Trang chủ » Khái quát chung về quyền sở hữu trí tuệ

Khái quát chung về quyền sở hữu trí tuệ

Tài sản trí tuệ là một loại tài sản vô hình, có được từ hoạt động sáng tạo của con người, ngày càng đóng vai trò then chốt trong quá trình tạo ra giá trị, giá trị gia tăng cho chủ sở hữu trong nền kinh tế thị trường. Bản chất của tài sản trí tuệ là dễ bị xâm phạm và khó tự bảo vệ, do đó tài sản trí tuệ cần được bảo hộ dưới cơ chế về “quyền sở hữu trí tuệ” trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ.

về quyền sở hữu trí tuệ
Công ty Luật TNHH Everest – Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198

Khái quát về quyền sở hữu trí tuệ

Điều 2 Hiệp ước thành lập Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO), ký tại Stockholm ngày 14/7/1967 quy định rằng “quyền sở hữu trí tuệ” gồm các quyền đối với:

(i) các tác phẩm văn học nghệ thuật và khoa học;

(ii) việc biểu diễn của các nghệ sỹ biểu diễn chương trình ghi âm và chương trình phát sóng;

(iii) các sáng chế trong mọi lĩnh vực của đời sống con người;

(iv) các phát minh khoa học;

(v) kiểu dáng công nghiệp

(vi) nhìn hiệu hàng hóa, nhân hiệu dịch vụ, các chỉ diễn và tên thuring mại

(vii) quyền chống cạnh tranh không lành mạnh và tất cả các quyền khác có được từ hoạt động trí tuệ trong các lĩnh vực khoa học, văn học và nghệ thuật.

Trong đó, lĩnh vực được để cập tại (i) thuộc về nhánh quyền tác giả các lĩnh vực được đề cập tại (ii) thường được hiểu là “quyền liên quan”, tức là quyền liên quan tới quyền tác giả; các lĩnh vực được đề cập tại (ii), (v), (vi) và (vii) thành nhánh quyền sở hữu công nghiệp trong quyền sở hữu trí tuệ. Như vậy, hai nhánh chính của quyền sở hữu trí tuệ chính (i) quyền tác giả và quyền liên quan; và (ii) quyền sở hữu công nghiệp. Khái niệm cơ bản này được sử dụng trong hầu hết các quy định quốc tế và pháp luật quốc gia trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ.

Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 của Việt Nam cũng quy định “Quyền sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng”.

Một số quyền sở hữu trí tuệ nổi bật

Quyền tác giả bảo hộ quyền nhân thân và quyền tài sản của tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm văn học nghệ thuật và khoa học, tác phẩm phái sinh (với điều kiện không gây phương hại đến quyền tác giả). Quyền liên quan bảo hộ chủ sở hữu quyền đối với cuộc biểu diễn; bản ghi âm, ghi hình; chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa với điều kiện các đối tượng này không gây phương hại đến quyền tác giả.

Quyền sở hữu công nghiệp bao gồm quyền đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu, quyền chống cạnh tranh không lành mạnh và các quyền sở hữu công nghiệp khác do pháp luật quy định. Quyền tác giả và quyền sở hữu công nghiệp sẽ được đề cập cụ thể hơn, đối với một số đối tượng tiêu biểu như quyền tác giả đối với tác phẩm văn học nghệ thuật, quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu, bí mật kinh doanh và tên thương mại.

Giống cây trồng là quần thể cây trồng thuộc cùng một cấp phân loại thực vật thấp nhất, đồng nhất về hình thái, ổn định qua các chu kỳ nhân giống, có thể nhận biết được bằng sự biểu hiện các tính trạng do kiểu gen hoặc sự phối hợp của các kiểu gen quy định và phân biệt được với bất kỳ quần thể cây trồng nào khác bằng sự biểu hiện của ít nhất một tính trạng có khả năng di truyền được. Quyền đối với giống cây trồng là quyền của tổ chức, cá nhân đối với giống cây trồng mới do mình chọn tạo hoặc phát hiện và phát triển hoặc được hưởng quyền sở hữu. Giống cây trồng được bảo hộ là giống cây trồng được chọn tạo hoặc phát hiện và phát triển, có tính mới, tính khác biệt, tính đồng nhất, tính ổn định và có tên phù hợp. Quyền đối với giống cây trồng được xác lập trên cơ sở quyết định cấp Bằng bảo hộ giống cây trồng của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo thủ tục đăng ký quy định tại Luật sở hữu trí tuệ.

Xét về khía cạnh quyền tài sản, quyền sở hữu trí tuệ là quyền trị giá được bằng tiền và có thể chuyển giao trong giao dịch dân sự. Việc chiếm hữu hợp pháp đối với tài sản trí tuệ bằng cách xác lập quyền sở hữu và/hoặc được chuyển giao quyền sở hữu trí tuệ, việc sử dụng các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ và định đoạt quyền sở hữu đối với tài sản trí tuệ có những đặc thù riêng khác biệt so với các tài sản hữu hình. Bản chất của quyền Sở hữu trí tuệ là quyền sở hữu đối với các thông tin các trí thức về khoa học, kỹ thuật và công nghệ: uy tín trong kinh doanh thương mại và dịch vụ do con người sáng tạo ra được vật chất hóa dưới một hình thức nhất định. Với đặc điểm này, các đối tượng của quyền Sở hữu trí tuệ rất dễ bị phổ biến và rất dễ bị xâm phạm từ các chủ thể khác.

Quyền sở hữu trí tuệ bị giới hạn bởi không gian và thời gian. Về không gian, quyền Sở hữu trí tuệ luôn mang tính chất lãnh thổ, có nghĩa là quyền Sở hữu trí tuệ phát sinh trên phạm vi lãnh thổ của có hiệu lực trong phạm vi lãnh thổ của quốc gia đó và chịu sự điều chỉnh quốc gia nào thì chỉ chính bởi các quy phạm pháp luật quốc gia. Giới hạn lãnh thổ của quyền Sở hữu trí tuệ ngày càng được mở rộng khi các quốc gia tham gia hoặc ký kết các điều ước quốc tế đa phương, song phương về Sở hữu trí tuệ hoặc các thỏa thuận bảo hộ quyền Sở hữu trí tuệ trên nguyên tắc có đi có lại. Và thời gian, quyền Sở hữu trí tuệ (trừ một số quyền nhân thân) được bảo hộ trong thời hạn nhất định do pháp luật quy định, ví dụ: quyền Sở hữu công nghiệp đối với sáng chế là 20 năm, quyền tài sản trong quyền tác gia đối với tác phẩm văn học, tác phẩm âm nhạc là suốt cuộc đời tác già và 50 năm tiếp theo năm tác giả chết.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Gọi tư vấn
icons8-exercise-96