Trang chủ » Luật sư trao đổi về việc xác định thời hiệu khởi kiện

Luật sư trao đổi về việc xác định thời hiệu khởi kiện

Trong hoạt động chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự, vấn đề xác định thời hiệu khởi kiện luôn đóng một vai trò đặc biệt quan trong. Bởi lẽ khi hết thời hiệu khởi kiện thì yêu cầu của đương sự sẽ không được giải quyết.

xác định thời hiệu khởi kiện
Công ty Luật TNHH Everest – Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198

Vai trò của việc xác định thời hiệu khởi kiện trong vụ án dân sự

Mặc dù thời hiệu khởi kiện không phải là điều kiện bắt buộc để thụ lý giải quyết vụ án, tuy nhiên nếu vụ án hết thời hiệu khởi kiện mà đương sự không chứng minh được căn cư bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện, thời gian không tính vào thời hiệu khởi kiện (một những vụ án không áp dụng thời hiệu khởi kiện hoặc thời hiệu khi kiện không bị hạn chế), thì đương sự sẽ bị mất quyền khởi kiện. Khi trao đổi với khách hàng, Luật sư cần hết sức lưu ý, nằm vững các quy định của Bộ luật dân sự và Bộ luật tố tụng dân sự về thời hiệu khởi kiện với các nội dung như cách tính thời hiệu: thời điểm bắt đầu thời hiệu bắt đầu thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu: thời gian không tỉnh vào thời hiệu khởi kiện không áp dụng thời hiệu khởi kiện, bắt đầu lại thời hiệu khởi kiện. Thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự được thực hiện theo quy định của Bộ luật dân sự. Đồng thời, việc áp dụng thời hiệu khởi kiện được dựa trên nguyên tắc: đối với tranh chấp dân sự mà văn bản quy phạm pháp luật có quy định về thời hiệu khởi kiện thì áp dụng thời hiệu khởi kiện được quy định trong văn bản quy phạm pháp luật do.

Ví dụ, đối với tranh chấp về chia di sản thừa kế thì thời hiệu khởi kiện là ba mươi năm đối với tranh chấp về bất động sản và mười năm đối với tranh chấp về động sản (khoản 1 Điều 623 Bộ luật dân sự năm 2015); thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế (khoản 2 Điều 623 Bộ luật dân sự năm 2015). Trong lĩnh vực hợp đồng nói chung, thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng là ba năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm (Điều 429 Bộ luật dân sự năm 2015). Luật sư cần lưu ý với quy định tại điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án có thể đình chỉ giải quyết vụ án dân sự nếu đương sự có yêu cầu áp dụng thời hiệu trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ án và thời hiệu khởi kiện đã hết.

Các yếu tố liên quan đến việc xác định thời hiệu khởi kiện trong vụ án dân sự

Khi phân tích, đánh giá các yếu tố liên quan đến thời hiệu khởi kiện, thời hiệu yêu cầu, Luật sư cần xem xét kỹ các nội dung cơ bản sau đây:

(i) Một là, ngày chủ thể “biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm”. Khái niệm này được đề cập tại khoản 1 Điều 154 Bộ luật dân sự năm 2015, theo đó thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự được tình từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm, trừ trường hợp pháp luật có gia đình khác Ví dụ: Phiên hòa giải được kết thúc bằng việc lập Biên bản hơn giải, các chứng cứ liên quan đến việc thừa nhận nghĩa vụ hoặc công nhận thực hiện một phần nghĩa vụ… Các mốc thời gian được thể hiện thông qua các sự kiện pháp lý đó chính là bằng chứng để chứng minh chủ thể đã biết hoặc buộc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình đã bị xâm phạm hay chưa, Khoản 1 Điều 157 Bộ luật dân sự cũng đã quy định về thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự được bắt đầu lại trong các trường hợp sau đây: a)Bên có nghĩa vụ đã thừa nhận một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình đối với người khởi kiện; b) Bên có nghĩa vụ thừa nhận hoặc thực hiện xong một phần nghĩa vụ của mình đối với người khởi kiện; c) Các bên đã tự hòa giải với nhau.

(ii) Hai là, tuân thủ điều kiện áp dụng thời hiệu khởi kiện trong Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, theo đó, việc áp dụng thời hiệu khởi kiện được tuân theo nguyên tắc chung tại khoản 2 Điều 184 Bộ luật tố tụng dân sự  năm 2015, “yêu cầu áp dụng thời hiệu của một bên hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ nhằm ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc”

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest:

  1. Bài viết trong lĩnh vực pháp luật được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: info@everest.org.vn.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *