Chuyên viên tư vấn sẵn sàng hỗ trợ!
Tư vấn sử dụng dịch vụ miễn phí
"Tư bản không thể xuất hiện từ lưu thông, và cũng không thể không xuất hiện từ lưu thông. Nó phải xuất hiện trong lưu thông và đồng thời không phải trong lưu thông".
Karl Heinrich Marx (phiên âm: Các Mác), 1818 - 1883, nhà triết học, kinh tế học (Đức).
Lý thuyết giá trị thặng dư là “hòn đá tảng” trong toàn bộ học thuyết kinh tế chính trị của Karl Marx, giải mã trọn vẹn nguồn gốc của tư bản, bản chất của quá trình sản xuất và sự vận động của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Trong bối cảnh đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế và xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam hiện nay, việc nhận thức lại và vận dụng sáng tạo lý thuyết giá trị thặng dư không chỉ mang ý nghĩa lý luận sâu sắc mà còn là kim chỉ nam cho việc hoàn thiện thể chế, phân phối nguồn lực, phát triển lực lượng sản xuất và bảo vệ quyền lợi người lao động.

Karl Marx bắt đầu sự phân tích kinh tế bằng việc so sánh hai công thức lưu thông:
Lưu thông hàng hóa giản đơn: H - T - H (Hàng - Tiền - Hàng), với mục đích cuối cùng là giá trị sử dụng.
Lưu thông tư bản: T - H - T' (với T' = T + Δ T), trong đó mục đích là sự tăng lên của giá trị.
Lượng tiền dôi ra (Δ T) được Karl Marx gọi là giá trị thặng dư (M). Mâu thuẫn của công thức chung nằm ở chỗ: lưu thông thuần túy không tạo ra giá trị thặng dư (vì trao đổi ngang giá không làm tăng tổng giá trị, còn trao đổi không ngang giá chỉ chuyển dịch giá trị từ túi người này sang túi người khác); nhưng giá trị thặng dư lại không thể phát sinh ngoài lưu thông.
Để giải quyết mâu thuẫn này, Karl Marx phát hiện ra rằng nhà tư bản đã tìm thấy trên thị trường một loại hàng hóa đặc biệt: hàng hóa sức lao động.
Sức lao động là toàn bộ thể lực và trí lực tồn tại trong một con người được đem ra vận dụng khi sản xuất. Hàng hóa sức lao động có hai thuộc tính:
[1] Giá trị hàng hóa sức lao động: được quyết định bởi thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất và tái sản xuất ra sức lao động (tương đương giá trị các tư liệu sinh hoạt nuôi sống người công nhân và gia đình họ, cộng với chi phí đào tạo).
[2] Giá trị sử dụng đặc biệt: trong quá trình tiêu dùng (lao động), sức lao động không chỉ tạo ra giá trị mới bù đắp lại giá trị của bản thân nó, mà còn tạo ra một lượng giá trị lớn hơn giá trị bản thân nó. Phần giá trị lớn hơn đó chính là giá trị thặng dư (M).
Trong quá trình sản xuất, giá trị của một hàng hóa G) được cấu thành bởi ba bộ phận:
G = C + V + M
Tư bản bất biến (C): là bộ phận tư bản tồn tại dưới dạng tư liệu sản xuất (máy móc, nhà xưởng, nguyên nhiên vật liệu). Giá trị của nó được chuyển toàn bộ hoặc từng phần vào sản phẩm mới thông qua lao động cụ thể của người công nhân mà không thay đổi về lượng.
Tư bản khả biến (V): là bộ phận tư bản dùng để mua sức lao động. Trong quá trình sản xuất, lao động trừu tượng của công nhân tạo ra giá trị mới (V + M), làm biến đổi về lượng của bộ phận tư bản này.
Giá trị thặng dư (M): là bộ phận giá trị mới do người lao động tạo ra vượt quá giá trị sức lao động của họ, bị chủ sở hữu tư bản chiếm đoạt không bồi hoàn.
Để gia tăng tỷ suất giá trị thặng dư (M' = M/V x 100%), giai cấp tư sản áp dụng hai phương pháp cơ bản:
Sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối: tạo ra bằng cách kéo dài ngày lao động vượt quá thời gian lao động tất yếu, trong điều kiện năng suất lao động và thời gian lao động tất yếu không đổi.
Sản xuất giá trị thặng dư tương đối: tạo ra bằng cách rút ngắn thời gian lao động tất yếu dựa trên việc tăng năng suất lao động xã hội (nhờ cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất), từ đó kéo dài thời gian lao động thặng dư dù độ dài ngày lao động giữ nguyên.
Giá trị thặng dư siêu ngạch: là hình thức biến tướng của giá trị thặng dư tương đối, thu được do doanh nghiệp áp dụng công nghệ tiên tiến hơn mức trung bình của xã hội, giúp hạ giá trị cá biệt của hàng hóa thấp hơn giá trị xã hội.
Xem thêm: Dịch vụ luật sư riêng dành cho cá nhân và doanh nhân
.png)
Bóc tách bản chất của quan hệ tư sản: lý thuyết giá trị thặng dư giải phẫu chính xác cơ cấu bên trong của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, vạch trần huyền thoại về "sự bình đẳng" trong trao đổi hàng hóa trên thị trường tư sản.
Luận giải quy luật vận động của tư bản: chỉ ra quy luật kinh tế tuyệt đối của chủ nghĩa tư bản là sản xuất giá trị thặng dư tối đa. Đây là động cơ thúc đẩy tích lũy tư bản, tái sản xuất mở rộng, đồng thời làm bộc lộ các mâu thuẫn nội tại dẫn đến khủng hoảng kinh tế chu kỳ.
Trong nền kinh tế hiện đại với sự bùng nổ của trí tuệ nhân tạo (AI), tự động hóa và kinh tế số, bản chất tạo giá trị thặng dư có sự tiến hóa về hình thức nhưng không thay đổi về quy luật:
Lao động trí tuệ là nguồn gốc chính tạo M: máy móc hay AI dù hiện đại đến đâu vẫn đóng vai trò là tư bản bất biến (C). Chúng chuyển dần giá trị vào sản phẩm chứ không tự sáng tạo ra giá trị mới. Lao động chất lượng cao, lao động sáng tạo của kỹ sư, chuyên gia, công nhân tri thức mới là nguồn gốc của giá trị thặng dư siêu ngạch trong thời đại 4.0.
Rút ngắn thời gian lao động tất yếu: công nghệ giúp tăng năng suất lao động gấp nhiều lần, đẩy giá trị thặng dư tương đối lên mức kỷ lục thông qua nền kinh tế tri thức và nền tảng số.
Xem thêm: Dịch vụ luật sư tư vấn của Công ty Luật TNHH Everest

Việt Nam đang phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu và nhiều thành phần kinh tế. Việc vận dụng lý thuyết giá trị thặng dư đòi hỏi sự đổi mới tư duy, đảm bảo vừa tuân thủ các quy luật khách quan của kinh tế thị trường, vừa giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa.
Thừa nhận sự tồn tại khách quan của M: trong nền kinh tế đa thành phần ở Việt Nam (kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài - FDI), việc nhà đầu tư bỏ vốn ra thu về lợi nhuận (giá trị thặng dư) là hợp quy luật. Không thể đồng nhất việc tạo ra và phân phối giá trị thặng dư trong kinh tế thị trường định hướng XHCN với sự bóc lột tàn nhẫn của chủ nghĩa tư bản thời kỳ tích lũy ban đầu.
Giải phóng sức sản xuất của kinh tế tư nhân: việc tôn trọng và bảo hộ quyền sở hữu tài sản, quyền hưởng lợi nhuận chính đáng giúp huy động tối đa nguồn vốn, tài nguyên và sức sáng tạo trong nhân dân, biến kinh tế tư nhân thành một động lực quan trọng của nền kinh tế.
Lý thuyết giá trị thặng dư chỉ ra rằng giá trị thặng dư siêu ngạch và tương đối là động cơ trực tiếp thúc đẩy các chủ thể kinh tế cải tiến kỹ thuật.
Chuyển đổi mô hình tăng trưởng: Việt Nam đang chuyển từ mô hình tăng trưởng dựa vào khai thác tài nguyên và lao động giá rẻ sang mô hình dựa vào khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.
Thúc đẩy doanh nghiệp đầu tư nghiên cứu phát triển: khuyến khích các doanh nghiệp trong nước áp dụng công nghệ mới để hạ giá trị cá biệt, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế, nâng tầm giá trị gia tăng trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Định giá đúng hàng hóa sức lao động: giá cả sức lao động (tiền lương) phải phản ánh đúng giá trị sức lao động, bảo đảm cho người lao động tái sản xuất sức lao động và có tích lũy. Việc điều chỉnh lương tối thiểu vùng, xây dựng chính sách tiền lương mới là bước đi thiết thực.
Tăng cường vai trò kiểm soát của Nhà nước và Công đoàn: nhà nước sử dụng hệ thống pháp luật (Bộ luật Lao động, Luật Bảo hiểm xã hội...) để ngăn chặn hành vi bóc lột kiệt quệ sức lao động, trốn đóng bảo hiểm, ép giờ làm; bảo đảm môi trường làm việc an toàn, văn minh.
Để bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước tham gia vào quá trình phân phối và phân phối lại giá trị thặng dư xã hội:
Chính sách thuế: sử dụng Thuế thu nhập doanh nghiệp, Thuế thu nhập cá nhân để thu một phần lợi nhuận/giá trị thặng dư vào Ngân sách Nhà nước.
Đầu tư công và An sinh xã hội: dùng ngân sách để tái phân phối dưới dạng các dịch vụ công (y tế, giáo dục), hạ tầng giao thông, hỗ trợ khu vực yếu thế, vùng sâu vùng xa, thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững. Điều này góp phần thu hẹp khoảng cách giàu nghèo, thực hiện công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển.
Xem thêm: Dịch vụ Pháp chế thuê ngoài của Công ty Luật TNHH Everest

Lý thuyết giá trị thặng dư của Karl Marx không phải là giáo điều xơ cứng mà là một công cụ phân tích khoa học sắc bén. Đối với Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới, việc thấu hiểu và vận dụng lý thuyết này giúp chúng ta nhận thức rõ bản chất của các quy luật kinh tế thị trường, tạo môi trường thuận lợi để giải phóng lực lượng sản xuất, đồng thời xây dựng các thể chế điều tiết hiệu quả nhằm hướng tới mục tiêu cao cả: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
[1] Bài viết Ứng dụng lý thuyết giá trị thặng dư trong kinh tế Việt Nam được chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
[2] Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo và thể hiện là quan điểm cá nhân của người viết.
[3] Trường hợp cần ý kiến pháp lý, hoặc thuê Luật sư tư vấn cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: (024) 66 527 527, E-mail: info@everest.org.vn, hoặc trực tiếp tại các văn phòng của Công ty.
Chuyên viên tư vấn sẵn sàng hỗ trợ!
Tư vấn sử dụng dịch vụ miễn phí
TVQuản trị viênQuản trị viên
Xin chào quý khách. Quý khách hãy để lại bình luận, chúng tôi sẽ phản hồi sớm