Nhận diện quan hệ pháp luật tranh chấp hợp đồng bảo hiểm phi nhân thọ

"Sự phục tùng pháp luật là bắt buộc đối với tất cả mọi người".

- Xixêrôn, Nhà lý luận chính trị La Mã

Nhận diện quan hệ pháp luật tranh chấp hợp đồng bảo hiểm phi nhân thọ

Hợp đồng bảo hiểm là căn cứ quan trọng quy định quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp bảo hiểm và chủ thể tham gia bảo hiểm dựa trên thỏa thuận của các bên. Điều 12 Luật Kinh doanh bảo hiểm đưa ra khái niệm: "Hợp đồng bảo hiểm là sự thỏa thuận giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bão lãnh, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm".

Hợp đồng bảo hiểm gồm các loại sau: Hợp đồng bảo hiểm con người; Hợp đồng bảo hiểm tài sản; Hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự.

Liên hệ

1- Khái quát về quan hệ pháp luật tranh chấp hợp đồng bảo hiểm phi nhân thọ:

Từ quy định của Luật Kinh doanh bảo hiểm về bảo hiểm phi nhân thọ và Hợp đồng bảo hiểm, có thể rút ra khái niệm về Hợp đồng bảo hiểm phi nhân thọ như sau: Hợp đồng bảo hiểm phi nhân thọ là sự thỏa thuận giữa bên tham gia bảo hiểm (Bên mua bảo hiểm) và Doanh nghiệp bảo hiểm về việc Doanh nghiệp bảo hiểm cam kết bảo hiểm cho tài sản, trách nhiệm dân sự. Bảo lãnh và bảo hiểm con người phi nhân thọ. Theo đó, bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, hoàn trả tiền bồi thường, Doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm bồi thường cho bên mua bảo hiểm hoặc người thứ ba bị thiệt hại khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.

Khoản 18 Điều 3 Luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000, được sửa đổi, bổ sung năm 2010 và năm 2019 (sau đây gọi chung là Luật Kinh doanh bảo hiểm) quy định: "Bảo hiểm phi nhân thọ là loại nghiệp vụ bảo hiểm tài sản, trách nhiệm dân Sự và các nghiệp vụ bảo hiểm khác không thuộc bảo hiểm nhân thọ”. Bảo hiểm nhân thọ ở đây chính là bảo hiểm cho trường hợp "sống hoặc chết" của người được bảo hiểm.

Vì thế, bảo hiểm liên quan đến con người nhưng đối tượng bảo hiểm không phải là trường hợp "sống hoặc chết” của người được bảo hiểm thì được gọi là bảo hiểm con người phi nhân thọ và được xác định là một lĩnh vực của bảo hiểm phi nhân thọ. Tuy nhiên, kế từ ngày 25/8/2014, một loại hình bảo hiểm phi nhân thọ mới, đó là bảo hiểm bảo lãnh đã được pháp luật ghi nhận. Do đó có thể thấy, bảo hiểm phi nhân thọ là bảo hiểm mà đối tượng của nó là tài sản, trách nhiệm dân sự, con người phi nhân thọ và rủi ro trong việc thực hiện nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm.

Hợp đồng bảo hiểm là căn cứ quan trọng quy định quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp bảo hiểm và chủ thể tham gia bảo hiểm dựa trên thỏa thuận của các bên. Điều 12 Luật Kinh doanh bảo hiểm đưa ra khái niệm: "Hợp đồng bảo hiểm là sự thỏa thuận giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm, theo đó bên mua bảo hiểm phải đóng phí bão lãnh, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm ". Hợp đồng bảo hiểm gồm các loại sau: Hợp đồng bảo hiểm con người; Hợp đồng bảo hiểm tài sản: Hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự.

Từ quy định của Luật KDBH về bảo hiểm phi nhân thọ và Hợp đồng bảo hiểm. có thể rút ra khái niệm về Hợp đồng bảo hiểm phi nhân thọ như sau: Hợp đồng bảo hiểm phi nhân thọ là sự thỏa thuận giữa bên tham gia bảo hiểm (bên mua bảo hiểm) và Doanh nghiệp bảo hiểm về việc Doanh nghiệp bảo hiểm cam kết bảo hiểm cho tài sản, trách nhiệm dân sự. Bảo lãnh và bảo hiểm con người phi nhân thọ. Theo đó, bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, hoàn trả tiền bồi thường, Doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm bồi thường cho bên mua bảo hiểm hoặc người thứ ba bị thiệt hại khi xảy ra sự kiện bảo hiểm.

Hiện nay, ở Việt Nam tồn tại những Hợp đồng bảo hiểm phi nhân thọ cơ bản sau:

(i) Hợp đồng bảo hiểm tài sản: là hợp đồng có đối tượng được bảo hiểm là tài sản. bao gồm vật có thực, tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền và các quyền tài sản. Ví dụ. Hợp đồng bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu: Hợp đồng bảo hiểm mọi rủi ro trong xây dựng: Hợp đồng bảo hiểm lắp đặt: Hợp đồng bảo hiểm hỏa hoạn và các rủi ro đặc biệt: Hợp đồng bảo hiểm gián đoạn kinh doanh...

ii) Hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự: là hợp đồng có đối tượng bảo hiểm là các trách nhiệm dân sự của bên mua bảo hiểm đối với bên thứ ba bị thiệt hại khi xảy ra rủi ro. Ví dụ. Hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba và hành khách trên xe; Hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự đối với hàng hóa vận chuyển trên xe; Hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ tàu biển...

(iii) Hợp đồng bảo hiểm con người phi nhân thọ: là Hợp đồng bảo hiểm có đối tượng được bảo hiểm là tính mạng, sức khỏe, khả năng lao động của con người khi bị tai nạn, bệnh tật, ốm đau, thai sản. Ví dụ, Hợp đồng bảo hiểm tai nạn con người; Hợp đồng bảo hiểm trợ cấp nằm viện và phẫu thuật...

(iv) Hợp đồng bảo hiểm bảo lãnh: là Hợp đồng bảo hiểm có đối tượng bảo hiểm là rủi ro thực hiện nghĩa vụ của bên mua bảo hiểm và người thứ ba. Ví dụ, Hợp đồng bảo hiểm bảo lãnh dự thầu; Hợp đồng bảo hiểm bảo lãnh thanh toán trước; Hợp đồng bảo hiểm bảo lãnh thực hiện hợp đồng...

Nhận diện quan hệ pháp luật tranh chấp không chỉ giúp cho Luật sư có căn cứ để áp dụng pháp luật nội dung mà còn lựa chọn những quy định pháp luật tố tụng phù hợp để giải quyết tranh chấp, nâng cao mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho khách hàng. Bên cạnh những dấu hiệu nhận biết về một hợp đồng dân sự nói chung, Hợp đồng bảo hiểm nói riêng, Hợp đồng bảo hiểm phi nhân thọ có những dấu hiệu nhận biết đặc thù sau đây:

Thứ nhất, các chủ thể có liên quan trong quan hệ Hợp đồng bảo hiểm phi nhân thọ. Thông thường, chủ thể trong hợp đồng dân sự cũng chính là chủ thể có quyền lợi và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng mà họ giao kết. Tuy nhiên, trong quan hệ Hợp đồng bảo hiểm phi nhân thọ, ở một số trường hợp người được hưởng lợi ích không phải là các bên giao kết hợp đồng mà là người thứ ba thì chủ thể của hợp đồng không đồng nghĩa với chủ thể được hưởng quyền lợi phát sinh từ quan hệ nghĩa vụ của hợp đồng đó (ví dụ, người thứ ba trong Hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe giới đối với người thứ ba hoặc hành khách trên xe trong Hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với hành khách trên xe...). Vì thế, có thể nhận diện chủ thể của Hợp đồng bảo hiểm phi nhân thọ ở hai nhóm chủ thể sau:

2- Chủ thể giao kết hợp đồng bảo hiểm phi nhân thọ:

Bên bảo hiểm (còn gọi là bên nhận bảo hiểm/bên bán bảo hiểm): là bên đã nhận phí bảo hiểm của người tham gia bảo hiểm và cam kết nhận rủi ro bảo hiểm về phía mình. Theo quy định của pháp luật về kinh doanh bảo hiểm thì bên nhận bảo hiểm chỉ có thể là một tổ chức có tư cách pháp nhân và được phép hoạt động kinh doanh bảo hiểm- phi nhân thọ, được gọi là Doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ.

Theo quy định của pháp luật Việt Nam, bên bảo hiểm là các Doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam, Doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài, chi nhánh Doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài ở Việt Nam có chức năng kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ. Những doanh nghiệp này phải là những tổ chức có cơ cấu chặt chẽ và người vốn lớn mạnh, được thành lập, tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật Kinh doanh bảo hiểm và pháp luật có liên quan về kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ....

Ở Việt Nam, so với Doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ, Doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ trong nước và chi nhánh, Doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài có số lượng nhiều hơn. Một số Doanh nghiệp bảo hiểm và chi nhánh bảo hiểm phi nhân thọ có thể kể đến là: Bảo Việt nhân thọ, Công ty Bảo hiểm dầu khí (PVI)... (những Doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ trong nước; Công ty TNHH bảo hiểm Liberty}. Công ty TNHH Bảo hiểm AIG Việt Nam... (Doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ 100% vốn đầu tư nước ngoài); Công ty TNHH bảo hiểm hàng hải vã hỏa hoạn Hyundai - Hàn Quốc, Công ty AmTrust Europe Limited - Anh... (chi nhánh Doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ nước ngoài).

Bên tham gia bảo hiểm (chính là bên mua bảo hiểm): là tổ chức (ví dụ. doanh nghiệp sử dụng lao động trong Hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm của người sử dụng lao động đối với người lao động bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, chủ thầu trong Hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ thầu đối với người thứ ba trong xây lắp...) hoặc cá nhân (ví dụ, chủ xe cơ giới trong Hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba và hành khách trên xe...) ký kết Hợp đồng bảo hiểm với Doanh nghiệp bảo hiểm và đóng phí bảo hiểm. Những tổ chức, cá nhân này phải là người có quyền lợi hợp pháp khi đối tượng được bảo hiểm gặp rủi ro và bị tổn thất và phải có đủ năng lực hành vi dân sự (đối với cá nhân) và năng lực pháp luật dân sự (đối với tổ chức) khi giao kết Hợp đồng bảo hiểm. Ngoài trách nhiệm đóng phí bảo hiểm, người tham gia bảo hiểm còn có những trách nhiệm khác phát sinh từ Hợp đồng bảo hiểm cụ thể.

Chủ thể liên quan đến nghĩa vụ chi trả số tiền hảo hiểm số tiền bồi thường (chủ thể của quan hệ về nghĩa vụ bảo hiểm):

Chủ thể liên quan đến trách nhiệm chi trả số tin bảo hiểm/số tiền bồi thường bảo hiểm là những người có quyền, nghĩa vụ trong quan hệ nghĩa vụ bảo hiểm. Quan hệ nghĩa vụ bảo hiểm là quan hệ giữa Doanh nghiệp bảo hiểm có nghĩa vụ chi trả tiền bảo hiểm hoặc bồi thường thiệt hại với một bên được thụ hưởng khoản tiền bảo hiểm hoặc khoản tiền bồi thường thiệt hại khi xảy ra sự kiện bảo hiểm. Vì vậy, chủ thể của quan hệ nghĩa vụ về bảo hiểm bao gồm:

Bên có nghĩa vụ bảo hiểm: là Doanh nghiệp bảo hiểm đã nhận phí bảo hiểm từ người tham gia bảo hiểm hay chính là bên nhận bảo hiểm trong hợp đồng bảo hiểm làm hình thành quan hệ nghĩa vụ bảo hiểm.

Bên được hưởng quyền lợi bảo hiểm: là bên được hưởng một khoản tiền bảo hiểm hoặc được bồi thường thiệt hại hoặc được bên bảo hiểm đảm nhiệm thay một trách nhiệm dân sự khi xảy ra sự kiện bảo hiểm. Vì thế bên được hưởng quyền lợi bảo hiểm có thể là bên tham gia bảo hiểm (còn gọi là bên được bảo hiểm) được Doanh nghiệp bảo hiểm chi trả số tiền bảo hiểm (bên mua bảo hiểm trong Hợp đồng bảo hiểm tài sản) và được Doanh nghiệp bảo hiểm thực hiện thay một trách nhiệm dân sự/một nghĩa vụ phải làm (bên mua bảo hiểm trong Hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự, Hợp đồng bảo hiểm bảo lãnh). Bên được bảo hiểm có khi đồng thời là người được bồi thường (trong Hợp đồng bảo hiểm tài sản) nhưng cũng có khi không đồng thời là người được bồi thường (trong Hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ thầu với người thứ ba trong xây lắp thì người được bảo hiểm là chủ thầu còn bên được bồi thường là bên thứ ba bị thiệt hại khi sự kiện bảo hiểm xảy ra).

Bên được hưởng quyền lợi bảo hiểm cũng có thể là bên thứ ba (được gọi là người thụ hưởng) bị thiệt hại về tính mạng, sức khỏe từ sự kiện bảo hiểm, ví dụ như hành khách bị tai nạn trong Hợp đồng bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với hành khách trên xe, là bên thứ ba được xác định trong Hợp đồng bảo hiểm bảo lãnh khi bên tham gia bảo hiểm không thực hiện được nghĩa vụ và cam kết trong hợp đồng với bên thứ ba dó.

Người thụ hưởng: là tổ chức hoặc cá nhân được người tham gia bảo hiểm chỉ định trong Hợp đồng bảo hiểm phi nhân thọ sẽ nhận được sự trợ giúp  và bồi thường từ doanh nghiệp bảo hiểm. Người thụ hưởng có thế được chỉ định đích danh (người thứ ba trong Hợp đồng bảo lãnh) hoặc không đích danh (người thứ ba trong Hợp đồng trách nhiệm của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba). Nếu được chỉ định đích danh thì trong Hợp đồng bảo hiểm SC nêu rõ tên người dược hương và mối quan hệ với người được bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm.

Ngoài ra, tham gia vào việc giao kết và thực hiện Hợp đồng bảo hiểm. trong nhiều trường hợp, thường có các trung gian bảo hiểm (đại lý bảo hiểm hoặc môi giới bảo hiểm). Tuy nhiên, đại lý bảo hiểm và môi giới bảo hiểm không phải là chủ thể của Hợp đồng bảo hiểm mà giữ tư cách là đại diện hợp pháp của các chủ thể trong Hợp đồng bảo hiểm. 

Xác định được chủ thể của Hợp đồng bảo hiểm, Luật sư sẽ xác định được nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đối với yêu cầu khởi kiện của khách hàng mà Luật sư bảo vệ. Trong một sổ trường hợp, điều kiện chủ thể được giới hạn hẹp hơn.

3- Khách thể của quan hệ Hợp đồng bảo hiểm phi nhân thọ:

Khách thể trong quan hệ pháp luật dân sự là lợi ích vật chất tinh thần mà các chủ thể hướng tới khi tham gia quan hộ. Lý do giao kết Hợp đồng bảo hiểm phi nhân thọ của các chủ thể không phải nhằm loại bỏ rủi ro mà xuất phát từ nhu cầu bảo đảm ổn định về tài chính cho các quyền lợi kinh tế liên quan. Thực hiện Hợp đồng bảo hiểm phi nhân thọ. Bên mua bảo hiểm chấp nhận trả phí bảo hiểm để chuyển dịch gánh nặng tài chính và rủi ro sang phía Doanh nghiệp bảo hiểm, được Doanh nghiệp bảo hiểm bồi thường tổn thất khi tài sản. sức khỏe, tính mạng, khả năng lao động của mình bị thiệt hại hoặc được Doanh nghiệp bảo hiểm đảm nhiệm thay trách nhiệm dân sự, thực hiện thay nghĩa vụ trả tiền với bên thứ ba. Trong khi đó, Doanh nghiệp bảo hiểm sẽ được nhận khoản tiền từ việc nộp phí của Bên mua bảo hiểm và chấp nhận gánh nặng tài chính đó về mình. Vì vậy, lợi ích mà các chủ thể hướng tới ở đây chính là quyền lợi có thể được bảo hiểm của Bên mua bảo hiểm.

Lợi ích này xuất hiện dựa trên mối liên quan giữa đối tượng bảo hiểm phi nhân thọ và người tham gia bảo hiểm, người được bảo hiểm, người được hưởng quyền lợi bảo hiểm trong từng Hợp đồng bảo hiểm phi nhân thọ cụ thể và được biểu hiện thông qua các điều khoản về chi trả bồi thường khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra được các bên thỏa thuận trong hợp đồng.

Các căn cứ để quyền lợi có thể được bảo hiểm của bên được bảo hiểm hình thành là: quyền sở hữu, quyền chiếm hữu, quyền sử dụng đối với tài sản, quyền nhân thân, quyền và nghĩa vụ trong và ngoài quan hệ hợp đồng. Ví dụ, người có quyền sở hữu, quyền chiếm hữu, quyền sử dụng tài sản là những người có quyền ký kết Hợp đồng bảo hiểm cho tài sản và trách nhiệm liên quan (HĐBH trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba). Nếu đối tượng hợp đồng là thực hiện nghĩa vụ trả tiền đối với bên thứ ba thì người thực hiện nghĩa vụ có thể mua hợp đồng bảo hiểm bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh thực hiện hợp đồng...

4- Nội dung của quan hệ Hợp đồng bảo hiểm phi nhân thọ:

Nội dung của quan hệ pháp luật là tổng hợp quyền và nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật đó. Quyền và nghĩa vụ của các chủ thể giao kết hợp đông và các chủ thể của quan hệ nghĩa vụ (đề cập ở dấu hiệu Thứ nhất và Thứ hai) tạo thành nội dung của quan hệ pháp luật tranh chấp về Hợp đồng bảo hiểm phi nhân thọ.

Trong quan hệ pháp luật này, người được bảo hiểm có quyền: yêu cầu Doanh nghiệp bảo hiểm chi trả số tiền bảo hiểm cho sự tổn thất về tài sản hoặc chi trả số tiền bồi thường khi tính mạng, sức khỏe, khả năng lao động của con người bị tổn thất do tai nạn, bệnh tật, ốm đau, thai sản; thực hiện thay một trách nhiệm dân sự khi xảy ra sự kiện bảo hiểm; thực hiện thay một nghĩa vụ trả tiền khi Bên mua bảo hiểm không hoàn thành nghĩa vụ với người thứ ba: hủy bỏ Hợp đồng bảo hiểm theo quy định của pháp luật/thỏa thuận lương hợp đồng; quyền được cung cấp thông tin về đối tượng bảo hiểm của bên bảo hiểm; yêu cầu Doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm/bồi thường cho người được thụ hưởng; chuyển nhượng Hợp đồng bảo hiểm theo thỏa thuận trong Hợp đồng bảo hiểm; và các quyền khác theo quy định pháp luật....

Trong quan hệ pháp luật này, Doanh nghiệp bảo hiểm có quyền: thu phí bảo hiểm theo thoả thuận trong Hợp đồng bảo hiểm; yêu cầu Bên mua bảo hiểm cung cấp đầy đủ, trung thực thông tin liên quan đến việc giao kết và thực hiện Hợp đồng bảo hiểm; hủy bỏ Hợp đồng bảo hiểm theo quy định pháp luật/thỏa thuận của các bên; từ chối trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc từ chối bồi thường cho người được bảo hiểm trong trường hợp không thuộc phạm vi trách nhiệm bảo hiểm hoặc trường hợp loại trừ trách nhiệm bảo hiểm theo thoả thuận trong Hợp đồng bảo hiểm; yêu cầu người thứ ba bồi hoàn số tiền bảo hiểm mà Doanh nghiệp bảo hiểm đã bồi thường cho người được bảo hiểm do người thứ ba gây ra đối với tài sản và sách nhiệm dân sự; và các quyền khác theo quy định của pháp luật....

5- Hình thức của Hợp đồng bảo hiểm phi nhân thọ: 

Luật pháp đòi hỏi mọi loại Hợp đồng bảo hiểm nói chung và Hợp đồng bảo hiểm phi nhân thọ nói riêng phải thể hiện dưới dạng văn bản. Theo đó, giấy yêu cầu bảo hiểm là bộ phận không tách rời của Hợp đồng bảo hiểm và chứng cứ của việc giao kết hợp đồng là giấy chứng nhận bảo hiềm hoặc đơn bảo hiểm.

(i) Giấy yêu cầu bảo hiểm: Giấy yêu cầu bảo hiểm là một loại ấn chỉ in sẵn, trong đó yêu cầu người có nhu cầu bảo hiểm phải kê khai những thông tin liên quan cần thiết và nộp cho Doanh nghiệp bảo hiểm trước khi Hợp đồng bảo hiểm phi nhân thọ được phát hành.

Giấy yêu cầu bảo hiểm phải được người đề nghị bảo hiểm kê khai đầy đủ, đề ngày, tháng, năm và có ký tên là chứng cứ thể hiện yêu cầu bảo hiểm của Bên mua bảo hiểm. Nội dung của giấy yêu cầu bảo hiểm là sự cam kết của Bên mua bảo hiểm khi Hợp đồng bảo hiểm phi nhân thọ được thiết lập. Đồng thời, đây cũng là chứng cứ chứng minh người tham gia bảo hiểm đã hoàn thành nghĩa vụ cung cấp thông tin hay chưa. Tuy nhiên, trước khi Hợp đồng bảo hiểm phi nhân thọ được ký kết, giấy yêu cầu bảo hiểm chưa có giá trị pháp lý rằng buộc trách nhiệm và cả hai bên (Doanh nghiệp bảo hiểm và Bên mua bảo hiểm) không buộc phải chấp nhận ký kết hợp đồng.

(ii) Giấy chứng nhận bảo hiểm/đơn bảo hiểm: Giấy chứng nhận bảo hiểm hoặc đơn bảo hiểm được coi là chứng cứ của việc giao kết Hợp đồng bảo hiểm. Trong khi giấy chứng nhận bảo hiểm chỉ biểu đạt những thông tin vắn tắt và cơ bản nhất về Hợp đồng bảo hiểm (thông tin về Doanh nghiệp bảo hiểm; người được bảo hiểm; đối tượng bảo hiểm; thời hạn bảo hiểm; số tiền bảo hiểm; phí bảo hiểm...) thì đơn bảo hiểm biểu đạt thông tin một cách đầy đủ hơn. Ngoài những thông tin như trong giấy chứng nhận bảo hiểm, đơn bảo hiểm còn thể hiện các thông tin về phạm vi bảo hiểm, loại trừ trách nhiệm bảo hiểm, quyền và nghĩa vụ của các bên, cách tính và thanh toán tiền bồi thường, quy định về giải quyết tranh chấp...

Thông thường, giấy chứng nhận bảo hiểm được Doanh nghiệp bảo hiểm cấp cho Bên mua bảo hiểm kèm theo một Hợp đồng bảo hiểm. Một Hợp đồng bảo hiểm có thể cấp kèm một hoặc nhiều giấy chứng nhận bảo hiểm, còn đơn bảo hiểm thường được cấp độc lập như một thông lệ trong hoạt động bảo hiểm. Việc cấp giấy chứng nhận bảo hiểm hoặc đơn bảo hiểm của Doanh nghiệp bảo hiểm cho Bên mua bảo hiểm là một trong những bằng chứng xác nhận Doanh nghiệp bảo hiểm đã chấp nhận trách nhiệm về rủi ro đối với đối tượng bảo hiểm. 

Ngoài những hình thức kể trên của Hợp đồng bảo hiểm phi nhân thọ còn có các tài liệu liên quan đến việc ký kết hợp đồng (phụ lục hợp đồng,...) để chi tiết hỏa các thông tin chưa được phản ánh ở đơn bảo hiểm; hoặc để thay đổi, bổ sung, loại bỏ các điều khoản trong hợp đồng; hoặc nhằm mục đích xác định rõ ràng, cụ thể quan hệ giữa các bên trong Hợp đồng bảo hiểm bên cạnh sự điều chỉnh bằng các quy định chung của hệ thống pháp luật về bảo hiểm phi nhân thọ. Ví dụ: nhằm đáp ứng nhu cầu bảo hiểm tăng thêm của Bên mua bảo hiểm khi ký kết Hợp đồng bảo hiểm xây dựng, ngoài hợp đồng, các bên có thể ký thêm phụ lục hợp đồng về “điều khoản chéo trong bảo hiểm xây dựng.

Liên hệ tư vấn
Liên hệ tư vấn

Chuyên viên tư vấn sẵn sàng hỗ trợ!

Tư vấn sử dụng dịch vụ miễn phí

Hoặc
Đăng ký tư vấn
Công ty luật TNHH Everest - Công ty Luật uy tín tại Việt Nam

Everest
Thương hiệu tư vấn pháp lý hàng đầu
Thương hiệu tư vấn pháp lý hàng đầu

Top 20 thương hiệu vàng Việt Nam

Tự hào là đối tác thương hiệu lớn
Video
Everest - Hành trình vượt khó cùng đối tác
Quy định pháp luật về kế toán doanh nghiệp
Gặp các chuyên gia Đội ngũ Luật sư giàu kinh nghiệm
Để làm được những điều đó, mỗi một luật sư thành viên thuộc Hãng luật của chúng tôi đều phải rèn luyện không ngừng để có kiến thức Uyên thâm về chuyên môn, luôn đặt Tình yêu và Trách nhiệm vào công việc
5 5 (1 đánh giá)
0 bình luận, đánh giá về Nhận diện quan hệ pháp luật tranh chấp hợp đồng bảo hiểm phi nhân thọ

Xin chào quý khách. Quý khách hãy để lại bình luận, chúng tôi sẽ phản hồi sớm

Trả lời.
Thông tin người gửi
Bình luận sản phẩm
Nhấn vào đây để đánh giá
Thông tin người gửi
Tổng đài tư vấn: 024-66 527 527
Giờ làm việc: Thứ 2 - Thứ 7: 8h30 - 18h00
0.42544 sec| 1135.633 kb