Ngành Luật Hôn nhân và Gia đình

"Nơi không có quyền lực cộng đồng thì không có pháp luật, nơi không có pháp luật thì không có gì gọi là công bằng"

                                                                                                                -Oliver Wendell Holmes-

Ngành Luật Hôn nhân và Gia đình

Khác với các nước theo hệ thống pháp luật chung, các nước theo hệ thống pháp luật lục địa phân chia hệ thống pháp luật quốc gia thành những ngành luật khác nhau dựa vào các nhóm quan hệ xã hội mà nó điều chỉnh và phương thức mà nó tác động lên các quan hệ xã hội đó. Với ý nghĩa là một ngành luật trong hệ thống pháp luật quốc gia xã hội chủ nghĩa, Luật hôn nhân là gia đình Việt Nam là tổng hợp các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành hoặc thể chế hóa nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội, phát sinh trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình về những lợi ích nhân thân và những lợi ích về tài sản. 

Liên hệ

 

1.  Khái niệm hôn nhân và các đặc trưng của hôn nhân

 

Hôn nhân là sự liên kết của các cá nhân để tạo nên gia đình, là cơ sở cho sự phát triển giống nòi và xã hội.

Trước hết, hôn nhân là hiện tượng xã hội – là sự liên kết giữa đàn ông và đàn bà. Sự liên kết này là hành vi mang tính tự nhiên thể hiện bản năng sinh tồn và phát triển của con người trong mọi xã hội. Ở Việt Nam hiện nay, quan niệm về hon nhân gắn liền với pháp luật. Theo khoản 1 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì “Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn”. Như vậy, có thể hiểu hôn nhân là sự liên kết giữa vợ và chồng trên cơ sở kết hôn; tức là trên cơ sở nam nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau quan điểm, lập trường chính trị của mình.

Ở xã hội nào thì có hình thái hôn nhân đó, và tương ứng với nó là chế độ hôn nhân nhất đinh. Ví dụ: ở xã hội phong kiến có hôn nhân phong kiến, ở xã hội tư bản có hôn nhân tư sản, ở xã hội chủ nghĩa có hôn nhân xã hội chủ nghĩa. Dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, hôn nhân là sự lỉên kết giữa người đàn ông và người đàn bà được pháp luật thừa nhận nhằm xây dựng gia đình và chung sống với nhau suốt đời. Sự liên kết đỏ phát sình và hình thành do việc kêt hôn và được biểu hiện ở một quan hệ xã hội gắn liền với nhân thần, đó là quan hệ vợ chồng.

Trong xã hội có nhà nước và pháp luật, hôn nhân luôn là đối tượng lập pháp. Ở Việt Nam hiện nay, quan niệm về hôn nhân gắn liền với pháp luật. Nam nữ thực tế chung sống với nhau mà không đăng kí kết hôn, dù họ có sinh con thì cũng không được thừa nhận là quan hệ hôn nhân, quan hệ vợ chồng trước pháp luật. Theo khoản 1 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì “Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khỉ kết hôn”.

Có một số đặc trưng của quan hệ hôn nhân như sau:

Thứ nhất, hôn nhân là sự liên kết một vợ một chồng giữa một người đàn ông và một người đàn bà (Điều 2, 5, 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014). Đặc điểm này nói lên sự khác nhau cơ bản giữa hôn nhân trong xã hội Việt Nam xã hội chủ nghĩa với hôn nhân đa thê trong xã hội phong kiến.

Thứ hai, hôn nhân là sự liên kết giữa một người đàn ông và một người đàn bà trên nguyên tắc hoàn toàn tự nguyện. Cơ sở tự nguyện trong hôn nhân là tình yêu chân chính giữa nam và nữ, không bị những tính toán về kinh tế chi phối, không bị cưỡng ép hoặc bị cản trở.

Thứ ba, hôn nhân là sự liên kết bình đẳng giữa một người đàn ông và một người đàn bà (Điều 2, 5, 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014). Tính hiện thực của sự bình đẳng giữa nam và nữ, giữa vợ và chồng gắn liền với tính hiện thực của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, sự bình đẳng về hình thức pháp lí trong pháp luật Việt Nam xã hội chủ nghĩa cũng đã là một bước phát triển so với hôn nhân bất bình đẳng trong xã hội phong kiến và sự bình đẳng giữa vợ và chồng theo pháp luật tư sản. Mặt khác, chừng nào trong xã hội, các quan hệ hôn nhân còn bị ràng buộc bởi những tính toán về kinh tế, về địa vị giai cấp thì chưa thể có tự do và bình đẳng thực sự.

Thứ tư, hôn nhân là sự liên kết giữa một người đàn ông và một người đàn bà nhằm chung sống với nhau suốt đời và xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững (Điều 2 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014).

Thứ năm, hôn nhân là sự liên kết giữa một người đàn ông và một người đàn bà theo quy định của pháp luật. Theo quy định tại các điều từ Điều 3 đến Điều 16 và các điều khoản khác của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, việc kết hôn và li hôn được tiến hành theo trình tự pháp luật. Các nghi lễ mang tính chất tôn giáo và phong tục, tập quán không bị cấm đoán nhưng chỉ có tính chất riêng tư. Để được công nhận hôn nhân họp pháp, việc đăng kí kết hôn phải tuân theo các quy định của pháp luật.

 

2.  Những nguyên tắc cơ bản của luật hôn nhân gia đình

Nội dung các nguyên tắc cơ bản thể hiện quan điểm của Đảng và Nhà nước về điều chỉnh pháp luật đối với nhiệm vụ và chức năng của mỗi thành viên trong gia đình, các cơ quan hữu quan trong việc thực hiện chế độ hôn nhân và gia đình mới.

Điều 2 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã quy định những nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân và gia đình như sau:

1. Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng.

2. Hôn nhân giữa công dân Việt Nam thuộc các dân tộc, tôn giáo, giữa người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, giữa người có tín ngưỡng với người không có tín ngưỡng, giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.

3. Xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc; các thành viên gia đình có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; không phân biệt đối xử giữa các con.

4. Nhà nước, xã hội và gia đình có trách nhiệm bảo vệ, hỗ trợ trẻ em, người cao tuổi, người khuyết tật thực hiện các quyền về hôn nhân và gia đình; giúp đỡ các bà mẹ thực hiện tốt chức năng cao quý của người mẹ; thực hiện kế hoạch hóa gia đình.

5. Kế thừa, phát huy truyền thống văn hóa, đạo đức tốt đẹp của dân tộc Việt Nam về hôn nhân và gia đình.

 

Nội dung các nguyên tắc cơ bản nêu trên được thể hiện trong toàn bộ các quy định pháp luật hôn nhân và gia đình, được quán triệt trong hoạt động thực tiễn thi hành, quá trình thực hiện.

Nhằm cụ thể hóa nội dung Hiến pháp năm 2013, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đã khẳng định trách nhiệm của Nhà nước, xã những tư tưởng chỉ đạo, có ý nghĩa xuyên suốt, quán triệt toàn bộ hệ thống pháp luật hôn nhân và gia đình.

 

3.  Căn cứ phát sinh, thay đổi và chấm dứt quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình

Căn cứ phát sinh, thay đổi và chấm dứt quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình là sự kiện pháp lí. Nó có thể là sự kiện, hành vi, thời hạn… Sự kiện pháp lí trong luật hôn nhân và gia đình chia thành: sự kiện làm phát sinh, làm thay đổi và sự kiện làm chấm dứt quan hệ pháp luật.

Luật Hôn nhân và gia đình còn một nhóm sự kiện đặc trưng, làm khôi phục quyền và nghĩa vụ của chủ thể đã bị mất đi, đó gọi là sự kiện pháp lý phục hồi quan hệ pháp luật. Tác động của sự kiện pháp lí này là nhằm phục hồi quyền làm cha mẹ trong trường hợp hủy bỏ việc nhận nuôi con, phục hồi lại hôn nhân khi người vợ (chồng) bị Tòa án tuyên bố là đã chết trở về, và nhiều trường hợp khác mà luật quy định. Đặc điểm của các sự kiện đó là không làm phát sinh một quan hệ pháp luật mới mà chỉ phục hồi lại quan hệ pháp luật đã bị chấm dứt trước đó, hoặc tạm thời đình chỉ.

Cấu thành sự kiện phát sinh quan hệ pháp luật và gia đình thường có 2, 3 sự kiện. Nếu thiếu một trong các sự kiện đó thì cấu thành sự kiện sẽ không có hiệu lực (kết hôn không ghi vào sổ đăng kí, không cấp giấy chứng nhận kết hôn thì không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng). Với tư cách là sự kiện pháp lí trong Luật Hôn nhân và gia đình còn có trạng thái là mối liên quan xã hội đã và đang tồn tại. Nó có thể là huyết thống, thích thuộc, hôn nhân. Đặc điểm của nó mang tính chất lâu dài. Việc thể hiện hành vi ý chí của con người như là sự kiện pháp lí trong rất nhiều trường hợp không ảnh hưởng đến quan hệ pháp luật hồn nhân và gia đình.

Trong một số trường hợp thì ngược lại, hành vi ý chí là điều bắt buộc phải có trong cấu thành sự kiện. Ví dụ: đối với việc kết hôn phải có sự tự nguyện của hai bên nam nữ, muốn li hôn cũng đòi hỏi phải theo ý chí của vợ (chồng) hoặc của cả hai vợ chồng

 

4. Nguồn của luật hôn nhân và gia đình

Nguồn của Luật Hôn nhân và gia đình là các văn bản quy phạm pháp luật, thể hiện ý chí của Nhà nước, trong đó có chứa đựng các quy phạm pháp luật hôn nhân và gia đình thì nguồn của Luật Hôn nhân và gia đình bao gồm nhiều loại văn bản quy phạm pháp luật. Bao gồm:

a. Luật và các Bộ luật

- Hiến pháp năm 2013

- Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014

- Bộ luật Dân sự năm 2015

- Luật Bảo vệ sức khỏe nhân dân năm 1989

- Luật Giáo dục năm 2019

- Luật Trẻ em năm 2016

- Luật Bình đẳng giới năm 2006

- Luật Hộ tịch năm 2014

b. Văn bản dưới luật

- Nghị định số 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch

- Nghị định số 126/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hôn nhân và gia đình

Nghị định số 10/2015/1NĐ-CP ngày 28/01/2015 của Chính phủ quy định về sinh con bằng kĩ thuật thụ tinh trong ống nghiệm và điều kiện mang thai hộ vì mục đích nhân đạo (được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 98/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016)

- Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC- VKSNDTC-BTP ngày 06/01/2016 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình

Liên hệ tư vấn
Liên hệ tư vấn

Chuyên viên tư vấn sẵn sàng hỗ trợ!

Tư vấn sử dụng dịch vụ miễn phí

Hoặc
Đăng ký tư vấn
Công ty luật TNHH Everest - Công ty Luật uy tín tại Việt Nam

Everest
Thương hiệu tư vấn pháp lý hàng đầu
Thương hiệu tư vấn pháp lý hàng đầu

Top 20 thương hiệu vàng Việt Nam

Tự hào là đối tác thương hiệu lớn
Video
Everest - Hành trình vượt khó cùng đối tác
Quy định pháp luật về kế toán doanh nghiệp
Gặp các chuyên gia Đội ngũ Luật sư giàu kinh nghiệm
Để làm được những điều đó, mỗi một luật sư thành viên thuộc Hãng luật của chúng tôi đều phải rèn luyện không ngừng để có kiến thức Uyên thâm về chuyên môn, luôn đặt Tình yêu và Trách nhiệm vào công việc
4.1 5 (1 đánh giá)
0 bình luận, đánh giá về Ngành Luật Hôn nhân và Gia đình

Xin chào quý khách. Quý khách hãy để lại bình luận, chúng tôi sẽ phản hồi sớm

Trả lời.
Thông tin người gửi
Bình luận sản phẩm
Nhấn vào đây để đánh giá
Thông tin người gửi
Tổng đài tư vấn: 024-66 527 527
Giờ làm việc: Thứ 2 - Thứ 7: 8h30 - 18h00
0.16258 sec| 1095.164 kb