Vụ án hình sự có yếu tố nước ngoài – Trước khi tham gia phiên tòa

"Công lý ngọt ngào và du dương, nhưng bất công thì cay nghiệt và chói tai"

- Henry David Thoreau

 

Vụ án hình sự có yếu tố nước ngoài – Trước khi tham gia phiên tòa

Cũng như các vụ án hình sự khác, trước khi ra phiên tòa để bào chữa hay bảo vệ cho khách hàng, Luật sư đều phải chuẩn bị kỹ các tài liệu văn bản, giấy tờ cần thiết phục vụ cho việc bảo vệ như chuẩn bị kế hoạch sử dụng chứng cứ; kế hoạch xét hỏi đối với khách hàng và những người tham gia tố tụng khác; gặp gỡ trước khách hàng để giải thích pháp luật, thống nhất định hướng bào chữa, bảo vệ cho khách hàng. Trên cơ sở đó hoàn thành bản đề cương bào chữa, bảo vệ, kế hoạch đối đáp, tranh luận với Kiểm sát viên và các bên tham gia tố tụng khác.

Liên hệ

1- Kỹ năng nghiên cứu hồ sơ vụ án

Giống như bất kể vụ án nào, Luật sư cần nghiên cứu các chứng cứ, các tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến hoạt động bào chữa hoặc bảo vệ.

Tuy nhiên, khác với các vụ án hình sự thông thường, trong hồ sơ vụ án hình sự có yếu tố nước ngoài, bên cạnh các nguồn chứng cứ, tài liệu được các cơ quan tố tụng Việt Nam thu thập ở trong nước còn có thể có những chứng cứ, tài liệu do các cơ quan có thẩm quyền nước ngoài thu thập trên cơ sở quy định về tương trợ tư pháp và hợp tác quốc tế trong tố tụng hình sự.

Theo quy định của Luật Tương trợ tư pháp và quy định của BLTTHS năm 2015 về hợp tác quốc tế trong tố tụng, trong quá trình giải quyết vụ án hình sự nếu xác định có yếu tố nước ngoài thì cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền của Việt Nam có thể yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài thực hiện tương trợ tư pháp trong các trường hợp: Tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu cho người đang cư trú ở nước được yêu yêu cầu; Triệu tập người làm chứng, người giám định đang ở nước được yêu cầu; Thu thập, cung cấp chứng cứ ở nước được yêu cầu để giải quyết vụ án hình sự tại Việt Nam; Truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người đang ở nước mà người đó mang quốc tịch; Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật Việt Nam. Vì vậy, Luật sư phải nghiên cứu xem các cơ quan tiến hành tố tụng đã lập hồ sơ yêu cầu tương trợ tư pháp chưa; Các yêu cầu tương trợ tư pháp đã đầy đủ và đúng theo quy định của pháp luật chưa, kết quả như thế nào...

Khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, Luật sư cần chú ý một số vấn đề sau:

Thứ nhất, có hay không yếu tố nước ngoài trong vụ án hình sự. Ngoài những dấu hiệu rõ ràng về yếu tố nước ngoài như dấu hiệu về chủ thế là người nước ngoài phạm tội ở nước ngoài và trốn đến Việt Nam hoặc phạm tội tại Việt Nam hay người Việt Nam phạm tội ở nước ngoài và trốn về Việt Nam hoặc phạm tội tại Việt Nam và trốn ra nước ngoài thì Luật sư cần chú ý đến các yếu tố nước ngoài khác, như: bị hại, nguyên đơn, bị đơn, người có quyền và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng là người nước ngoài, pháp nhân thương mại nước ngoài hoặc có những chứng cứ, tài liệu, đồ vật, tài sản liên quan đến vụ án được thu thập ờ nước ngoài.

Việc xác định vụ án có hay không có yếu tố nước ngoài không chỉ có ý nghĩa về mặt tố tụng hình sự mà còn có ý nghĩa trong việc xem xét trách nhiệm hình sự.

Thứ hai, cơ quan tiến hành tố tụng đã thông báo tiếp xúc Lãnh sự chưa

Việc phối hợp tổ chức thăm gặp, tiếp xúc lãnh sự đối với người bị tạm giữ, người bị tạm giam là người nước ngoài thực hiện theo khoản 5 Điều 22 của Luật Thi hành tạm giữ, tạm giam năm 2015. Theo đó, bị can là người nước ngoài bị bất, tạm giữ, tạm giam thi cơ quan tố tụng phải thông báo và tạo điều kiện cho đại diện của các cơ quan ngoại giao của các nước có công dân bị bắt, tạm giữ, tạm giam thực hiện việc bảo hộ công dân của nước họ. Đối với những người bị hại là người nước ngoài thì phải lập hồ sơ yêu cầu tương trợ tư pháp về hình sự trong việc thu thập yêu cầu của người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của họ cũng như những vấn đề dân sự trong vụ án hình sự.

Theo quy định của pháp luật Việt Nam thì không phải trường hợp nào người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam đều bị xử lý về hình sự, chính sách pháp luật của Nhà nước ta có những ưu đãi đặc biệt đối với các đối tượng được hưởng quyền miễn trừ ngoại giao hoặc lãnh sự theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc theo tập quán quốc tế. Đây là vấn đề quan trọng liên quan đến việc bảo hộ công dân của quốc gia có công dân bị tạm giữ, tạm giam hay có quyền lợi bị xâm phạm trong các vụ án hình sự có yếu tố nước ngoài. Tuy nhiên không phải trường hợp nào vấn đề thông báo lãnh sự cũng được xử lý ngay tại thời điểm tạm giữ, tạm giam. Nhiều vụ việc cơ quan tiến hành tố tụng chậm trễ dẫn đến quyền lợi của người bị tạm giam, tạm giữ bị ảnh hưởng nghiêm trọng, bị can, bị cáo không có Luật sư ngay từ đầu hoặc không có người phiên dịch có đủ trình độ ngoại ngữ đê hỗ trợ trợ cho họ trong quá trình giải quyết vụ án.

Thứ ba, các yêu cầu tương trợ tư pháp đã đầy đủ và đúng theo quy định của pháp luật chưa.

Trên thực tế, có nhiều trường hợp trong quá trình điều tra, hay giải quyết tin tố giác tội phạm, những người tiến hành điều tra và kiểm sát điều tra không lập hồ sơ yêu cầu tương trợ tư pháp để đề nghị phía nước ngoài hỗ trợ thu thập tài liệu, chứng cứ, đến khi chuẩn bị kết thúc thời hạn điều tra mới lập hồ sơ yêu cầu tương trợ tư pháp. Khi lập hồ sơ yêu cầu tương trợ tư pháp thì yêu cầu không cụ thể, không đầy đủ các yêu cầu cần thiết cho việc giải quyết vụ án. Ví dụ như khi xác minh nhân thân bị cáo lại không yêu cầu làm rõ tài sản của bị cáo để làm cơ sở cho việc khắc phục hậu quả; không xác định chính xác tuổi của bị cáo để làm căn cứ xác định tuổi chịu TNHS. Khi đặt yêu cầu tương trợ tư pháp lại không xác định thời hạn dẫn đến nhiều vụ án hết thời hạn điều tra nhưng vẫn chưa có kết quả xác minh.

Trong quá trình lập hồ sơ yêu cầu tương trợ tư pháp hình sự đối với các vụ án có yếu tố nước ngoài, nhiều cơ quan tiến hành tố tụng thường thông qua Sở Ngoại vụ tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương để gửi yêu cầu tương trợ tư pháp ra nước ngoài; thông qua kênh INTER­POL, ASEANPOL - Bộ Công an; cử cán bộ trực tiếp đến các nước để thu thập tài liệu, chứng cứ; các cơ quan tiến hành tố tụng của các tỉnh giáp biên giới với các nước láng giềng trực tiếp gửi yêu cầu tương trợ tư pháp đề nghị hỗ trợ... tuy nhiên không phải tài liệu tương trợ tư pháp hình sự nào cũng có giá trị chứng minh tại phiên tòa.

Theo quy định của Luật Tương trợ tư pháp và trong đa số các Hiệp định Việt Nam đã ký với nhiều nước thì cơ quan trung ương tiếp nhận, giải quyết các yêu câu tương trợ tư pháp về hình sự là VKSNDTC; Riêng đối với Hiệp định Tương trợ tư pháp về hình sự của các nước ASEAN quy định Bộ Công an là cơ quan đầu mối thực hiện Hiệp định.

Thứ tư, vấn đề phiên dịch trong vụ án hình sự có yếu tố nước ngoài.

Tại Điều 29 BLTTHS năm 2015 quy định tiếng nói và chữ viết dùng trong tố tụng hình sự là tiếng Việt. Người tham gia tố tụng có quyền dùng tiếng nói và chữ viết của dân tộc mình. Theo quy định của pháp luật thì đây là quyên của người tham gia tố tụng. Tại Điều 70 BLTTHS năm 2015 quy định trong trường hợp có người tham gia tố tụng không sử dụng được tiếng Việt thỉ cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải yêu cầu người phiên dịch có khả năng phiên dịch.

Pháp luật chỉ quy định người phiên dịch là người có khả năng phiên dịch. Tuy nhiên để đánh giá khả năng phiên dịch, người phiên dịch phải là một người có bằng cấp chuyên môn nhất định đủ điều kiện để đáp ứng được yêu cầu phiên dịch. Nhưng do pháp luật không quy định cụ thể nên có thể sẽ dẫn đến việc người phiên dịch không đảm bảo đủ trình độ để truyền tải, phản ánh đúng nội dung cần phiên dịch trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử. Điều này sẽ dần đến các chứng cứ được thu thập thông qua hoạt động phiên dịch không đảm đàm tính xác thực, tính khách quan của chứng

Khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, Luật sư phải chú ý vấn đề này, phải chú ý người phiên dịch có được cơ quan có thẩm quyền công nhận năng lực chuyên môn hay không. Người phiên dịch, người dịch thuật có phải là người có kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ cần thiết không, có được cơ quan có thẩm quyền cấp chứng chỉ hành nghề hay không? Có thuộc các trường hợp phải từ chối tham gia tố tụng không.

Thông thường, dựa trên biên bản thể hiện yêu cầu sử dụng tiếng nói và chữ viết của bị can, khi trưng cầu người phiên dịch, các cơ quan tiến hành tố tụng thường yêu cầu người phiên dịch phải có bằng cấp và chứng chỉ hành nghề đúng với tiếng phổ thông mà người nước ngoài phạm tội mang quốc tịch. Tuy nhiên, không phải lúc nào người phiên dịch cũng có thể hiểu và phiên dịch đúng, nhất là người phạm tội là người dân tộc thiểu số, không nói được tiếng phổ thông khi đó cần phải tìm người phiên dịch hiểu tiếng dân tộc thiểu số của quốc gia đó thì mới phiên dịch được.

Thứ năm, về địa điểm phát hiện bắt giữ người nước ngoài phạm tội

Đây là vấn đề quan trọng trong việc xác định thẩm quyền khởi tô của cơ quan tiên hành tô tụng đôi với tội phạm có hành vi phạm tội ngoài lành thô của Việt Nam, BLHS năm 2015 đà bô sung quy định mới tại khoản 3 Điêu 6, qua đó chính thức ghi nhận hiệu lực cua BLHS đôi với hành vi phạm tội hoặc hậu quả của hành vi phạm tội xay ra trên tàu bay, tàu biên không mang quốc tịch Việt Nam đang ơ tại biên cả hoặc tại giới hạn vùng trời nằm ngoài lãnh thố nước Cộng hòa xà hội chủ nghĩa Việt Nam. Đối với trường hợp này thi người phạm tội (kê cả người nước ngoài) cũng có thể bị truy cứu TNHS theo quy định cùa BLHS trong trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chu nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định. Tuy nhiên trong một số điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên cũng đã đề cập đến vấn đề này, chăng hạn, tại Điều 4 Công ước về các hành vi phạm tội và một sô hành vi khác thực hiện trên tàu bay có quy định: Một quốc gia ký kết không phài là quốc gia đăng ký tàu bay không được can thiệp vào tàu bay đang bay để thực hiện quyền tài phán hình sự của mình đối với các hành vi phạm tội thực hiện trên tàu bay trừ các trường hợp sau đây: a) Hành vi phạm tội gây ảnh hưởng tới lãnh thổ của quốc gia đó; b) Hành vi phạm tội do công dân hoặc người thường trú của Quốc gia đó được thực hiện hoặc chống lại họ; c) Hành vi phạm tội chông lại an ninh cùa quôc gia đó; d) Hành vi phạm tội bao gồm việc vi phạm bât kỳ quy tắc hoặc quy định hiện hành nào liên quan tới chuyến bay hoặc hoạt động của tầu bay tại quốc gia đó; e) Việc thực hiện quyền tài phán là cần thiết đế bâo đàm việc tuân thủ bất kỳ nghĩa vụ nào của quôc gia đó theo hiệp định quốc tế đa phưomg.

Như vậy, trường hợp người phạm tội ngoài lãnh thổ của Việt Nam xảy ra trên tàu bay, tàu biển không mang quốc tịch Việt Nam thì Việt Nam chỉ có quyền tài phán hình sự khi điều ước quốc tế mà chúng ta đã là thành viên có quy định. Vì vậy, Luật sư cần chú ý các trường hợp này để xác định khách hàng của mình có thuộc trường hợp bị truy tố theo quy định của pháp luật Việt Nam hay không.

Thứ sáu, chữ ký xác nhận của người phiên dịch trong các biên bản hỏi cung bị can, bị cáo và các tài liệu tố tụng khác có liên quan.

Khi đã có người phiên dịch theo quy định pháp luật thì mọi hoạt động điều tra, truy tố và xét xứ đều phải có sự tham gia của người phiên dịch.

Biên bản hỏi cung bị can được tiến hành theo đúng quy định tại khoản 2 Điều 184 BLTTHS: “...Trường hợp hỏi cung bị can có người phiên dịch thì Điều tra viên phải giải thích quyền và nghĩa vụ của người phiên dịch, đồng thời giải thích cho bị can biết được quyền yêu cầu thay đổi người phiên dịch. Người phiên dịch và bị can cùng ký vào từng trang của biên bản hỏi cung." Như vậy, khác với người bào chữa chì ký vào trang cuối của biên bản thì người phiên dịch phải ký vào từng ừang của biên bản hỏi cung như bị can. Khi nghiên cứu hồ sơ, Luật sư cần chú ý vấn đề này bởi khi không có chữ ký của người phiên dịch ở tất cả các trang của biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung là sự vi phạm tố tụng. Việc không có chữ ký của người phiên dịch ở các trang biên bản sè không đảm bảo tính xác thực, tính hợp pháp của chứng cứ. Trong thực tế, nhiều Điều tra viên, Kiểm sát viên có thể do nhầm lẫn giữa người bào chữa, người đại diện hợp pháp với người phiên dịch nên nhiều bản cùng người phiên dịch không ký vào từng trang nên đã bị Tòa án trả hồ sơ để điều tra bổ sung.

Thứ bảy, về vấn đề dân sự trong vụ án hình sự

Khi xem xét, giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự về nội dung phải tuân theo các quy định của Bộ luật Dân sự nhưng về hình thức phải tuân theo trình tự, thủ tục được quy định trong BLTTHS. Cùng với việc thu thập chứng cứ để làm sáng tỏ vụ án, cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm điều tra, thu thập chứng cứ để làm rõ về phần dân sự trong vụ án hình sự như đòi trả lại tài sản bị chiếm đoạt, đòi bồi thường giá trị tài sản do bị can, bị cáo chiếm đoạt nhưng bị mất hoặc bị hủy hoại, buộc phải sửa chữa tài sản bị hư hỏng, đòi bồi thường thiệt hại về lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác tài sản, chi phí hợp lý để ngăn chặn, khắc phục thiệt hại do tài sản bị chiếm đoạt; đòi bồi thường thiệt hại do tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm...

Đây là quyền lợi của bị can, bị cáo cũng như bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác. Nhưng đây là vấn đề phát sinh trong vụ án hình sự, nhiều khi các cơ quan tiến hành tố tụng cũng như những người tiến hành tố tụng không quan tâm đúng mức tới việc giải quyết vấn đề trách nhiệm dân sự, chi chú trọng đến việc giải quyết vấn đề TNHS. Tuy nhiên, một số Hiệp định tương trợ tư pháp mà Việt Nam đã ký với một số nước có quy định vấn đề dân sự liên quan đến vụ án hình sự phải được giải quyết trong khi xử lý vụ án hình sự, không được tách thành một vụ kiện dân sự khác khi đã có đầy đủ các tài liệu. Nhât là các vụ án mà việc xác định vấn đề dân sự là cơ sở cho việc xác định cấu thành tội phạm, ảnh hưởng đến việc định khung hình phạt. Vì vậy. Luật sư cần chú ý đến kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng khi lập hồ sơ tương trợ tư pháp hay ủy thác tư pháp nhằm đảm bảo quyền và lợi ích tốt nhất cho khách hàng của mình theo quy định tại chương 2 Luật Tương trợ tư pháp.

Thứ tám, về các biên bản giao nhận các văn bản tố tụng

Luật sư cần chú ý xem bị can, bị cáo có đồng ý với nội dung bản tố tụng hay không; có mời phiên dịch để hỗ trợ trong quá trình tiếp xúc bị cáo hay không? Các biên bản có chữ ký của người phiên dịch hay người dịch thuật không. Ỏ các biên bản này bị cáo có đưa ra ý kiến của mình hay không, ý kiến đó như thế nào, cơ quan tố tụng có thu thập và đánh giá chứng cứ liên quan đến ý kiến của họ hay không. Theo nguyên tắc xác định sự thật của vụ án tại Điều 15 BLTTHS năm 2015 quy định “...Trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phái áp dụng các biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định có tội, tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ TNHS của người bị buộc tội.” Việc bị cáo đưa ra ý kiến của mình cũng là cơ sở đê cơ quan tiến hành tố tụng xem xét, đánh giá và nếu có cơ sở thì phải thu thập chứng cứ chứng minh.

Thông thường, khi bị cáo đồng ý với nội dung bản cáo trạng, khi ra phiên tòa bị cáo sẽ nhận tội, ít phản cung; Ngược lại, nếu khi bị cáo không chấp nhận nội dung bản cáo trạng thì sẽ không nhận tội và thường thay đổi lời khai. Trường hợp này, Luật sư cần nghiên cứu kỹ các chứng cứ khác có liên quan đến ý kiến của bị cáo để xác định sự thật của vụ án.

Luật sư cần chú ý bản kết luận điều tra, cáo trạng và biên bản giao nhận bản kết luận điều tra, cáo trạng. Đối với vụ án có người nước ngoài phạm tội đề nghị sử dụng tiếng nói và chữ viết là tiếng Việt thì Điều tra viên, Kiểm sát viên chỉ cần giao một bản kết luận điều tra, cáo trạng bằng tiếng Việt. Những trường hợp người nước ngoài phạm tội không sử dụng tiếng nói và chữ viết là tiếng Việt thì Điêu ưa viên, ' Kiểm sát viên phải giao một bản kết luận điều tra, cáo trạng bằng tiếng Việt và một bản được dịch sang tiếng nói và chữ viết mà người nước ngoài phạm tội đã đề nghị sử dụng khi tham gia tố tụng hình sự. Bản dịch sang tiếng nước ngoài phải có chữ ký của người dịch đã được Cơ quan tố tụng yêu cầu trong quá trình điều tra quy tố   

Trong vụ án có nhiều người nước ngoài phạm tội thì bản kết luận điều tra hay cáo trạng phải được dịch sang tiếng nói và chữ viết của từng người đã sử dụng khi tham gia tố tụng hình sự.

Trường hợp người nước ngoài phạm tội đề nghị sử dụng tiếng nói và chữ viết là tiếng Việt khi tham gia tố tụng hình sự thì không phai dịch bản cáo trạng sang tiếng nói và chữ viết mà người đó mang quốc tịch.

Như vậy, tùy theo việc Luật sư bào chữa cho bị cáo, bảo vệ cho bị hại hay người có quyền lợi liên quan mà cần thiết phải tập trung nghiên cứu chi tiết, cụ thể những tài liệu chứng cứ liên quan đến việc bảo vệ khách hàng của mình. Từ đó đặt ra kế hoạch tiếp xúc với người mà mình cân bảo vệ đê làm rõ những vấn đề khúc mắc trong hồ sơ cũng như những vấn đề cần thiết phải chứng minh mà trong hồ sơ chưa thu thập đầy đủ.

2- Gặp gỡ vào trao đổi với khách hàng trước khi ra phiên tòa

Trước khi mở phiên tòa sơ thẩm, Luật sư cần bố trí thời gian cùng người phiên dịch gặp và trao đổi với khách hàng. Ngoài người phiên dịch đã được cơ quan tiến hành tố tụng lựa chọn, chỉ định trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, Luật sư nên đề xuất với cơ quan tiến hành tố tụng chấp thuận người phiên dịch (đủ điều kiện luật định và nhiều kinh nghiệm phiên dịch ngôn ngữ chuyên Ngành pháp lý) do Luật sư lựa chọn để chủ động cùng Luật sư giải quyết vụ án đảm bảo tính trung thực, khách quan khi phiên dịch lời khai cũng như khi dịch thuật, biên dịch các tài liệu là chứng cứ quan trọng trong vụ án hình sự.

Luật sư phải hướng dẫn, giải thích cho khách hàng về thủ tục phiên tòa theo quy định pháp luật, cách thức xưng hô, thái độ khi tham gia phiên tòa các quyền và nghĩa vụ tại phiên tòa. Vì khách hàng là người nước ngoài nên Luật sư phải hướng dẫn một cách tỉ mỉ cũng như trấn an tinh thần cho họ. Luật sư cũng phải hỏi thăm xem bị can, bị cáo có được cơ quan ngoại giao mà công dân đó mang quốc tịch thăm gặp hoặc hỗ trợ pháp lý hay không. Trong quá trình điều tra, truy tố có vấn đề nào bị cáo đưa ra mà cơ quan tố tụng không đồng ý hay không, đó là những vấn đề gì. Sau khi giải thích pháp luật, Luật sư hỏi bị cáo để làm rõ các vấn đề mà Luật sư đã chuẩn bị trước khi vào gặp bị cáo.

Luật sư cũng phải giải thích về các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ theo pháp luật Việt Nam, nếu bị can, bị cáo bày tỏ mong muốn trực tiếp liên hệ với gia đình tại nước ngoài để chuyển tiền bồi thường cho bị hại thì Luật sư cũng phải thực hiện làm chức năng cầu nối giữa bên bị hại với gia đình bị cáo mà giai đoạn điều tra, truy tố chưa được thực hiện.

Luật sư cần hướng dẫn cho họ cách trả lời khi HĐXX hỏi ý kiến của họ về vấn đề tố tụng phát sinh tại phiên tòa. Luật sư có thể khuyên họ trong trường hợp không biết trả lời như thế nào thì có thể nhờ Luật sư trả lời hộ.

Ngoài việc chuẩn bị cho việc tham gia phiên tòa, Luật sư cũng cần trao đổi về hướng bào chữa và câu hỏi mà Luật sư sẽ hỏi tại phiên tòa. Luật sư cần đặt các câu hỏi đơn giản phù hợp với trình độ hiểu biết của khách hàng. Luật sư có thể hướng dẫn cách khai báo nhưng không được xúi giục khách hàng khai báo gian dối. Luật sư có thể trao đổi với khách hàng về một số câu hỏi mà HĐXX, Kiểm sát viên có thể sẽ hỏi để khách hàng chuẩn bị câu trả lời. Giải thích cho khách hàng quyền của họ trong phiên tòa sơ thẩm cũng như việc họ có thể không trả lời câu hỏi mà HĐXX, Kiểm sát viên đặt ra.

Đối với khách hàng là bị hại hoặc người có quyền và nghĩa vụ liên quan, trước khi ra phiên tòa, Luật sư cũng cần trao đổi, hướng dẫn về thủ tục phiên tòa, các công việc mà họ phải làm. Cũng giống như đối với bị cáo người nước ngoài, Luật sư cũng trao đổi về hướng bảo vệ quyền lợi, những điểm có lợi cũng như bất lợi với khách hàng và gia đình của họ để họ chuẩn bị tâm lý tham gia phiên tòa.

3- Lập kế hoạch xét hỏi

Giống như trong các vụ án khác, Luật sư lập kế hoạch hỏi để làm rõ những chứng cứ phục vụ cho công tác bào chữa dựa trên định hướng bào chữa. Tuy nhiên nếu họ không hiểu tiếng Việt, việc hỏi sẽ phải thông qua phiên dịch, do đó các câu hỏi cần ngắn gọn, dễ hiểu, súc tích. Tập trung hỏi các bị cáo khác (nếu có), hỏi người làm chứng, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, nhất là những người cung cấp lời khai bất lợi cho khách hàng của mình, hỏi sâu những mâu thuẫn, làm rõ tính liên quan, tính xác thực đối với lời khai của họ.

Tổng hợp từ Giáo trình Kỹ năng của Luật sư khi tham gia giải quyết vụ án hình sự (Phần đào tạo tự chọn) - Học viện Tư pháp và một số nguồn khác.

Liên hệ tư vấn
Liên hệ tư vấn

Chuyên viên tư vấn sẵn sàng hỗ trợ!

Tư vấn sử dụng dịch vụ miễn phí

Hoặc
Đăng ký tư vấn
Công ty luật TNHH Everest - Công ty Luật uy tín tại Việt Nam

Everest
Thương hiệu tư vấn pháp lý hàng đầu
Thương hiệu tư vấn pháp lý hàng đầu

Top 20 thương hiệu vàng Việt Nam

Tự hào là đối tác thương hiệu lớn
Video
Everest - Hành trình vượt khó cùng đối tác
Hợp đồng góp vốn thành lập doanh nghiệp
Gặp các chuyên gia Đội ngũ Luật sư giàu kinh nghiệm
Để làm được những điều đó, mỗi một luật sư thành viên thuộc Hãng luật của chúng tôi đều phải rèn luyện không ngừng để có kiến thức Uyên thâm về chuyên môn, luôn đặt Tình yêu và Trách nhiệm vào công việc
4.7 5 (1 đánh giá)
0 bình luận, đánh giá về Vụ án hình sự có yếu tố nước ngoài – Trước khi tham gia phiên tòa

Xin chào quý khách. Quý khách hãy để lại bình luận, chúng tôi sẽ phản hồi sớm

Trả lời.
Thông tin người gửi
Bình luận sản phẩm
Nhấn vào đây để đánh giá
Thông tin người gửi
Tổng đài tư vấn: 024-66 527 527
Giờ làm việc: Thứ 2 - Thứ 7: 8h30 - 18h00
0.36430 sec| 1175.836 kb