biệt nghiêm trọng , dư luận quan tâm , luật sư có thể nêu những cảm nhận , những khó khăn khi nhận bào chữa cho bị cáo , nêu những yếu tố ảnh hưởng , tác động đến quá trình giải quyết vụ án của các cơ quan tiến hành tố tụng , nêu quan điểm chung của cải cách tư pháp cần quán triệt để bảo đảm xét xử đúng người , đúng tội , đúng pháp luật. Trong trường hợp bào chữa cho bị cáo về tội giết người mà không khí tại phiên tòa rất căng thẳng , phía gia đình bị hại nhiều người quấn khăn tang , mang ảnh của người bị hại ( đã chết ) ngồi ngay những hàng ghế đầu tỏ thái độ rất căm phẫn , luật sư phải khéo léo chia sẻ , bày tỏ sự cảm thông về sự mất mát của gia đình bị hại. Lời nói của luật sư sao cho gia đình bị hại cũng nhận thức được việc bào chữa của luật sư là theo quy định của pháp luật , dù bị cáo có như thế nào thì việc xét xử bị cáo về tội giết người có khung hình phạt 20 năm tù , tù chung thân , tử hình vẫn phải có người bào chữa nên việc luật sư bào chữa cho bị cáo cũng là thể hiện chính sách hình sự của nhà nước tôn trọng quyền con người , quyền công dân .

Ví dụ 1: “ Kính thưa HĐXX ! Thưa vị đại diện VKS ! Tôi là Nguyễn Văn A , luật sư thuộc Văn phòng Luật sư A và cộng sự , Đoàn Luật sư tỉnh BG . Tôi được chỉ định tham gia bào chữa cho bị cáo Vũ Văn Ngh , bị VKSND tỉnh BG truy tố về tội giết người theo khoản 2 Điều 123 BLHS năm 2015. Trước hết tôi xin gửi đến gia đình anh T sự cảm thông và lời chia buồn sâu sắc nhất về những mất mát , đau thương mà gia đình phải gánh chịu . Tôi có mặt tại phiên tòa hôm nay để bào chữa cho bị cáo Vũ Văn Ngh cũng là thực hiện nhiệm vụ theo quy định của pháp luật , thể hiện sự dân chủ , tôn trọng quyền con người của Nhà nước ta .

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án , các chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa , sau khi nghe đại diện VKS luận tội , tôi xin trình bày quan điểm bào chữa cho bị cáo như sau : … ” .

Trình bày nội dung bào chữa

Trước khi đưa ra các quan điểm bào chữa , luật sư nêu tóm tắt thật ngắn gọn diễn biến , nội dung vụ án theo mô tả của bản cáo trạng, kết luận của cáo trạng . Có thể dẫn ra những tài liệu , chứng cứ mà VKS sử dụng để buộc tội bị cáo , sau đó nêu rõ luật sư không đồng ý với những điểm buộc tội nào trong bản cáo trạng. Luật sư lần lượt bào chữa theo từng vấn đề của vụ án sao cho HĐXX có thể hiểu , nắm được quan điểm bào chữa của luật sư và chấp nhận đề xuất mà luật sư đưa ra. Tùy từng vụ án, nếu thấy có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong điều tra , truy tố làm cho kết quả điều tra không phản ánh đúng sự thật vụ án , luật sư cần trình bày trước vấn đề này, nếu chỉ là vi phạm nhỏ, luật sư bào chữa sâu những vấn đề chứng cứ của vụ án , phân tích chỉ rõ điểm bất hợp lý , mâu thuẫn của các chứng cứ buộc tội đối với thân chủ của mình , đưa ra tình tiết giảm nhẹ TNHS cho thân chủ . Căn cứ vào định hướng bào chữa , luật sư kết hợp hài hòa việc đi sâu vào tố tụng hay chứng cứ của vụ án hoặc kết hợp cả hai trong khi bào chữa .

* Nếu bào chữa cho bị cáo theo hướng không phạm tội

Luật sư đi sâu phân tích làm rõ từng chứng cứ mà VKS đã sử dụng để buộc tội bị cáo là không có cơ sở hoặc khiên cưỡng , đồng thời phân tích các chứng cứ gỡ tội là có cơ sở tin cậy . Thông thường , luật sư cần phân tích làm rõ những thiếu sót , vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong quá trình điều tra làm cho tài liệu , chứng cứ dùng để buộc tội không có giá trị chứng minh. Luật sư cũng phân tích các chứng cứ gỡ tội do bị cáo đưa ra phù hợp với lời khai người làm chứng đã xác định không có sự việc phạm tội hoặc hành vi của bị cáo không cấu thành tội phạm để khẳng định bản cáo trạng truy tố bị cáo không có căn cứ và đề nghị HĐXX tuyên bị cáo không phạm tội, trả tự do , khôi phục các quyền , lợi ích hợp pháp cho bị cáo .

Ví dụ 2 : Vụ án Nguyễn Thị T mua bán trái phép chất ma túy

Sau khi tóm tắt nội dung vụ án liên quan đến việc bào chữa , luật sư phân tích những vi phạm tố tụng của CQĐT. Đó là lập biên bản phạm tội quả tang hồi 17 giờ 45 phút ngày 25/10/2017 đối với Nguyễn Thị T vì trong lúc cơ quan công an bắt được Trần Văn N và Nguyễn Nhật V đang hút hê – rô – in tại nhà T thì T không có nhà nên không thuộc trường hợp phạm tội quả tang đang thực hiện tội phạm ” . Tiếp đó công an tiến hành khám nhà T nhưng không có lệnh khám , không thu được hê – rô – in , cũng như các dụng cụ sử dụng ma túy nhưng không lập biên bản đưa vào hồ sơ vụ án là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. Về chứng cứ , luật sư phân tích rõ sự phù hợp trong lời khai của Nguyễn Thị T. T khai buổi sáng ngày 25/10/2017 , Trần Văn N đến nhà T để đặt xe đạp nhưng T không đồng ý nên 2 người cãi nhau. Buổi chiều, anh H ( chồng T ) đến nhà Trần Văn N nói với N qua nhà gặp T để giải quyết việc đặt xe . T bế con đi ra ngoài có việc , khi đi có dặn anh H nếu N đến thì đi gọi T về . Khoảng 17 giờ 45 phút , T được thông báo có N đến nên về nhà thì chứng kiến việc công an bắt N và V hít he – rô – in tại nhà mình . Công an tiến hành khám người T thu được 70.000 đồng đó là tiền T vay của chị Nguyễn Thị H buổi trưa , còn phòng N và V ngồi hít hê – rô – in là phòng chờ của khách đến thuê tắm nóng lạnh và giặt đồ tại nhà T. Lời khai của T phù hợp với lời khai của N khai sáng hôm 25/10/2017 đến đặt xe nhưng không đặt được nên to tiếng với T và chiều 25/10/2017 có thấy anh H đến nhà bảo sang gặp T giải quyết việc đặt xe ( bút lục 18 ) . Lời khai của T cũng phù hợp với lời khai của anh H khai có đến nhà N nói N sang gặp T giải quyết việc đặt xe và khi thấy N và V đến nhà có đi tìm T về ( bút lục 45 ) ; phù hợp lời khai của chị Nguyễn Thị H khai có cho T mượn 70.000 đồng vào buổi trưa .

Luật sư phân tích sự mâu thuẫn trong lời khai của N và V. N khai khi đến nhà thì T đang bế con chơi ở nhà hàng xóm , thấy N đến thì đi về , nhưng chị D người hàng xóm lại khai hôm đó chị đi làm cả ngày đến tối mới về , không thấy T sang chơi ( bút lục 27 ) , N khai đưa 50,000 đồng cho T, T lấy 2 gói ma túy ở đầu bờ tường đưa cho N đi vào nhà trước , còn V bỏ 25.000 đồng mua 1 gói đi vào sau nhưng lời khai này mâu thuẫn với lời khai của V là N bỏ tiền ra mua , V chỉ đi cùng không mua , mâu thuẫn với việc công an sau đó tiến hành khám người T chỉ thu được 70.000 đồng không cùng mệnh giá với đồng tiền N khai đã đưa cho T. Trần Văn N khai T cho vào phòng hít hê – rô – in và nhờ T chạy ra ngoài mua kẹo cao su lấy giấy bạc để hít . Lời khai này mâu thuẫn với việc công an xác minh bà C bán nước gần nhà khai không thấy T đến mua kẹo cao su , mâu thuẫn với việc T về đến nhà đã bị công an khám người ngay nhưng không thu được kẹo cao su .

Luật sư phân tích lời khai của Trần Văn N mâu thuẫn với lời khai của Nguyễn Nhật V. Tại phiên tòa , Nguyễn Nhật V đã thay đổi lời khai , khai rõ do có mâu thuẫn với T nên N mới rủ V đi cùng. V đã theo N vào phòng chờ thuê tắm giặt nhà chị T ngồi chờ và hít hê – rô – in còn sự thực việc N mua ma túy thế nào V không biết . Sở dĩ trước đây V khai có mua hê – rô – in của T là vì nghe N nói “ tao khai thế nào thì mày phải khai theo như thế ” nên V mới khai như N khai là mua ma túy của T. Với việc lập luận chỉ rõ mâu thuẫn trong lời khai buộc tội của N và V , luật sư đề nghị HĐXX không chấp nhận những lời khai này là chứng cứ buộc tội Nguyễn Thị T.

* Bào chữa theo hướng giảm nhẹ

– Trường hợp bào chữa cho bị cáo theo một tội danh hoặc khung hình phạt nhẹ hơn tội danh và khung hình phạt mà VKS đã truy tố , luật sự cần tập trung phân tích các tình tiết liên quan tới cấu thành tội phạm , các tình tiết định khung hình phạt , đối chiếu với quy định của BLHS chỉ ra những điểm chưa hợp lý trong xác định tội danh và khung hình phạt của bản cáo trạng . Đồng thời , luật sư chỉ rõ với các chứng cứ được thẩm tra tại phiên tòa thì hành vi của bị cáo chỉ cấu thành một tội phạm khác nhẹ hơn hoặc thuộc khung hình phạt nhẹ hơn so với cáo buộc của VKS và đề nghị HĐXX chuyển sang tội danh khác nhẹ hơn hoặc khung hình phạt khác nhẹ hơn

Ví dụ 3 : Vụ án Vũ Văn Đ , Vũ Văn Ngh giết người , luật sư bào chữa đã lập luận Vũ Văn Đ , Vũ Văn Ngh không phạm tội giết người như bản cáo trạng cáo buộc mà phạm tội cố ý gây thương tích như sau :

Kính thưa HĐXX , qua việc nghiên cứu hồ sơ vụ án và kết quả thẩm tra các chứng cứ tại phiên tòa , tôi nhận thấy việc VKS truy tố Vũ Văn Đ là chưa chính xác vì Đ và Ngh không có ý thức tước đoạt sinh mạng của anh T , không có động cơ giết người . Điều này được thể hiện :

Bị cáo Đ và Ngh không quen biết , không có mâu thuẫn , thù oán gì với bị hại nên không có động cơ giết bị hại .

Nguyên nhân xô xát dẫn đến hành vi phạm tội là do bị cáo bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của bị hại gây ra . Vì thế, các bị cáo mới có hành vi đánh trả.

Sự việc xảy ra vào khoảng thời gian 16 giờ chiều, trời nắng , khoảng cách giữa 2 và anh T lúc Đ dùng dao đâm anh T chỉ 1 mét nên Đ hoàn toàn nhìn rõ vị trí cần đảm trên cơ thể anh T là chân phải . Nếu Đ có ý thức tước đoạt sinh mạng của anh T thì đã lựa chọn vị trí hiểm yếu trên cơ thể chứ không thể lựa chọn vị trí là chân được . Sau khi bị đâm vào chân , anh T bị thương nhưng vẫn còn chạy về nhà , mặc dù Đ và Ngh hoàn toàn có thể đuổi kịp và đâm tiếp nếu muốn tước đoạt sinh mạng anh T nhưng các bị cáo đã chủ động dừng lại không đuổi nữa . Việc dừng lại không đuổi tiếp chứng tỏ Đ và Ngh đã thỏa mãn với việc gây thương tích cho anh T vì anh T đã vô cớ đánh bị cáo Đ trước . Từ các chứng cứ trên , có căn cứ xác định hành vi của các bị cáo chỉ có ý thức gây thương tích cho bị hại trong lúc tinh thần bị kích động do hành vi trái pháp luật của bị hại gây ra mà không có ý thức giết người .

– Trường hợp bào chữa nhằm giảm nhẹ hình phạt , luật sư phân tích nguyên nhân , hoàn cảnh xảy ra sự việc , động cơ , mục đích phạm tội của bị cáo , khai thác sâu các tình tiết của vụ án theo hướng có lợi cho bị cáo như bị cáo phạm tội do hoàn cảnh khách quan , do bị kích động , thực  hiện tội phạm không vì vụ lợi mà vì quyền lợi của nhiều người , phạm tội không phải vì động cơ đê hèn , xấu xa , vai trò trong vụ án chỉ giúp sức , nhận thức về tội phạm còn hạn chế … Đồng thời , luật sư phân tích các tình tiết giảm nhẹ TNHS cần áp dụng đối với bị cáo , thể hiện sự đồng ý với việc đề nghị của KSV về những tình tiết giảm nhẹ đã được KSV đưa ra trong lời luận tội và đề nghị bổ sung tình tiết giảm nhẹ mà KSV chưa để cập , mặt khác phân tích tình tiết tăng nặng mà KSV đề nghị áp dụng là không có căn cứ . Luật sư cũng phân tích những tình tiết thuộc về nhân thân , hoàn cảnh gia đình bị cáo có ý nghĩa để giảm nhẹ TNHS . Theo định của BLHS thì khi quyết định hình phạt , ngoài tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội … Tòa án còn phải căn cứ vào nhân thân người phạm tội , các tình tiết giảm nhẹ TNHS của bị cáo và trong trường hợp có ít nhất 2 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS , Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt … hoặc chuyển sang một hình phạt khác thuộc loại nhẹ hơn .

Do đó , luật sư không được bỏ qua bất cứ tình tiết giảm nhẹ nào mà bị cáo được hưởng , không được bỏ sót những điểm về nhân thân của bị cáo đáng được HĐXX xem xét giảm nhẹ .

Ví dụ 4 : Luật sư bào chữa giảm nhẹ cho bị cáo Nguyễn Xuân Th trong vụ án hủy hoại tài sản như sau :

  1. Nguyễn Xuân Th không bàn bạc về việc đập tường , phù hợp với lời khai của M khai khi mọi người có mặt ở Lộc Phú Gia , M mới nói cho mọi người biết là lên Phù Mã , SS đập hộ bức tường , không bàn bạc trước với ai . Phù hợp lời khai của Lê Văn X , Hán Mạnh L.
  2. Trong vụ án Nguyễn Xuân Th chỉ tham gia với vai trò là người lái xe chở M , B , C và một người con gái là bạn gái của Th đi lên ngã tư SS . Khi mọi người đập tường , Th không tham gia đập mà đứng ở đầu đường đi vào chỗ có bức tường . Khi phá tường xong , Th đi ăn cơm cùng với bạn mà không ăn cơm cùng mọi người nên không được M chia tiền . Việc Th làm nhiệm vụ lái xe được các bị cáo trong vụ án thừa nhận , Trong vụ án mà bị cáo có trách nhiệm bồi thường thiệt hại , luật sư cần phân tích để đề nghị HĐXX không chấp nhận những yêu cầu đòi bồi thường không có căn cứ hoặc không phù hợp của bị hại và nguyên đơn dân sự .

* Bào chữa theo hướng yêu cầu trả hồ sơ điều tra bổ sung Luận cứ bào chữa của luật sư cần phân tích sâu về những điểm sau : Việc điều tra không đầy đủ , phiến diện , không thu thập đủ chứng cứ để chứng minh tình tiết của hành vi phạm tội , lỗi của bị cáo , tuổi chịu TNHS , mục đích , động cơ phạm tội ;

– Thiếu chứng cứ xác định tình tiết giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo ; Việc định giá tài sản làm căn cứ buộc tội bị cáo chưa chính xác ;

– Việc khởi tố , điều tra , truy tố vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng làm cho tài liệu , chứng cứ buộc tội không đáng tin cậy , không thể sử dụng để chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo . của hồ sơ vụ án xét xử không chính xác . Do vậy đề nghị HĐXX quyết định trả hồ sơ.

Luật sư phân tích rõ nếu không trả hồ sơ điều tra bổ sung thì kết quả cho VKS điều tra bổ sung . Trường hợp nếu xét thấy không cần thiết phải trả hồ sơ để điều tra bổ sung thì luật sư có thể đề xuất HĐXX tạm ngừng phiên tòa trong thời hạn 05 ngày để HĐXX yêu cầu VKS bổ sung chứng cứ theo quy định tại Điều 251 và Điều 284 BLTTHS năm 2015 .

+ Khi bảo vệ cho bị hại , tùy từng vụ án , luật sư cần phân tích làm rõ những chứng cứ khẳng định hành vi phạm tội của bị cáo như cáo buộc của VKS nếu bị cáo chối tội phân tích làm tăng thêm TNHS của bị cáo ( đề nghị bổ sung tình tiết tăng nặng mà VKS chưa đề nghị áp dụng , để nghị chuyển sang tội danh khác nặng hơn hoặc áp dụng khung hình phạt khác nặng hơn ) ; phân tích làm rõ thiệt hại của thân chủ do hành vi phạm tội gây ra … Từ đó , luật sư đưa ra những luận điểm bảo vệ có lợi nhất cho thân chủ . Tùy vào nội dung luận cứ bảo vệ , luật sư có thể đề nghị HĐXX trả hồ sơ điều tra bổ sung để xét xử bị cáo về tội phạm nặng hơn , xét xử bị cáo theo khung hình phạt nặng hơn , chấp nhận yêu cầu bồi thường thiệt hại của bị hại …

Ví dụ 5 : Bảo vệ cho bị hại Đoàn Thị X trong vụ án Nguyễn Quốc V phạm tội cố ý gây thương tích , hủy hoại tài sản . Luật sư phân tích , lập luận bị cáo phạm tội cố ý gây thương tích , hủy hoại tài sản như bản cáo trạng của VKSND tỉnh GL truy tố là có căn cứ . Phân tích việc bị cáo V dùng xăng đốt làm cháy các đồ đạc trong nhà có trị giá như kết luận của Hội đồng định giá 200.999.000 đồng là đúng . Phân tích các khoản tiền chi phí cho điều trị vết thương từ ngày 26/4/2018 đến ngày 15/6/2018 , 133.530.100 đồng có đủ hóa đơn , chứng từ là hợp lý . Tổng số tiền bị cáo phải bồi thường cho chị Đoàn Thị X là 334.529.100 đồng .

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Gọi tư vấn
icons8-exercise-96