Chủ thể của quyền tác giả

23/04/2023
Chủ thể quyền tác giả là cá nhân, tổ chức có các quyền đối với tác phẩm do họ sáng tạo ra hoặc là chủ sở hữu. Do tính chất giới hạn về không gian bảo hộ của quyền sở hữu trí tuệ. Điều 13 Luật sở hữu trí tuệ quy định tác giả, chủ sở hữu QTG có tác phàm được bảo hộ theo Luật này bao gồm: -Tổ chức, cá nhân Việt Nam: Các tổ chức, cá nhân Việt Nam có tác phàm dù được công bố tại bất kỳ đầu đều được bảo hộ; -Tổ chức, cá nhân nước ngoài có tác phẩm được công bố lần đầu tiên tại Việt Nam mà chưa được công bố ờ bất kỳ nước nào hoặc được còng bò đống thời tại Việt Nam trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày tác phẩm đó được công bố lần đầu tiên ờ nước khác. -Tổ chức, cá nhân nước ngoài có tác phẩm được bảo hộ tại Việt Nam theo ĐƯQT ve QTG mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

Chủ thể QTG là cá nhân, tổ chức có các quyền đối với tác phẩm do họ sáng tạo ra hoặc là chủ sở hữu. Do tính chất giới hạn về không gian bảo hộ của quyền SHTT. Điều 13 Luật SHTT quy định tác giả, chủ sở hữu QTG có tác phàm được bảo hộ theo Luật này bao gồm:

-Tổ chức, cá nhàn Việt Nam: Các tổ chức, cá nhân Việt Nam có tác phàm dù được công bố tại bất kỳ đầu đều được bảo hộ;

-Tò chức, cá nhân nước ngoài có tác phẩm được công bố lần đầu tiên tại Việt Nam mà chưa được công bố ờ bất kỳ nước nào hoặc được còng bò đống thời tại Việt Nam trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày tác phẩm đó được công bố lần đầu tiên ờ nước khác.

-Tò chức, cá nhân nước ngoài có tác phẩm được bảo hộ tại Việt Nam theo ĐƯQT ve QTG mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

Quy định của Điều 13 Luật SHTT là việc nội luật hoá Điều 3 Công ước Beme về tiêu chuẩn bảo hộ liên quan quốc tịch, nơi cư trú của tác giả hay nơi tác phẩm được công bổ. Việc xác định tác già chủ sở hữu QTG có tác phàm được báo hộ theo Luật SHTT Việt Nam dựa trên các tiêu chi: (ì) quốc tịch; (ii) nơi tác phẩm được công bố lần đầu tiên: (iii) ĐƯỌT về ỌTG mà Việt Nam là thành viên. Theo quy định này. không chi các tác phẩm của cá nhân, tô chức Việt Nam mà cả tác phẩm của các cá nhân, tổ chức nước ngoài cũng mặc nhiên được bảo hộ tại Việt Nam theo những căn cứ được quy định tại Điều 13 không cần đăng ký ỌTG.

I- TÁC GIẢ CỦA TÁC PHẨM 

1- Khái niệm tác giả

Quá trình tạo ra các tác phẩm văn học, nghệ thuật, các công trình khoa học kĩ thuật là quá trình hoạt động sáng tạo của cá nhân. Bởi vậy, tác giả của các tác phẩm văn học nghệ thuật, các công trình khoa học kĩ thuật chỉ có thể là những con người cụ thể khi họ đã băng lao động sáng tạo của mình để trực tiếp tạo ra tác phẩm. Thuật ngữ “tác giả” có thể được hiểu theo hai phương diện. Theo phương diện tổng quan nhất, tác giả là những người đã tạo ra một sản phẩm trí tuệ băng lao động sáng tạo của chính mình (bao gồm cả tác giả của tác phẩm văn học nghệ thuật, khoa học, cả tác giả của sáng chế, giải pháp hữu ích, KDCN). Theo phương diện hẹp, thuật ngữ tác giả chì là những người tạo ra các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học bằng lao động sáng tạo của chính mình. Khái niệm tác giả được đề cập trong phần này của Giáo trình được hiểu theo phương diện hẹp.

Vì tác phẩm là kết quả của hoạt động sáng tạo tinh thần mang dấu ấn sáng tạo cá nhân của tác giả nên tác giả chì có thè là con người. Các tổ chức không phải là một thực thể tự nhiên có trí tuệ, tình cảm; không thể trực tiếp sáng tạo tác phẩm bằng suy nghĩ, tình cảm. tư duy của mình, vì vậy thường không được công nhận là tác giả. Tuy nhiên, các tổ chức vẫn có thể nắm giữ các quyền tài sản liên quan đến tác phẩm và là chủ sở hữu QTG.

Tác giả phải là người trực tiếp thực hiện các hoạt động sáng tạo để tạo ra tác phẩm. Khoản 1 Điều 6 Nghị định số 22/2018/NĐ-CP quy định: "Tác giả là người trực tiếp sáng tạo ra một phần hoặc toàn bộ tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học". “Trực tiếp sáng tạo” được hiếu tác giả chính là người chuyển tải ý tưởng sáng tạo của mình ra bên ngoài thế giới vật chất dưới một hình thức để người khác có thể nhận biết và sự thể hiện đó mang dấu ấn sáng tạo của cá nhân tác giả. Người hỗ trợ cho tác giả thể hiện tác phẩm dưới một hình thức vật chất nhưng không có sự sáng tạo mang dấu ấn cá nhân sẽ không được công nhận là tác giả hay đồng tác giả. 

2- Phân loại tác giả

Trong thực tế, một tác phẩm có thể được tạo ra từ lao động sáng tạo của một cá nhân, cũng có thể được tạo ra từ lao động sáng tạo của một nhóm người. Do đó, dựa vào số lượng người sáng tạo để tạo ra tác phẩm, có thể phân chia thành hai loại:

- Tác giả đơn nhất là cá nhân bằng lao động sáng tạo của một mình họ để trực tiếp tạo ra toàn bộ tác phẩm. Hay nói cách khác, người tạo ra tác phẩm là tác giả toàn bộ tác phẩm. Trong trường hợp này, người đó được hưởng toàn bộ các quyền nhân thân, quyền tài sản cùa tác giả đối với tác phẩm.

- Đồng tác giả là những tác giả cùng trực tiếp sáng tạo ra một phần hoặc toàn bộ tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học (theo khoản 2 Điều 6 Nghị định số 22/2018/ND-CP). Như vậy, đồng tác giả thê hiêu là nhiêu cá nhân hợp tác để cùng trực tiếp sáng tạo nhám. Trong trường hợp này, các dons già cùng dupe h^-~ quyên nhân thân cũng như quyền tài sản đối với tác phẩm. Điều trên không xác định mối liên quan giữa các đồng tác giả đối với tác phẩm do họ cùng sáng tạo ra. Trong thực tế, khi xác định phần quyền mà mỗi đông tác giả được hưởng, người ta thường dựa vào tính chất, kết cấu của tác phẩm để xác định những người đó là đồng tác giả định phần hay không định phần.

Nếu tác phẩm do nhiều người tạo ra là một tác phẩm không thể xác định phần sáng tạo của từng người thì họ là đồng tác giả hợp nhất. Vì vậy, tất cả các đồng tác giả cùng hưởng quyền nhân thân, quyền tài sản đối với tác phẩm một cách ngang nhau. Nếu tác phẩm được kết cấu theo từng chương, phần và có thể xác định được tác già của mỗi chương, phần đó, thì những người cùng tạo ra tác phẩm đó được gọi là đồng tác giả theo phần. Trong trường hợp này, quyền lợi của mỗi đồng tác giả thường được xác định tương ứng với phần tác phẩm do họ sáng tạo ra.

II- CHỦ SỞ HỮU QUYỀN TÁC GIẢ 

Chủ sở hữu QTG là cá nhân, tổ chức nắm giữ một, một số hoặc toàn bộ các quyền tài sản liên quan đến một tác phẩm được thừa nhận dù họ là người trực tiếp hoặc không trực tiếp tạo ra tác phẩm đó. Tác phẩm vốn là một loại tài sản vô hình, là kết quả của một quá trình sáng tạo tinh thần nên về nguyên tắc, nó sẽ thuộc sở hữu cùa người đã tạo ra nó. Tuy nhiên, không thể nói rằng trong mọi trường hợp cứ người nào tạo ra tài sản thì người đó là chủ sở hữu cùa tài sản. Ngay cả đối với tài sản hữu hình thì trong nhiều trường hợp người trực tiếp tạo ra tài sản vẫn không phải là chủ sở hữu của tài sản (chẳng hạn, người tạo ra tài sản trong quá trình lao động làm thuê). Việc phân định tác giả và chủ sở hữu QTG có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định phạm vi quyền nhân thân cũng như quyền tài sản cùa họ đối với tác phẩm. Nếu không phải là chủ sở hữu QTG thì tác giả chỉ có các quyền nhân thân không thế chuyển dịch. Trong khi quyền công bố cũng như các quyền tài sản chỉ thuộc về chủ sở hữu QTG.

Căn cứ vào mối liên quan trong quá trình tạo ra tác phẩm, chủ sở hữu QTG phân thành hai loại sau đây:

1- Chủ sở hữu QTG là tác giả

Là người sử dụng thời gian, chi phi cùng như cơ sở vật chất kỹ thuật của mình đê trực tiếp tạo ra tác phàm. Trường hợp này, tác phẩm là kết quả của sự đầu tư trí tuệ, thời gian, tài chính, cơ sở vật chất cùa chính tác giả. Việc tạo la tác phẩm là do tác giả quyết định, không phải do người khác thuê hay giao nhiệm vụ cho tác giả sáng tạo. Với tư cách vưa la tac gia, vưa la chủ sở hữu QTG nên toàn bộ các quyền nhân thân cũng như quyền tài sản có được từ tác phẩm sẽ thuộc về tác giả.

Neu tác phẩm do nhiều người sử dụng thời gian tài chính, cơ sở vật chất kỹ thuật cùa mình để cùng tạo ra tác phẩm thì họ là đồng tác giả và đồng thời là đồng chủ sở hữu QTG đối với tác phẩm đó. về bản chất, đồng tác giả trong trường hợp này là các chủ sở hữu chung hợp nhất, có chung các quyền nhân thân và quyền tài sản đối với tác phẩm

2- Chủ sở hữu QTG không đồng thời là tác giả

Chủ sở hữu QTG không đồng thời là tác giả trong những trường hợp như: tác giả sáng tạo ra tác phẩm theo nhiệm vụ, theo hợp đồng hoặc tác giả đồng thời là chủ sở hữu QTG đã chết nhưng QTG được chuyên giao cho người thừa kế... Chủ sở hữu QTG được xác định là các cá nhân, tổ chức sau:

- Cơ quan, tổ chức giao nhiệm vụ cho tác giá tạo ra lác phàm về nguyên tắc chung những sản phẩm do người lao động tạo ra  trong quan hệ lao động đều thuộc về người chủ sử dụng lao do người lao động làm việc theo sự chỉ đạo, phân công nhiệm vụ  người chủ và được trả lương để thực hiện công việc đo Vì vụ  sản phẩm lao động là những tác phẩm - sáng tạo tinh thần thì vấn đề đặt ra là tác phẩm đó sẽ thuộc về người lao động - tác giả hay chú sử dụng lao động? Ờ đây cần phân biệt hai trường hợp. 

+ Tác phẩm được tạo ra theo nhiệm vụ là tác phẩm mà vi' tạo ra chúng là nghĩa vụ cùa người lao động. Trường hợp này, tác giả và cơ quan, tổ chức giao nhiệm vụ có mối quan hệ lao động, tác phẩm được tạo ra theo nhiệm vụ chuyên môn do cơ quan, tổ chức  tác giả làm việc giao cho. “Quan hệ lao động” được xác định qua hợp đồng làm việc, hợp đồng lao động, quyết định tuyển dụng hay bất cứ tài liệu nào khác để chứng minh tác giả là “người lao động” trong cơ quan, tổ chức đó. Tác giả là người làm công ăn lương và được chủ lao động bảo đảm các điều kiện về cơ sở vật chất để làm việc. Nhiệm vụ liên quan đến việc tạo ra tác phẩm có thể xác định dựa trên quy định về trách nhiệm, nghĩa vụ của người lao động được quy định trong hợp đồng làm việc, hợp đồng lao động, quy chế làm việc cùa cơ quan, tổ chức; hoặc quyết định giao nhiệm vụ, biên bản phân công nhiệm vụ... cụ thế. Điểm quan trọng mấu chốt để xác định cơ quan, tổ chức là chủ sở hữu QTG khi việc sáng tạo tác phẩm là một nhiệm vụ mà cơ quan, tổ chức đó giao cho tác già phải thực hiện. Do đó, các yếu tố như: công việc sáng tạo tác phẩm được thực hiện ờ đâu (trong hay ngoài trụ sở làm việc), vào thời gian nào (ưong thời gian làm việc chính thức hay ngoài giờ), không đóng vai trò quyết định ai là chủ sở hữu QTG. Tổ chức giao nhiệm vụ sáng tạo tác phẩm cho tác giả là chủ sở hữu QTG, có quyền công bố tác phẩm và các quyền tài sản theo quy định của luật, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

+ Tác phẩm được tạo ra ngoài khuôn khô nhiệm vụ là tác phẩm do người lao động tạo ra nhưng không phải là do thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao. Tác giả khi sáng tạo tác phẩm không bị ràng buộc bởi nghĩa vụ lao động, do đó tác giả là chủ sở hữu QTG.

- Cá nhăn, tổ chức giao kết hợp đồng sáng tạo với tác giả

Đây là trường hợp tác phẩm được tạo ra theo hợp đồng dân sự, trong đó cá nhân, tổ chức thoả thuận về việc tác giả sáng tạo tác phẩm theo đặt hàng của họ và được trả tiền. Vì tác phẩm là một sản phẩm mang tính vô hình nên việc xác định ai có quyền khai thác, sử dụng tác phẩm đóng vai trò quan trọng. Thông thường, các bên có thể thỏa thuận trong hợp đồng về phạm vi quyền khai thác tác phẩm của bên đặt hàng (bên thuê sáng tạo). Nếu các bên không có thoả thuận thì tổ chức, cá nhân giao kết hợp đồng sáng tạo tác phẩm với tác giả là chủ sở hữu QTG, sẽ có quyền công bố tác phẩm và các quyền tài sản theo quy định của luật.

- Người được thừa kế QTG

Khi chủ sở hữu QTG chết mà tác phẩm vẫn đang trong thời hạn bảo hộ QTG, thì người thừa kc QTG trở thành chủ sở hữu ỌTG được để lại thừa kế. Người thừa kế ỌTG theo quy định của pháp luật về thừa kế có thể là cá nhân, tổ chức, được thừa kế di sản thừa kế là QTG theo di chúc hoặc theo quy định của pháp luật. Nếu có nhiều người thừa kế là chủ sở hữu QTG mà người để lại thừa kế không phân định phần quyền cùa mỗi người thì họ được xác định là đồng chủ sở hữu chung hợp nhất về QTG; nếu người để lại thừa kế đã xác định cụ thể về phàn quyền mà mỗi thừa kế được hưởng thì mỗi người là chủ sở hữu QTG đôi với riêng phần quyền đó. Người thừa kế ỌTG là chủ sở hữu quyền công bố và các quyền tài sản thuộc QTG đối với tác phẩm được thừa kế.

- Người được chuyển giao quyền

Cá nhàn, tổ chức được chủ sở hữu QTG chuyển giao một, một số hoặc toàn bộ các quyền tài sản thuộc QTG và quyền công bố tác phẩm thông qua hợp đồng là chủ sở hữu các quyền được chuyển giao. Theo quy định cùa pháp luật dân sự, việc chuyển giao quyên sơ hưu có thể thông qua các hợp đồng như mua bàn, trao đôi, tặng cho. cho và Điều 45 Luật SHTT có quy định về hợp đồng chuyển nhượng QTG.

- Nhà nước

Đối với các tác phẩm khuyết danh, tác phẩm còn trong bảo hộ mà chủ sở hữu QTG chết không còn người thừa kế, chối nhận di sản hoặc không được quyền hưởng di sản, tác phẩm được chủ sở hữu QTG chuyển giao quyền sở hữu cho  Nhà nước là chủ sở hữu ỌTG đối với các tác phẩm đó. 

- Công chúng

Các kết quả sáng tạo trí tuệ thuộc lĩnh vực văn học, nghệ thuật, khoa học có vai trò quan trọng ưong đời sống tinh thần của xã hội cũng như có giá trị to lớn đối với nền công nghiệp văn hoá, vây, pháp luật QTG trao cho chủ thể sáng tạo và đầu tư độ vì quyến khai thác giá trị kinh tế của tác phẩm trong một thời hạn để bù đắp công sức sáng tạo và đầu tư, tặng thưởng xứng đáng cho những nỗ lực sáng tạo của họ nhằm tạo động lực khuyến khích sáng tạo. Khi thời hạn bảo hộ kết thúc, tác phẩm trở thành tài sản công cộng và công chúng trở thành “người chủ” tác phẩm, có quyền sử dụng tài sản chung mà không phải xin phép, không phải trả tiền nhưng phải tôn trọng các quyền nhân thân của tác giả.

Bên cạnh những tác phẩm thuộc về công chúng do hết thời hạn bảo hộ, một số loại tác phẩm do tính chất, vai trò cùa nó đối với xã hội, lợi ích công cộng, đòi hỏi công chúng phải được tiếp cận hay sử dụng, nên nó không thuộc phạm vi được bảo hộ QTG, như: văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính, quy trình, khái niệm... Những đối tượng này công chúng có quyền tiếp cận, sử dụng mà không phải xin phép, không phải trả nhuận bút, thù lao. Bên cạnh đó, theo quy định của pháp luật dân sự tác giả đồng thời là chủ sở hữu QTG có thể tự chấm dứt quyền sở hữu QTG của mình bằng việc tuyên bố công khai hoặc thực hiện hành vi chứng tỏ việc mình từ bỏ quyền sở hữu QTG đối với tác phẩm. Điều này về bản chất là việc tác giả từ chối hưởng các lợi ích vật chất từ tác phẩm. Trong trường hợp này, tác phẩm cũng được coi là thuộc về công chúng và công chúng được sử dụng tác phàm mà không phải xin phép, không phải trả nhuận bút, thù lao.

0 bình luận, đánh giá về Chủ thể của quyền tác giả

TVQuản trị viênQuản trị viên

Xin chào quý khách. Quý khách hãy để lại bình luận, chúng tôi sẽ phản hồi sớm

Trả lời.
Thông tin người gửi
Bình luận
Nhấn vào đây để đánh giá
Thông tin người gửi
Tổng đài tư vấn: 024-66 527 527
Giờ làm việc: Thứ 2 - Thứ 7: 8h30 - 18h00
0.19719 sec| 1002.195 kb