Trang chủ » Luật sư nghiên cứu nội dung của luận cứ bào chữa, bảo vệ

Luật sư nghiên cứu nội dung của luận cứ bào chữa, bảo vệ

Trước khi đưa ra các quan điểm bào chữa , luật sư nêu tóm tắt ngắn gọn diễn biến , nội dung vụ án theo mô tả của bản cáo trạng , kết luận của cáo trạng . Trường hợp bị cáo không nhận tội , luật sư có thể nêu rõ các lời khai bị cáo không nhận tội , lý do không nhận tội , những tình tiết có màu thuẫn trong diễn biến vụ án.

luật sư bào chữa
Công ty Luật TNHH Everest – Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198

Phần nội dung của luận cứ bào chữa, bảo vệ

Trước khi đưa ra các quan điểm bào chữa , luật sư nêu tóm tắt ngắn gọn diễn biến , nội dung vụ án theo mô tả của bản cáo trạng , kết luận của cáo trạng . Trường hợp bị cáo không nhận tội , luật sư có thể nêu rõ các lời khai bị cáo không nhận tội , lý do không nhận tội , những tình tiết có màu thuẫn trong diễn biến vụ án.

Luật sư có thể dẫn ra những tài liệu , chứng cứ mà VKS sử dụng để buộc tội bị cáo , sau đó nêu rõ luật sư không đồng ý với những điểm buộc tội nào trong bản cáo trạng . Luật sư lần lượt bào chữa theo từng vấn đề của vụ án sao cho có lợi nhất cho thân chủ . Tùy từng vụ án , nếu thấy có vi phạm thủ tục tố tụng trong điều tra , truy tố làm cho kết quả điều tra không phản ánh đúng sự thật vụ án, luật sư cẩn trình bày trước vấn đề này, nếu chỉ là vi phạm nhỏ, luật sư bào chữa tập trung vào những vấn đề chứng cứ của vụ án, phân tích chỉ rõ điểm bất hợp lý , mâu thuẫn của các chứng cứ buộc tội đối với thân chủ của mình . Căn cứ vào định hướng bào chữa , luật sư kết hợp hài hòa việc đi sâu vào tố tụng hay chứng cứ của vụ án hoặc kết hợp cả hai trong bài bào chữa .

Bào chữa theo hướng không có tội

– Bào chữa theo hướng không có sự việc phạm tội . Theo hướng này luật sư phân tích các chứng cứ của vụ án làm rõ bị cáo hoàn toàn thực hiện hành vi phạm tội ( dựa trên những chứng cứ về thời gian , địa trong hổ điểm phạm tội , dấu vết trên thân thể … ) , các chứng cứ không đủ để chứng minh hành vi phạm tội .

Tình huống minh họa : Bị cáo A bị VKS truy tố về tội Giết người vì cho rằng đã có hành vi giết vợ rồi treo xác nạn nhân . Nghiên cứu hồ sơ vụ án thấy có thư tuyệt mệnh của người vợ viết để lại , luật sư phân tích làm rõ đây chỉ là việc tư vấn của người vợ chứ không phải do người chồng KHÁC , giết . Trường hợp này , luật sư phải chỉ rõ các mâu thuẫn của các chứng cứ buộc tội bị cáo và tính hợp lý của các chứng cứ gỡ tội . Cần chú ý là vào những cú sốc về tâm lý dẫn đến tính khí bất thường của nạn nhân; chỉ ra các biểu hiện bất thường của nạn nhân qua việc nói chuyện với Thế g người hàng xóm , bạn thân về sự chán nản không muốn sống ; nêu lời khai của người chủ quán bán hàng xén đã bán cho nạn nhân chiếc dây thừng dùng treo cổ ( nếu có ) ; xem xét dấu vết ở hiện trường như có dấu vết bàn chân của nạn nhân để lại trên ghế để tự vẫn … Tất cả các phần tích của luật sư đều nhằm chứng minh sự việc nạn nhân chết là do tự vẫn chứ không phải do bị cáo A giết để đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo không có tội .

Bào chữa theo hướng hành vi của bị cáo không cấu thành tội phạm

Theo hướng này , luật sư phải phân tích các chứng cứ làm rõ hành vi của bị cáo không đủ yếu tố cấu thành tội phạm mà VKS truy tố , có thể chứng minh thiếu một hoặc nhiều yếu tố cấu thành tội phạm . Tùy vào từng vụ án , luật sư phân tích các chứng cứ chỉ rõ không đủ yếu tố thuộc mặt khách quan của tội phạm mà VKS đã truy tố ; không thỏa mãn yếu tố chủ thể của tội phạm như người không có chức vụ , quyền hạn bị truy tố về tội tham ô tài sản để đề nghị HĐXX tuyên bị cáo không có tội .

Tình huống minh họa : Bị cáo bị truy tố về tội Cố ý gây thương tích , tỉ lệ đột H thương cơ thể của bị hại là 19 % . Khi nghiên cứu hồ sơ , luật sư nhận E thấy bị cáo cố ý gây thương tích cho bị hại do vượt quá giới hạn phòng vệ đế chính đáng . Với tội Cố ý gây thương tích do vượt quá giới hạn phòng và CỦA LOI chính đáng , hành vi chỉ cấu thành tội phạm nếu tỉ lệ tổn thương của bị hại tối thiểu là 31 % . Vì vậy , luật sư đã phân tích , xác định rõ việc | bị cáo gây thương tích do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng và với thu tỉ lệ tổn thương cơ thể của bị hại là 19 % thì hành vi của bị cáo không cấu thành tội phạm .

Tình huống minh họa : “ VKS truy tố bị cáo Nguyễn Văn Đ về tội “ Tham ô tài HP sản là không đúng quy định của pháp luật . Điều 353 BLHS quy định về tội tham ô tài sản là : “ Người nào lợi dụng chức vụ , quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý .. ” . Điều luật đã quy định rõ chủ thể của tội tham ô phải là người có Chức vụ ” hoặc “ Quyền hạn ” và hành vi khách quan phải là “ Chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý . Đối chiếu quy định của pháp luật đối với trường hợp bị cáo Đ tôi thấy rằng :

Trong dự án , bị cáo Đ không được coi là người có chức vụ , quyền hạn ” . Điều 3 mục III trong “ Quy chế làm việc của Ban Quản lý dự án ABC ” quy định rõ nhiệm vụ của bị cáo Đ chỉ là một “ Thư ký dự án ” với những nhiệm vụ được giao thuần túy về mặt chuyên môn . Đặc điểm của tội “ Tham ô ” phải là hành vi “ chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý ” . Căn cứ vào sự phân công nhiệm vụ của bị cáo Đ thì vấn đề tài chính của dự án không phải do bị cáo quản lý . Trưởng và Phó Ban Quản lý dự án mới là những người có chức vụ , quyền hạn quản lý về mặt tài chính . Do đó , việc truy tố 2 về tội Tham ô tài sản là không có cơ sở ”

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Gọi tư vấn
icons8-exercise-96