Trang chủ » Quy định quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp

Quy định quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp

Quyền thành lập quản lý doanh nghiệp được quy định như thế nào trong luật doanh nghiệp. Những vấn đề liên quan đến quản lý doanh nghiệp.

năng lực hành nghề
Công ty Luật TNHH Everest – Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198

Quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp

Quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp là quyền của cá nhân tổ chức được Nhà nước bảo hộ và ghi nhận tại khoản 1 Điều 18 Luật

Doanh nghiệp 2014 Luật Doanh nghiệp 2005, Luật Doanh nghiệp Xác định các đối tượng thành lập doanh nghiệp đang phương pháp trừ. Theo đó, trừ các đối tượng không được thành lập và quản doanh nghiệp dưới đây, các đối tượng còn lại được quyền thành lập doanh nghiệp và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam:

– Cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân sử dụng tài sản – nước để thành lập doanh nghiệp kinh doanh thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình là việc sử dụng đơn vị mình. Thu lợi riêng cho cơ quan, đơn thu nhập dưới mọi hình thức có được từ hoạt động kinh doanh, từ gói vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp vào một trong các mục đích sau đây: (i) Chia dưới mọi hình thức cho một số hoặc tất cả những người quy định tại điểm b và điểm c khoản 2 Điều 18 Luật Doanh nghiệp 2014; (ii) Bổ sung vào ngân sách hoạt động của cơ quan, đơn vị trái với quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước; (iii) Lập quỹ hoặc bổ. sung vào quỹ phục vụ lợi ích riêng của cơ quan, đơn vị.

– Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức. Theo Điều 20 Luật Cán bộ, công chức 2008. “cán bộ, công chức còn không được làm những việc liên quan đến sản xuất, kinh doanh, công tác nhân sự quy định tại Luật Phòng, chống tham nhũng, Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và những việc khác theo quy định của pháp luật và của cơ quan có thẩm quyền”.

– Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam; sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân Việt Nam, trừ những người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp.

– Cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong doanh nghiệp nhà nước, trừ những người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp khác.

– Người chưa thành niên; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự; tổ chức không có tư cách pháp nhân.

– Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chấp hành hình phạt tù, quyết định xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc đang bị cấm hành nghề kinh doanh, đảm nhiệm chức vụ hoặc làm công việc nhất định liên quan đến kinh doanh theo quyết định của tòa án, Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật về phá sản, phòng, chống, tham nhũng.

Theo khoản 3 Điều 130 Luật Phá sản 2014, người giữ chức vụ quản lý của doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản mà cố ý vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 18 Điều 48 của Luật Phá sản 2014 thì Thẩm phán xem xét, quyết định về Việc không được quyền thành lập doanh nghiệp, làm người quản lý doanh nghiệp trong thời hạn 3 năm kể từ ngày Tòa án nhân dân có quyết định tuyên bố phá sản.

Bên cạnh đó, theo điểm b khoản 1 Điều 37 luật Phòng chống tham nhũng 2005, cán bộ, công chức, viên chức không được: “Thành lập, tham gia thành lập hoặc tham gia quản lý, điều hành doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần, công ty hợp danh, hợp tác xã, bệnh viện tư, trường học tư và tổ chức nghiên cứu khoa học tư, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”. Tuy nhiên cũng cần phải lưu ý rằng, hạn chế trên sẽ không áp dụng trong trường hợp doanh nghiệp bị phá sản do trường hợp bất khả kháng.

Ngoài những hạn chế về các đối tượng không được thành lập nên tivi, khi xác định quyền thành lập doanh nghiệp của một chủ thể nhất độ thì cần thiết phải lưu ý đến một số quy định sau:

– Khoản 1 và khoản 2 Điều 175 Luật Doanh nghiệp 2014 quy định Việc hạn chế quyền đối với thành viên hợp danh. Theo đó, thành Viên danh không được làm chủ doanh nghiệp tư nhân hoặc thành Viên hợp danh của công ty hợp danh khác, trừ trường hợp được sự nhất trí của các thành viên hợp danh còn lại. Thành viên hợp danh khối 2 thuộc quyền nhân danh cá nhân hoặc nhận danh người khác thất liệu kinh doanh cùng ngành, nghề kinh doanh của công ty đó để trở lại hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác.

– Khoản 3 Điều 183 Luật Doanh nghiệp 2014 quy định: “Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân. Chủ doanh nghiệp tư nhân không được đồng thời là chủ hộ kinh doanh, thành viên công ty hợp danh”

Các doanh nghiệp do những đối tượng không được quyền thành lập doanh nghiệp thành lập, khi bị phát hiện sẽ bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và xóa tên khỏi số đăng ký kinh doanh. Ngoài ra, những đối tượng này còn bị xử lý vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm hành chính trong đăng kí kinh doanh.

Vấn đề pháp lý về góp vốn nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất

Đơn yêu cầu bảo đảm chi phí tố tụng trong tố tụng trọng tài

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest

  1. Bài viết trong lĩnh vực nêu trên được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: info@everest.org.vn.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Gọi tư vấn
icons8-exercise-96