Trang chủ » Kỹ năng của Luật sư khi chuẩn bị cho việc bào chữa, bảo vệ

Kỹ năng của Luật sư khi chuẩn bị cho việc bào chữa, bảo vệ

Khi chuẩn bị cho việc bào chữa, bảo vệ cho khách hàng, Luật sư cần nghiên cứu hồ sơ.

Xây dựng ý tưởng
Công ty Luật TNHH Everest – Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198

Nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự là tổng hợp các hoạt động như: Xem xét, đọc, phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu, đánh giá các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nhằm nắm vững bản chất vụ án, các tình tiết liên quan đến hành vi phạm tội để xác định sự thật khách quan của vụ án. Luật sư cần nghiên cứu kỹ hồ sơ vụ án để nắm vững bản chất vụ án, các tình tiết liên quan đến hành vi xác định sự thật khách quan của vụ án. Trên cơ sở đó, Luật sự xác định những vấn đề cần đề xuất với Cơ quan tiến hành tố như chuẩn bị kế hoạch, xác định phương án bào chữa hoặc phương  án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho khách hàng. Khi nghiên cứu hồ sơ, Luật sư cần nghiên cứu một cách toàn diện, đầy đủ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, tránh tư tưởng chủ quan khi nghiên cứu những tài liệu mà mình cho là quan trọng, còn các tài liệu khác thì bỏ qua. Trong vụ án về các tội xâm phạm an toàn công cộng,trật tự công cộng, một số nhóm tội như xâm  vực công nghệ, vì vậy, Luật sư cần tra cứu những văn bản hướng dẫn liên quan đến lĩnh vực đó và có thể tranh thủ ý kiến của những chuyên gia đầu ngành về công nghệ thông tin để có cơ sở thực hiện tốt nhất việc bào chữa cho khách hàng.

Tuỳ theo từng vụ án cụ thể, Luật sư có thể nghiên cứu theo thứ tự thời gian diễn ra, theo trình tự tố tụng hoặc theo từng tập tài liệu liên quan đến từng người tham gia tố tụng. Luật sư cần nghiên cứu, ghi chép đầy đủ, lập được hệ thống chứng cứ của vụ án (trích tiểu hồ sơ) làm cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch hỏi, tranh luận, chuẩn bị để cương bào chữa hoặc luận cứ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho khách hàng.

(i) Kiểm tra hồ sơ:

Khi nghiên cứu các tài liệu, Luật sư sơ bộ kiểm tra về một số vấn đề sau để phát hiện có vi phạm thủ tục tố tụng hay không.Thời gian, thời hạn tiến hành hoạt động điều tra ;trình tự, thủ tục tiến hành hoạt động động điều tra, ;thành phần tham gia hoạt động điều tra;hình thức văn bản tố tụng,

(ii)Phương pháp nghiên cứu một số loại tài liệu điển hình:

Nghiên cứu bản cáo trạng:Luật sư nghiên cứu bản cáo trạng đã hiểu nội dung của vụ án, diễn biến hành vi phạm tội của bị can,yêu cầu giải quyết bồi thường thiệt hại và quan điểm truy tố của Viện Kiểm sát. Luật sư cần ghi chép đầy đủ các hành vi của bị can, tội danh, điều khoản của Bộ luật hình sự mà Viện kiểm sát viện dẫn để truy tố, các chứng cứ được Viện kiểm sát dùng làm căn cứ xác định tội phạm, người phạm tội, các tình tiết tăng nặng,giảm nhẹ Trách nhiệm hình sự,yêu cầu bồi thường thiệt hại của người bị hại. Qua đó,Luật sư rút ra được những điểm mấu chốt liên quan đến việc bào chữa,bảo vệ cho thân chủ.

Ví dụ :  Nguyễn Quang V bị truy tố về tội “Mua dâm người dưới 18 tuổi” heo điểm c khoản 2 Điều 329 Bộ luật hình sư năm 2015. Khi nghiên cứu bản cáo trạng, Luật sư cần ghi chép về hành vi của Nguyễn Quang V (diễn biến, số lần mua dâm…), khi mua dâm Nguyễn Quang V có biết độ tuổi của người bán dâm hay không, thương tích của nạn nhân như thế nào, nguyên nhân của thương tích đó do đâu.

Đối với biên bản giao nhận cáo trạng, Luật sư cần tìm hiểu xem bị can có đồng ý với nội dung bản cáo trạng hay không, nếu không đồng ý thì ý kiến của bị can như thế nào, bị can có đưa ra được những chứng cứ để bác bỏ một phần hay toàn bộ nội dung quyết định truy tố hay không.

+ Nghiên cứu bản kết luận điều tra:

Theo quy định tại Điều 232 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, khi kết thúc điều tra, Cơ quan điều tra phải ra bản kết luận điều tra; việc điều tra kết thúc khi Cơ quan điều tra ra bản kết luận điều tra đề nghị truy tố hoặc ra bản kết luận điều tra và quyết định đình chỉ điều tra.

Trường hợp Cơ quan điều tra kết thúc điều tra đề nghị truy tố thì bản kết luận điều tra ghi rõ diễn biến hành vi phạm tội; chứng cứ hành vi phạm tội của bị can, thủ đoạn, động cơ, mục đích phạm tội. tính chất, mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra; việc áp dụng thay đổi, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế,tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ Trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của bị can;việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và việc xử lý vật chứng, nguyên nhân và điều kiện dẫn đến hành vi phạm tội và tình tiết khác có ý nghĩa đối với vụ án; lý do và căn cứ đề nghị truy tố, tội danh, điều, khoản,điểm của Bộ luật hình sự được áp dụng, những ý kiến đề xuất giải quyết vụ án (Điều 233 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015).

Trong trường hợp này, Luật sư nghiên cứu bản kết luận điều tra  để hiểu rõ về diễn biến của tội phạm, các chứng cứ mà Cơ quan điều tra dùng để chứng minh tội phạm, ý kiến đề nghị giải quyết vụ án của Cơ quan điều tra. Khi đọc bản kết luận điều tra, trợ giúp viên cần ghi lại: Những hành vi có nêu trong cáo trạng nhưng không  đề cập trong kết luận điều tra; Những điểm mâu thuẫn giữa bản cáo trạng và kết luận điều tra; Ý đề nghị giải quyết vụ án của Cơ quan điều tra có lợi cho người mà mình bào chữa, bảo vệ.

Trong trường hợp đình chỉ điều tra thì bản kết luận điều tra ghi rõ diễn biến sự việc, quá trình điều tra, lý do và căn cứ đình chỉ điều tra. Quyết định đình chỉ điều tra ghi rõ thời gian, địa điểm ra quyết định, lý do và căn cứ đình chỉ điều tra, việc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn ,biện pháp cưỡng chế, trả lại tài liệu, đô vật đã tạm giữ (nếu có), việc xử lý vật chứng và các vấn đề khác có liên quan (Điều 234 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015). Khi nghiên cứu bản kết luận điều tra và quyết định đình chỉ điều tra, nhất là với tư cách người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại, trợ giúp viên pháp lý cần nghiên cứu kỹ về lý do, căn cứ đình chỉ, đối chiếu với các chứng cứ khác để xác định việc đình chỉ có căn cứ hay không.

+Nghiên cứu các văn bản tố tụng khác: Khi nghiên cứu các văn bản tố tụng, Luật sư phải xem xét đến tính hợp pháp của các văn bản tố tụng,tức là phải xem xét các văn bản đó có thực hiện, thu thập theo đúng trình tự,thủ tục tố tụng được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 không.Nếu có vi phạm thủ tục tố tụng và ảnh hường đến quyền và lợi ich khách hàng mà mình bảo vệ thì cần kiến nghị để Tòa án trả hồ sơ để điều ta bổ sung. Trong thực tế, có những vụ án mà Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát thực hiện việc thu thập tài liệu, chứng cứ không đầy đủ hay bỏ sát người tham gia tố tụng, làm ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan của vụ án.Sau khi tham gia tố tụng,qua việc nghiên cứu hồ sơ,Luật sư phát hiện ra những thiếu sót này nên có văn bản đề nghị Viện kiểm sát, tòa án trả hồ sơ để điều tra bổ sung và đã được chấp thuận.

Ngoài những yêu cầu chung khi nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự,khi nghiên cứu hồ sơ vụ án của một số tội thuộc nhóm tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng,Luật sư cần lưu ý một số vấn đề sau:

+ Đối với tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, Luật sư cần nghiên cứu kỹ tài liều về hiện trường vụ án, tài liệu giám đình phương tiện,khám nghiệm tử thi…để xác định xác dấu vết để lại tại hiện trường như vết phanh, vết chảy dầu trên đường, hướng của phương tiện tại hiện trường, các dấu vết để lại trên phương tiện, trên cơ  thể nạn nhân…Đây là những dấu vết khách quan sẽ giúp Luật sư xác định sự thật của vụ án. Luật sư cũng cần đối chiếu kết quả nghiên cứu các tài liệu này với các tài liệu khác trong hồ sơ vụ án để xác định những điểm chưa được làm rõ,những điểm còn mâu thuẫn.

Ví dụ :Trong vụ tai nạn giao thông trên đường cao tốc L, kết quả khám nghiệm hiện trường cho thấy cột mốc bên đường bị ô tô của bị can đâm bật gốc, trên đường có vết phanh dài hơn 11m, xe “bay” 29m mới dừng lại ở thửa ruộng bên đường. Kết luận giám định chỉ xác định được vận tốc tối thiểu của ô tô do bị can điều khiển ở thời điểm gây tai nạn là 48km/h. Trường hợp này, Luật sư cần ghi lại kết quả khám nghiệm hiện trường, kết luận giám định, đối chiếu, so sánh giữa các kết quả này, đánh giá bước đầu về vận tốc của xe và đề xuất giám định làm rõ vận tốc của xe theo các dấu vết để lại ở hiện trường.

Trong vụ án về tội phạm  này, lời khai người làm chứng cũng rất có ý nghĩa,khi nghiên cứu lời khai người làm chứng,Luật sư cần chú ý làm rõ người làm chứng trực tiếp hay gián tiếp biết về sự việc,vị trí, khoảng cách tự nơi người làm chứng quan sát đến nơi xảy ra tai nạn ,hướng chuyển động của từng loại phương tiện, vị tí người, đồ vật phương tiện sau khi xảy ra tai nạn, đặc điểm, loại phương tiện gây tai nạn, màu sơn, biển số, diễn biến của vụ tai nạn, tình trạng mặt đường, mật độ phương tiện tham gia giao thông tại thời điểm xảy ra tai nạn, phản ứng của nạn nhân trước, trong và sau khi xảy ra tại nạn.

+Đối với các tội đua xe trái phép, tổ chức đua xe trái phép, Luật sư cần nghiên cứu kux biên bản ghi lời khai để xác định hành vi cụ thể của bị can, địa điểm diễn ra cuộc đua… từ đó suy đoán về tội danh và các tình tiết định khung hình phạt được chính xác.Trong vụ án về tội tổ chức đua xe trái phép, cần nghiên cứu làm rõ bị can có thực hiện một số hành vi “tổ chức đua xe” hay không, cụ thể  là khởi xướng, vạch kế hoạch đua xe, chỉ huy việc đua xe;cưỡng bức, dụ dỗ, mua chuộc,lôi kéo,kích động người khác đua xe, quyên góp tiền,cung cấp tiền, tài sản cho người đua xe để làm giải thưởng cho các cuộc đua;cung cấp xe cho người đua xe, tổ chức canh gác, bảo vệ hoặc chống đối  lại lực lượng làm nhiệm vụ;huy động, lôi kéo ,mua chuộc, cưỡng bức người khác cổ vũ cho cuộc đia…Trong vụ án về tội đua xe trái phép, Luật sư cần nghiên cứu để làm rõ hành vi cua bị can là chuẩn bị phương tiện và điều kiện cân thiết cho cuộc đua, đến nơi tập trung dua hay điều khiển xe tham gia cuộc đua.Bởi lẽ, đối với tội này, tội phạm hoàn toàn khi người phạm tội bắt đâu điều khiển xe tham gia vào cuộc đua, nếu mới chỉ chuẩn bị phương tiện và điều kiện cần thiết, đang trên đường đến điểm đua xe thì bị phát hiện, bắt giữ thì chưa cấu thành tội đua xe trái phép.

+Đối với các tội chế tạo,tàng trữ , vận chuyển, sử dụng ma túy trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng,phương tiện kỹ thuật quân sự, vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ… Luật sư cần nghiên cứu kỹ tài liệu của cơ quan, tổ chức, tài liệu giám định đồng thời đối chiếu với các quy định của Nhà nước ở thời điểm phạm tội để xác định đối tượng của tội phạm có phải các loại vũ khí,phương tiện, vật liệu theo quy định của điều luật hay không.Ngoài ra, Luật sư cũng cần nghiên cứu các biên bản hỏi cung,biên bản  ghi lời khai để xác định ý thức của người phạm tội. nhằm chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự nhằm chiếm đoạt tài sản nhưng ngay sau khi chiếm đoạt mới biết trong tài sản có vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự và đã đem nộp cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền.Trường hợp này hành vi của bị can không phải là chiếm đoạt vũ khí quân dụng ,phương tiện kỹ thuật quân sự mà chỉ là hành vi chiếm đoạt tài sản.Trường hợp bị can bị truy tố với tình tiết định khung tăng nặng “ vận chuyển, tàng trữ qua biên giới”,Luật sư cần nghiên cứu, đối chiếu giữa các lời khai về quá trình vận chuyển, tàng trữ vũ khí quân dụng,phương tiện kỹ thuật quân sự để xác định bị can vận chuyển ” tàng trữ” qua biên giới thật sự hay chỉ vận chuyển từ địa phương này tới địa phương kia, trong quá trình vận chuyển để tránh sự ohats hiện đã qua nước láng giềng rồi lại trở về Việt Nam.

+Đối với tội phá hủy công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng và an ninh quốc gia,Luật sư cần kiểm tra xem trong hồ sơ có tài liệu xác định đối tượng tác động của tội phạm là công trình , phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia hay không.Khi nghiên cứu tài liệu này, Luật sư cần lưu ý xác định tài liệu có phải do cơ quan có thẩm quyền cung cấp hay không,nội dung tài liệu có xác định công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia hay không, đó là công trình đang sử dụng, đã nghiệm thu để đưa vào sử dụng hay công trình đang thi công chưa đưa vào sử dụng, công trình không còn hoạt động nữa.Các yếu tố này sẽ ảnh hưởng tới việc bị can có phạm tội theo Điều 303 Bộ luật hình sự hay không.

+ Đối với vụ án về tội vi phạm quy định về phòng cháy, chữa cháy, Luật sư nghiên cứu các biên bản ghi lời khai, thực nghiệm điều tra (nếu có), biên bản hiện trường để xác định nguyên nhân cháy, hành vi vi phạm cụ thể của bị can đối chiếu với quy định của Luật phòng cháy, chữa cháy để xác định bị can không  thực hiện hoặc thực

Ví dụ :Khi áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 287 Bộ luật hình sự (Tội cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông,phương tiện điện tử) cần lưu ý tình tiết định tội là “Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm”, nên cần kiểm tra bị can có đúng đã bị xử phạt hành chính về hành vi cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử hoặc bị kết án về tội  này hay là có tiền án, tiền sự nhưng là về tội khác, hành vi khác.

Khi nghiên cứu hồ sơ, Luật sư cần xác định các vấn đề (tình tiết), có ý nghĩa đối với việc bào chữa, bảo vệ; các chứng cứ trong hồ sơ liên quan tới từng vấn đề; những điểm mâu thuẫn, thống nhất giữa các tài liệu đồng thời ghi rõ số bút lục của các tài liệu đó để tiện tra cứu trích dẫn.

Ví dụ:Trong vụ án Bùi Quốc V bị truy tố về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ, khi nghiên cứu hồ sơ, Luật sư có thể ghi lại các lời khai theo các nhóm tình tiết có ý nghĩa đối với việc giải quyết vụ án như:

-Việc V có sử dụng còi trước khi vượt hay không. Trong nhiều biến bản ghi lời khai V khai là đã báo hiệu bằng còi trước khi vượt tốp học sinh (ghi rõ số bút lục) nhưng sau đó lại phủ nhận nội dung này (ghi rõ số bút lục). Những người làm chứng đều khai không nghe tiếng còi của ô tô của V trước khi xảy ra tai nạn(ghi rõ số bút lục).Những người làm chứng đều khai không nghe tiếng còi của ô tô của V có chướng ngại vật khi vượt top học sinh hay không.

-Việc xác định phía trước xe ô tô của V có chướng ngại vật khi vượt tốp học sinh hay không. Bùi Quốc V khai tốp học sinh đi cùng chiều, đi thành hàng 3, hàng 4, lại đang trêu đùa nhau (ghi rõ số bút lục).V còn thừa nhận đoạn đường vượt vừa dốc, vừa vòng cua nên bị hạn chế (ghi rõ số bút lục). Lời khai của người làm chứng Trần Thị N khai thời điểm ô tô của V vượt tốp học sinh thì chị N đang điều khiển xe máy đi ngược chiều (ghi rõ số bút lục) trong khi V khai tại thời điểm đó không có xe ngược chiều trên đoạn đường định vượt(ghi rõ số bút lục)

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest

  1. Bài viết trong lĩnh vực nêu trên được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: info@everest.org.vn.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *