Trang chủ » Nghiên cứu hồ sơ trong các vụ án ma túy và tài liệu cần lưu ý

Nghiên cứu hồ sơ trong các vụ án ma túy và tài liệu cần lưu ý

Khi nghiên cứu hồ sơ trong các vụ án ma túy, Luật sư cần lưu ý các loại tài liệu sau:

phiên tòa hình sự có yếu tố nước ngoài
Công ty Luật TNHH Everest – Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198

(i)Tài liệu về việc thu giữ đồ vật, vật chứng.

Nghiên cứu tài liệu này để xác định Cơ quan điều tra đã thu được ma túy hay không, số lượng, hình thức lúc thu giữ ra sao thu được ở đâu.Thông thường khi thu giữ, Cơ quan điều tra sẽ ghi trong biên bản là “Chất bột trắng nghi heroin” hay là các viên thuốc màu hồng hay màu vàng mà không xác định ngay đó có phải là ma túy.Vật chứng ma túy trong vụ án ma túy là chứng cứ quan trọng để chứng minh khách hàng có phạm tội.Nếu một vụ án về ma túy mà không có ma túy sẽ là vụ án luôn gây tranh cãi khi định tội cũng như khi định khung để áp dụng.

-Nghiên cứu về thủ tục giám định do Cơ quan điều tra tiến hành,nhưng cần kiểm tra kỹ hồ sơ về các biên bản niêm phong tang vật, chữ ký của bị can trên các biên bản và dấu niêm phong,cũng như các dụng cụ phân chia ma túy đã được thu giữ như thế nào.Cơ quan điều tra trưng cầu giám định đối với vật chứng nào và kết luận của Cơ quan giám định ra sao.Chú ý trường hợp cần giám định để xác định hàm lượng chất ma túy được quy định tại Thông tư liên tịch số 17/2007/Thông tư liên tịch-Bộ công an-Viện kiểm sát nhân dân tối cao-Tòa án nhân dân tối cao-Bộ tư pháp ngày 24/12/2007 của Bộ Công An, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao.Bộ tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định tại chương XVIII “Các tội phạm về ma túy’ của Bộ luật hình sự năm 1999 ,Thông tư liên tịch số 08/2015/Thông tư liên tịch-Bộ công an-Viện kiểm sát nhân dân tối cao-Tòa án nhân dân tối cao-Bộ tư pháp ngày 14/11/2015 sửa đổi bổ sung một số điểm của Thông tư Liên tịch số 17/2007/Thông tư liên tịch-Bộ công an-Viện kiểm sát nhân dân tối cao-Tòa án nhân dân tối cao-Bộ tư pháp về giám định hàm lượng chất ma túy.Công văn số 315/Tòa án tối cao-PC/2017 về thực hiện Thông tư liên tịch số 17/2007/Thông tư liên tịch-Bộ công an-Viện kiểm sát nhân dân tối cao-Tòa án nhân dân tối cao-Bộ tư pháp, bổ sung các trường hợp cần giám định hàm lượng ma túy,ngoài các trường hợp được quy định tại Thông tư liên tịch số 08/2015/Thông tư liên tịch-Bộ công an-Viện kiểm sát nhân dân tối cao-Tòa án nhân dân tối cao-Bộ tư pháp.Theo đó, tại Công văn số 315/Tòa án tối cao-PC/2017 đã xác định Trường hợp qua xét xử mà xác định rõ chất ma túy bị pha lẫn,trộn nhiều loại chất khác để tăng trọng lượng bán cho các con nghiện thu lời, thì sẽ phải trưng cầu giám định xác định chính xác hàm lượng ma túy ,hoặc trường hợp lượng ma túy bắt giữ của đối tượng phạm tội thu được thuộc khung hình phạt cao nhất là 20 năm ,chung thân hoặc tử hình thì phải giám định xác định chính xác hàm lượng chất ma túy.

Ví dụ 1 : Ngày 20/7 , Công an bắt quả tang trong người Nguyễn Thị Thắm có 5 gói hêroin có trọng lượng 0,269 gam hêroin.Với việc xác đinh trọng lượng và giám định đã xác định chất bột màu trắng là hêroin thì thắm bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tôi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.Tuy nhiên, Thắm khai Thắm có 1 gói heroine, sau đó Thắm trộn lẫn với B1 tán đều chia nhỏ ra thành 05 gói bản cho các con nghiện kiếm lời.Đối chiếu Thông tư liên tịch số 08/2015/Thông tư liên tịch-Bộ công an-Viện kiểm sát nhân dân tối cao-Tòa án nhân dân tối cao-Bộ tư pháp và Công văn số 315/Tòa án tối cao-PC/2017 thì cần phải giám định xác định hàm lượng chất ma túy trong 05 gói heroine của Thẳm.Tại kết quả giám định của Viện khoa học hình sự cho biết 5 mẫu HG là chế phẩm hêrôin, hàm lượng hêrôin 0,17%. Nếu tính trọng lượng theo hàm lượng thì trọng lượng hêrôin mà Thắm tàng trữ 0,269 gam x 0,17/100 = 0,045 gam hêrôin. Cách tính này đã làm cho hành vi của Thắm là hành vi phạm tội trở thành hành vi bị xử phạt hành chính. Việc giám định có xác định hàm lượng đã được quy định cụ thể trong Thông tư liên tịch số 08/2015/Thông tư liên tịch-Bộ công an-Viện kiểm sát nhân dân tối cao-Tòa án nhân dân tối cao-Bộ tư pháp bắt buộc phải trưng cầu giám định hàm lượng để xác định trọng lượng chất ma túy trong các trường hợp sau: Chất ma túy, tiền chất dùng vào việc sản xuất chất ma túy ở thể rắn được hòa thành dung dịch, chất ma túy, tiền chất dùng vào việc sản xuất chất ma túy ở thể lỏng đã được pha loãng; xái thuốc phiện; Thuốc gây nghiện, thuốc hưởng thần. Ngoài ra, nếu có căn cứ và xét thấy cần thiết, Tòa án trực tiếp trưng cầu giám định để bảo đảm việc xét xử đúng pháp luật. Công văn số 315/ Tòa án tối cao-PC/2017 của Tòa án nhân dân tối cao bổ sung 02 trường hợp cần giám định và xác đinh hàm lượng ma túy của thông tư liên tịch số 08/2015/Thông tư liên tịch-Bộ công an-Viện kiểm sát nhân dân tối cao-Tòa án nhân dân tối cao-Bộ tư pháp,đó là những vụ án phạm tội có khung hình phạt từ 20 năm,chung thân,tử hình.Những vụ ná trong giai đoạn xét xử,Tòa án xét thấy có căn cứ xác định người có hành vi phạm tội đã pha trộn các chất không phải là ma túy, tiền chất vào ma túy,tiền chất . Giám định trong trường hợp là ma túy tổng hợp, ma túy đá… Luật sư cần lưu ý đó là chất gây nghiện nào, số lượng là bao nhiêu viên , trọng lượng mỗi loại, đồng thời phải xác định loại chất này có được xác định trong danh mục các chất ma túy, các chất gây nghiện hay các chất hướng thần mà Chính phủ đã ban hành hay không.

Ví dụ 2:

Vụ án Huỳnh Song Toàn có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Kết quả giám định xác định 02 gói chất bột màu trắng thu giữ có trọng lượng là 2,2553 gan có chứa thành phần Methamphetamine; 20 viên thuốc tân dược hình đầu chó có trọng lượng 4,1300 gam có chứa thành phần Ephedrine và desmethyl-DOB. Đối với 20 viên thuốc tân dược có thành phần Ephedrine và desmethyl-DOB, Luật sư cần lưu ý: Thứ nhất, thành phần Ephedrine có trong một số loại thuốc tân dược dùng trong điều trị bệnh về đường hô hấp, nếu dạng tiêm thì chỉ được bản theo đơn. Thứ hai, trong danh mục chất ma túy, ephedrine là chất nằm trong danh mục tiền chất để sản xuất chất ma túy theo Nghị định số 73/2018/NĐ-CP. Vì vậy, Luật sư cần làm rõ thành phần Ephedrine và desmethyl-DOB có tạo ra chất gây nghiện hay không. – Nghiên cứu các lời khai của khách hàng xác định khách hàng có nhận tội hay không, có khai thêm các hành vi phạm tội đã thực hiện trước đó không. Khi thấy khách hàng tự nhận thêm hành vi phạm tội, Luật sư cần nghiên cứu các lời khai khác trong hồ sơ để xác định có phải chỉ có duy nhất lời nhận tội của khách hàng hay còn có lời khai của các đối tượng khác. Nếu chỉ có duy nhất lời khai tự nhận tội của khách hàng thì đây là điểm Luật sư có thể tranh luân với Viện kiểm sát,nếu còn có các lời khai của người khác,Luật sư cần phải nghiên cứu kỹ các lời khai đó để xác định sự phù hợp của các lời khai.Nếu các lời khai là đồng nhất và logic thì đây là điểm bất lợi cho khách hàng vì các Tòa án sẽ xem xét lời khai là căn cứ để định tội và định khung cho các bị cáo.

Nếu khách hàng hoàn toàn không thừa nhận mình có hành vi phạm tội,Luật sư cần nghiên cứu kỹ các lời khai của những người khác cũng như các tài liệt xác định cơ quan công an có thu giữ được ma túy tại nơi ở của khách hàng hay không?Nếu thu giữ được thì cần phải xem xét về việc khách hàng khai về việc tại sao có ma túy ở trong nhà.Nếu không thu giữ được ma túy mà chỉ đơn thuần dựa vào những lời khai của những người khác,Luật sư phải nghiên cứu từng bản lời khai một,cần so sánh một cách kỹ lượng từng sự kiện, hành vi mà họ đã khai để tìm ra những điểm không đồng nhất,những điểm còn nghi ngờ.Nếu những lời khai đó vừa có lời khai đồng nhất két tội khách hàng vừa có những lời khai có lợi, thừa nhận khách hàng không tham gia phạm tội, Luật sư đương nhiên sẽ ghi lại những tình tiết có lợi nhưng vẫn phải tìm những khe hở trong lời khai kết tội để bác bỏ lời khai của họ.Nếu không lập luận bác bỏ được lời khai buộc tội,hậu quả là vụ án có nguy cơ bị xử đi xử lại nhiều lần vì các quan điểm khác nhau của người tiến hành tố tụng.

Ví dụ 3: Trong vụ án Lê Thu Huyền phạm tội “Mua bán trái phép chất ma

” khi bắt quả tang thi Huyền không có ở hiện trường, tuy nhiên, Co quan công an thu giữ 01 chiếc điện thoại được xác định là củaHuyền. Khi đang lập biên bản thì điện thoại đổ chuông do đối tượng mua hêrôin gọi hỏi mua heroin. Lê Thu Huyền không thừa nhận mình có hành vi mua bán ma túy, điện thoại là Huyền mới mua của đối tượng không quen biết, Lời khai của những người có mặt khi bị bắt quả tang như bà Hải (mẹ Huyền) thì ban đầu khai Huyền có tham gia mua bán nhưng sau lại khai Huyền không tham gia. Lê Xuân Siêu khai là Huyền không tham gia mua bán hêrôin. Những người mua hêrôin khai là mua của người tên là Phương. Biên bản nhận dạng thì chỉ có 01 người nhận ra Huyền là Phương, còn những người khác không nhận ra luyền. Trong vụ án này, Luật sư cần phải đối chiến của bà Hài, anh Siêu và những người mua ma túy để xác định Huyền có tham gia bán ma túy hay không. Trong các lời khai đó có điểm lợi cho Huyền là lời khai ban đầu của bà Hải và việc 01 người mua ma túy nhận ra Huyền là Phương, Luật sư nghiên cứu lời khai của bà Hải để xác định tại sao bà Hải lại thay đổi lời khai, lý do đó có thuyết phục không. Cũng như xem xét biên bản nhận dạng của người mua ma túy đã xác định Huyền là Phương, đặc biệt lưu ý đến lý do vì sao định được Phương chính là Huyền. – Nghiên cứu các tài liệu khác để tìm tình tiết giảm nhẹ cho khởi hàng như tài liệu về nhân thân. Đối với khách hàng là phụ nữ và nghiên cứu xác định khách hàng có phải là phụ nữ đang mang thai hoặc là người đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi hay không như trong hồ sơ có tài liệu về việc khách hàng mang thai, có tài liệu về giấy khai sinh của con hay không. Luật sư nghiên cứu lý lịch cá nhân, tàng thư căn cước có trong hồ sơ để xác định khách hàng có tiền án, tiền sự không. Nếu đã có tiền án, cần kiểm tra tiền án đã được xóa hay chưa bằng cách kiểm tra các tài liệu mà Cơ quan điều tra đã thu thập như bản án, giấy ra tù, văn bản trả lời của Cơ quan thi hành án dân sự về việc đã thi hành phần dân sự trong bản án hình sự chưa.

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest

  1. Bài viết trong lĩnh vực nêu trên được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: info@everest.org.vn.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *