Vấn đề củng cố và hoàn thiện chế độ sở hữu toàn dân về đất đai

22/02/2023
Hiến pháp năm 1980 ra đời đã tạo cơ sở pháp lý cho việc xây dựng chế độ sở hữu toàn dân về đất đai với quy định đất đai là của Nhà nước thuộc sở hữu toàn dân (Điều 19). Kể từ đó đến nay, chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai luôn luôn được khẳng định trong các văn bản pháp luật đất đai của Nhà nước ta. Tuy nhiên, trong điều kiện kinh tế thị trường, chế độ sở hữu toàn dân về đất đai cần phải được củng cố và hoàn thiện cho phù hợp với những đòi hỏi của thực tiễn.

1- Sự cần thiết phải tiếp tục xây dựng, củng cố và hoàn thiện sở hữu toàn dân đối với đất đai ở nước ta

Xét về mặt lý luận, trong tất cả các cuộc cách mạng thì vẫn chính quyền và vấn để sở hữu luôn luôn chiếm vị trí trung tâm: “Từ trước tới nay, tất cả mọi cuộc cách mạng đều là những cuộc cách mạng nhằm bảo hộ một loại sở hữu". Nhận thức được tầm quan trọng của văn đề sở hữu, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách và pháp luật đề cập vấn đề sở hữu nói chung và sở hữu đất đai nói riêng. Những chủ trương, chính sách này được thể hiện trong các nghị quyết đại hội Đảng, nghị quyết của Ban chấp hành trung ương Đảng, Hiến pháp và các đạo luật đất đai v.v..

Việc giao đất, cho thuê đất cho: tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài và cho phép người sử dụng đất được chuyển quyền sử dụng đất trong thời hạn sử dụng đất nhằm đáp ứng đòi hỏi bức xúc của việc giải phóng mọi năng lực sản xuất của người lao động (đặc biệt là giải phóng năng lực sản xuất của người nông dân) nằm giải quyết những nhu cầu cấp bách của xã hội về lương thực, thực phẩm. Vậy cần phải hiểu khái niệm về chủ sở hữu đất đai trong điều kiện này như thể nào: Toàn dân, Nhà nước hay người sử dụng đất mới là chủ sở hữu đích thực đối với đất đai? Hơn nữa, trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế, khi chúng ta nhận thức ngày càng sâu sắc hơn về vai trò của đất đai là một trong những nguồn lực chủ yếu,nguồn vốn to lớn để phát triển đất nước, cùng với những đòi hỏi của việc quản lý đất đai trong nền kinh tế thị trường đang đặt ra sự cần thiết phải phân tích, đánh giá một cách sâu sắc và toàn diện vấn đề sở hữu toàn dân về đất đai ở nước ta. Bên cạnh những thành tựu không thể phủ nhận của hình thức sở hữu đất đai này mang lại, pháp luật về sở hữu toàn dân đối với đất đai cồn bộc lộ một số hạn chế. Những hạn chế này thể hiện ở những khía cạnh chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, nội dung những quy định trên làm nảy sinh một số mâu thuẫn: 

i) Toàn dân là một khái niệm chính trị và theo Lý luận Nhà nước và Pháp luật, toàn dân không phải là một chủ thể của quan hệ pháp luật nhưng lại là chủ thể của quyền sở hữu đất đai

ii) Toàn dân là chủ sở hữu đất đai nhưng lại không thực hiện quyền định đoạt đất đai với tư cách chủ sở hữu mà giao cho người đại diện là Nhà nước thực hiện quyền định đoạt đất đai, 

iii) Pháp luật nghiêm cấm việc mua bán, chuyển nhượng đất đai mà chỉ cho phép người sử dụng đất được chuyển quyền sử dụng đất trong thời hạn sử dụng đất sóng trong các quy định của J.luật đất đai năm 2013 không có quy định về giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà chỉ có quy định về giá đất v.v. Vậy vấn đề đặt ra cần phải giải quyết là toàn dân trao quyền đại diện chủ sở hữu đất đai cho Nhà Nước theo cơ chế nào (cơ chế trực tiếp hay cơ chế gián tiếp); việc giám sát, kiểm soát việc thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện như thế nào để phòng chống tham nhũng, tiêu cực hoặc vì lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ trong giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất và thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư; toàn dân

Thứ hai, pháp luật đất đai mới tiếp cận vấn đề sở hữu toàn dân đối với đất đai chủ yếu theo khía cạnh kinh tế, tức là xem xét đất đai với tư cách là tư liệu sản xuất đặc biệt trong sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp. Cũng đều xuất phát từ nhận thức đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt song pháp luật ở mỗi giai đoạn lịch sử phát triển đất nước khác nhau lại xử lý quan hệ đất đai theo những cách thức khác nhau. Trong nền kinh tế vận hành theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung, đất đai được quản lý rất chặt chẽ và pháp luật ở thời kỳ đó nghiêm cấm việc mua bán, chuyển nhượng đất đai, phát canh thu tô dưới mọi hình thức. Còn trong nền kinh tế thị trường hiện nay, việc quản lý đất đai có sự thay đổi bằng quy định giao đất cho các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân (người sử dụng đất) sử dụng ổn định, lâu đài và được chuyển quyền sử dụng trong thời hạn sử dụng đất. Xét về mặt kinh tế, những quy định này đã gắn bó người lao động, sức lao động với tư liệu sản xuất và đất đai được sử dụng ngày càng hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả: “Những đối mới trong chính sách, pháp luật về đất đai hơn lãi năm qua đã đưa đến những kết quả tích cực, thúc đẩy kinh tế phát triển, đặc biệt là sản xuất nông nghiệp, góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội. Người sử dụng đất gắn bó nhiều hơn với đất đai, Đất đai được sử dụng có hiệu quả hơn”. Như vậy, pháp luật đất đai đã góp phần trực tiếp, đắc lực tạo ra của cải vật chất cho xã hội bằng cách gắn sức lao động với tư liệu sản xuất mà trước hết là đối với người nông dân. Tuy nhiên, những quy định này cũng gây ra sự mâu thuẫn về mặt pháp lý của vấn đề sở hữu đất đai ở nước ta. Pháp luật đất đai đã quy định cho người sử dụng đất có các quyền thực hiện các giao dịch đất đai, trong đó có những quyền mang tính chất định đoạt của chủ sở hữu đất đai: chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp, thừa kế quyền sử dụng đất... Còn chủ sở hữu là toàn dân và tính cách là một cộng đồng thì không chính thức được quy định hưởng các quyền này, Nhà nước lại chỉ là người thống nhất quản lý và có các quyền thu hồi, giao và cho thuê đất.Vậy ở đây cần phải hiểu quyền sở hữu toàn dân đối với đất đai theo phương điện nào:sở hữu “danh nghĩa” hay sở hữu “kép” hoặc sở hữu “ảo” và với các quyền của người sử dụng đất như vậy thì thực chất họ có phải là người chủ sở hữu đất đai trên thực tế không?

Mặt khác, mối quan hệ giữa Nhà nước với đất đai được biểu hiện trên 3 phương diện cơ bản: Nhà nước với tư cách là một tổ chức chính trị - quyền lực đại điện cho cộng đồng toàn xã hội thực hiện quyền quản lý đất đai - tài sản quý giá nhất của cộng đồng: ở nước ta, Nhà nước - người đại diện chân chính của nhân dân, của cộng đồng, có đầy đủ tư cách để trở thành người đại diện chủ sở hữu toàn dân đối với đất đai; đất đai còn là yếu tố cơ bản của môi trường sống tự nhiên của con người cần việc quản lý đất đai cũng mang những nét riêng biệt không giống với việc quản lý các tài sản khác. Pháp luật đất đai dường như chưa làm rõ những nội dung cụ thể về quyền của Nhà nước trên ba phương diện này. 

Thứ ba, sở hữu toàn dân về đất đai được Hiến pháp năm 2013 và Luật đất đai năm 2013 ghi nhận. Tuy nhiên, quy định về các hình thức sở hữu của Bộ luật dân sự năm 2005 lại không đề cập đến sở hữu toàn dân về đất đai. Điều này dường như tồn tại sự bất tương thích; bởi lẽ, đất đai trước hết là tài sản (cho dù là tài sản đặc biệt đi chăng nữa), vì vậy, sở hữu đất đai phải nằm trong phạm trù khái niệm các hình thức sở hữu tài sản mà Bộ luật dân sự năm 2005 quy định. Sự bất tương thích này đã được Bộ luật dân sự năm 2015 (sửa đổi) quy định và chính thức có hiệu lực từ 1/1/2017.

Thứ tư, với tính chất đặc biệt của quan hệ đất đai, có thể thấy rằng trong tất cả các chế độ và hình thức quan hệ sở hữu đất đai đều có những yếu tố phản ánh lợi ích chung của quốc gia, Nhà nước, cộng đồng và của mọi người dân. Khi đề cập tới một chế độ(hay một hình thức) sở hữu phải xem xét tổng hợp 3 phương diện sau: 

i) Chủ thể sở hữu; 

ii) Các quyền của chủ thể sở hữu; 

iii) Hình thức thực hiện quan hệ sở hữu. Khi xác định chủ thể sở hữu là “toàn dân”, nhưng “toàn dân” lại không phải là một pháp nhân hay một thể nhân và do đó không pháp định, luật định được rõ quyền của chủ sở hữu “toàn dân” là thế nào? “Toàn dân” (trong đó có mỗi người dân) thực hiện các quyền của chủ thể sở hữu (trước hết là các quyền định đoạt, quyền sử dụng, quyền hưởng lợi...) một cách công bằng và bình đẳng như thế nào? Ở đây, quyền của “toàn dân” lại được trao cho người đại diện là Nhà nước. Vì vậy, cần phải hiểu chế độ sở hữu toàn dân về đất đai phù hợp với bản chất và điều kiện cụ thể của nước ta. Trong điều kiện và trình độ phát triển theo định hướng XHCN như hiện nay của nước ta, xác định chế độ sở hữu toàn dân về đất đai thực chất phản ánh chủ yếu về phương diện chính trị - xã hội và tài nguyên quốc gia của quan hệ đất đai với ý nghĩa: đất đai là lãnh thổ, tài nguyên quốc gia, của cả dân tộc, là thành quả cách mạng mang lại cho đa số người lao động; quan hệ đất đai, chế độ sở hữu đất đai không thể là một công cụ để bóc lột người lao động; những lợi ích chủ yếu thu từ đất đai(như thuê sử dụng đất phải được sử dụng phục vụ chung cho xã hội. Còn xét về phương diện pháp lý, phương diện thực tế và phương điện kinh tế chưa thể nói rằng đã đạt tới chế độ sở hữu toàn dân đầy đủ và công bằng thật sự, khi các chủ thể khác nhau trong xã hội (cả pháp nhân và thể nhân) có các quyền tiếp cận đất đai khác nhau, các quyền sử dụng khác nhau và các quyền hưởng lợi khác nhau đối với các loại đất khác nhau. Vì vậy, nếu hiểu và xác định chế độ sở hữu toàn dân về đất đai chỉ có một cấp độ chủ thể sở hữu - sử dụng là toàn dân do Nhà nước đại diện là không phù hợp, dẫn đến trạng thái ''cha chung không ai khóc”, “vô chủ”, không có hiệu quả. Điều này thực tế lịch sử đã chỉ rõ. Vì vậy cần phải chủ thẻ hoá chế độ sở hữu toàn dân thông qua cầu trúc Nhà nước - các chủ thể sử dụng- đất đai bằng các chế định pháp lý. Một chế độ sở hữu được cho là phù hợp khi gắn liền với chế độ sở hữu đó là cấu trúc các chủ thể và các hình thức thực hiện có hiệu quả  chế độ sở hữu đó trên thực tế. Khi xác định các hình thức và cầu trúc quan hệ sở hữu điều quan trọng hàng đầu là phải xác định rõ mục tiêu làm cho tài sản đất đai có chủ cụ thể được gắn bó bởi các quyền, nghĩa vụ và lợi ích chính đáng, tạo cơ sở ổn định chính trị - xã hội, thúc đẩy nâng cao hiệu quả sử dụng đất, đưa quan hệ đất đai vận động có hiệu quả trong nền kinh tế thị trường, phát triển lực lượng sản xuất... Làm cho nguồn lực đất đai vừa được vừa được bảo vệ, phục vụ đắc lực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước; chứ không phải nhằm xác lập các hình thức sở hữu nặng về hình thức nhưng kém hiệu quả thực tế.

Thứ năm, với các quy định hiện hành, quyền sử dụng đất được thừa nhận có giá và tham gia giao dịch trên thị trường. Tuy Nhiên,pháp luật lại chưa chính thức ghi nhận quyền sử dụng đất là tài sản được Nhà nước bảo hộ.

2- Đổi mới quan hệ sở hữu toàn dân về đất đai trong điều kiện kinh tế thị trường

2.1- Định hướng của việc đổi mới quan hệ sở hữu toàn dân về đất đai trong điều kiện kinh tế thị trường 

Trên cơ sở phân tích những hạn chế của việc xây dựng chế độ sở hữu toàn dân về đất đai trong thời gian qua và căn cứ vào đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trong lĩnh vực đất đai cũng như xuất phát từ những đòi hỏi của thực tiễn quản lý và sử dụng đất đai ở nước ta hiện nay, việc đổi mới quan hệ sở hữu toàn dân về đất đai trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta được dựa trên những định hướng cơ bản sau đây:

Thứ nhất, cần xác định rõ ràng hơn, cụ thể hơn người chủ sở hữu toàn dân về đất đai thông qua việc làm rõ vai trò của Nhà Nước. Theo đó, Nhà nước là chủ sở hữu đất đai hay là người đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai.

Thứ hai, việc cùng cố hoàn thiện quan hệ sở hữu toàn dân về đất đai phải đảm bảo quyền quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với toàn bộ vốn đất đai trong phạm vi cả nước.

Thứ ba, mở rộng các quyền của người sử dụng đất nhằm khuyến khích tạo điều kiện để họ gắn bó chặt chẽ, lâu đài với đất đai; trên cơ sở đó khuyến khích người sử dụng đất đầu tư bồi bổ,cải tạo để nâng cao hiệu quả sử dụng đất; đồng thời, tăng cường trách nhiệm, nghĩa vụ của họ trong việc bảo vệ đất đai.

Thứ tư, xác lập khung pháp lý đồng bộ nhằm đưa quan hệ đất đai vận động theo các quy luật khách quan của nền kinh tế thị trường. Hay nói cách khác, việc đổi mới quan hệ sở hữu toàn dân về đất đai phải hướng tới việc xây dựng và quản lý tốt thị trường bất động sản (trong đó có thị trường quyền sử dụng đất) có tổ chức ở nước ta.

2.2- Sự lựa chọn phương thức đổi mới quan hệ sở hữu toàn dân về đất đai của Nhà nước Việt Nam

Khi chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, ở nước ta xuất hiện nhiều quan điểm khác nhau về đổi mới quan hệ sở hữu đất đai,Việc đổi mới quan hệ sở hữu đất đai ở nước ta dựa trên đồi hỏi khách quan của công tác quản lý, sử dụng đất đai trong điều kiện kinh tế thị trường đồng thời để khắc phục tình trạng không xác định cụ thể, rõ ràng người chủ sở hữu đất đai,

Trên cơ sở xem xét, cân nhắc, đánh giá các quan điểm khác nhau về đổi mới quan hệ sở hữu đất đai dựa trên thực tế sử dụng đất và căn cứ vào chủ trương, đường lối đổi mới của Đảng trong lĩnh vực đất đai, Nhà nước ta lựa chọn phương thức đổi mới quan hệ sở hữu toàn dân về đất đai trong điều kiện kinh tế thị trường với những nội dung cụ thể sau:

- Khẳng định nhất quán đất đai thuộc sở hữu toàn dân nhưng xác định rõ hơn vị trí và vai trò của Nhà nước là người đại diện chủ sở hữu đất đai và thực hiện việc thống nhất quản lý toàn bộ đất đai;

- Phân biệt rõ giữa chức năng quản lý nhà nước về đất đai với chức năng quản lý các hoạt động kinh doanh về đất đai;

- Khẳng định nhất quán đất đai thuộc sở hữu toàn dân nhưng xác định rõ hơn vị trí và vai trò của Nhà nước là người đại diện chủ sở hữu đất đai và thực hiện việc thống nhất quân lý toàn bộ đất đai;

- Phân biệt rõ giữa chức năng quản lý nhà nước về đất đai với chức năng quản lý các hoạt động kinh doanh về đất đai;

- Đổi mới các chính sách tài chính về đất đai, Nhà nước thực hiện việc định giá đất và thực hiện việc điều tiết phần giá trị tăng thêm từ đất đai không do sự đầu tư của người sử dụng đất mang lại...;

- Phân biệt rõ vai trò đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai của Nhà nước với chức năng thống nhất quản lý đất đai của Nhà nước;

- Mở rộng các quyền của người sử dụng đất, từng bước tạo điều kiện cho tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài tham gia vào thị trường bất động sản,

- Xác lập cơ sở pháp lý cho việc ra đời thị trường quyền sử dụng đất có tổ chức, thực hiện việc đấu thầu dự án có sử dụng đất và đấu giá quyền sử dụng đất đi đôi với cải cách mạnh mẽ các thủ tục hành chính về đất đai theo hướng dân chủ, bình đẳng, công khai và minh bạch v.v..

2.3- Thể chế hóa việc đổi mới quan hệ sở hữu toàn dân về đất đai trong Luật đất đai năm 2013

Như đã đề cập ở phần trên, một trong những nội dung cơ bản của việc đổi mới quan hệ sở hữu toàn dân về đất đai trong điều kiện kinh tế thị trường ở nước ta là việc xác định cụ thể vị trí, vai trò của Nhà nước là người đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai và phương thức thực hiện vai trò đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai của Nhà nước. Vấn để này được thể chế hoá trong Luật đất đai năm 2013, cụ thể như sau:

Vai trò của Nhà nước với tư cách là người đại diện Chủ sở hữu toàn dân và đất đai

Như đã phân tích ở phần trên, kể từ khi chế độ sở hữu toàn dân về đất đai ra đời, trong tất cả các văn bản pháp luật của Nhà nước cũng như các văn kiện của Đảng trước khi Luật đất đai năm 2003 được ban hành đều không xác định rõ Nhà nước có phải là người đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai hay không. Các văn bản này đều dừng lại ở việc quy định đất đai là của toàn dân do Nhà Nước thống nhất quản lý. Chính việc không xác định rõ vai trò của Nhà nước trong quan hệ sở hữu toàn dân về đất đai đã dẫn đến việc buông lỏng công tác quản lý đất đai, dẫn đến việc đất đai bị sử dụng không đúng mục đích, lãng phí; gây nên tình trạng đầu cơ, buôn bán đất đai kiếm lời hoặc gây thiệt hại, thất thoát tài sản quốc gia và không đảm bảo nguyên tắc công bằng xã hội trong sử dụng đất; giao, cho thuê đất, thu hồi đất không đúng quy định của pháp luật... Những yếu kém này đã tạo ra sự bất bình trong xã hội và phát sinh những tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai kéo đài...Hậu quả là gây mất ổn định về chính trị, phá vỡ sự đoàn kết trong nội bộ nhân dân; ảnh hưởng xấu đến môi trường đầu tư và làm giảm sức cạnh tranh của nền kinh tế. Dễ khắc phục những hạn chế này, góp phần duy trì sự ổn định chính trị và làm lành mạnh hoá các quan hệ đất đai... Luật đất đai năm 2013 được ban hành thay thế Luật đất đai năm 1993, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đất đai năm 1998, năm 2001 và Luật đất đai năm 2003, đã có các quy định cụ thể về vai trò của Nhà nước trong lĩnh vực sở hữu đất đai. Những quy định này góp phần hoàn thiện chế độ sở hữu toàn dân về đất đai trong nền kinh tế thị trường ở nước ta. Cụ thể:

Thứ nhất, bên cạnh việc tiếp tục khẳng định quan điểm đất đai thuộc sở hữu toàn dân được ghi nhận tại Hiến pháp năm 1980,Hiến pháp năm 1992, Hiến pháp năm 2013, Luật đất đai năm 1987, Luật đất đai năm 1993, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đất đai năm 1998, năm 2001 và Luật đất đai năm 2003,Luật đất đai năm 2013 đã kế thừa quy định của Luật đất đai năm 2003 “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu” (khoản 1 Điều 5). Đồng thời, bổ sung quy định quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai của Nhà nước với trách nhiệm quản lý đất đai của Nhà nước.

Thứ hai, không chỉ xác định rõ vai trò là người đại diện chủ sử hữu, Luật đất đai năm 2013 còn quy định cụ thể cho Nhà nước thực hiện quyền định đoạt đất đai thông qua các biện pháp như sau:

i) Quyết định quy hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất;

ii) Quyết định mục đích sử dụng đất;

iii) Quy định hạn mức sử dụng đất, thời hạn sử dụng đấu;

iv) Quyết định thu hồi đất, trưng dụng đấu; v) Quyết định giá đất;

v) Quyết định trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất;

vi) Quyết định chính sách tài chính về đất đai;

vii) Quy định quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất.

Thứ ba, với tư cách là đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai, Nhà nước quyết định chính sách tài chính về đất đai; cụ thể:

- Quyết định chính sách thu, chi tài chính.

- Nhà nước điều tiết phần giá trị tăng thêm từ đất mà không do đầu tư của người sử dụng đất mang lại thông qua chính sách thuế,tiễn sử dụng đất, tiền thuê đất, đầu tư cơ sở hạ tầng và chính sách hỗ trợ cho người có đất thu hồi.

Đây là một chính sách tài chính mới về đất đai, lần đầu tiên được Luật đất đai năm 2003 đề cập và được Luật đất đai năm 2013 kế thừa và bê sung. Chính sách này ra đời dựa trên những đòi hỏi bức xúc về việc thực hiện công bằng xã hội trong sử dụng đất đai và tham khảo kinh nghiệm về quản 1í đất đai trong điều kiện kinh tế thị trường của một số nước khác như: Đài Loan, Trung Quốc, Pháp... Bởi lẽ, mặc dù pháp luật quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý song trên thực tế, toàn dân với tư cách là cộng đồng chủ sở hữu lại không được hưởng các lợi ích do hình thức sở hữu toàn dân về đất đai hoặc sự đầu tư của xã hội vào đất đai mang lại; những lợi ích này lại rơi vào túi của một nhóm người. Điều này đang gây ra sự phản ứng, bắt bình trong xã hội.

Thứ tư, Luật đất đai năm 2013 đã phân biệt rõ ràng, rành mạch quyền đai diện chủ sở hữu đất đai với trách nhiệm của Nhà nước đối với đất đai. Trách nhiệm của Nhà nước đối với đất đai được ghi nhận trong Luật đất đai năm 2013 bao gồm các trách nhiệm cụ thể sau: 

i) Xác định nội dung quản lý nhà nước về đất đai; 

ii) Xác Định trách nhiệm quản lý nhà nước về đất đai; 

iii) Bảo đảm của Nhà nước đối với người sử dụng đất; 

iv) Xác định trách nhiệm của Nhà nước về đất ở, đất sản xuất nông nghiệp đối với đồng bào dân tộc thiểu số; 

v) Xác định trách nhiệm của Nhà nước trong việc xây dựng, cung cấp thông tin đất đai.

Việc phân biệt rõ quyền đại diện chủ sở hữu đất đai với trách nhiệm của Nhà nước đối với đất đai có ý nghĩa cá về mặt lý luận và thực tiễn nhằm tăng cường trách nhiệm, vai trò của Nhà nước cũng như nâng cao hiệu quả của công tác quản lý nhà nước về đất đai trong giai đoạn hiện nay.

Thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai.

Một trong những hạn chế của các đạo Luật đất đai được ban hành trước đây là không phân định rõ quyền của Nhà nước với tư cách đại diện chủ sở hữu đất đai và trách nhiệm của Nhà nước đối với đất đai. Hạn chế này đã góp phần làm giảm hiệu lực quản lý đất đai của Nhà nước. Khắc phục nhược điểm này, Luật đất đai năm 2013 đã quy định rõ việc Nhà nước thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai và trách nhiệm của Nhà nước đối với đất đai.

- Quy định về việc Nhà nước thực hiện quyền đại diện chủ  sở hữu toàn dân về đất đai

Theo quy định của Hiến pháp năm 2013, ở nước ta tất cả quyền lực thuộc về nhân dân. Một trong những bình thức để nhân dân thực hiện quyền lực của mình là thông qua hệ thống cơ quan dân cử (hệ thống cơ quan quyền lực): Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp. Hơn nữa, đất đai ở nước ta lại thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu. Chính vì vậy, Nhà nước thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu đất đai thông qua hệ thống cơ quan quyền lực là Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp. Cụ thể:

+ Quốc hội với tư cách là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất thực hiện quyền ban hành luật, nghị quyết về đất đai, quyết định quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấp quốc gia; thực hiện quyền giám sát tối cao đối với việc quản lý và sử dụng đất đai trong phạm vi cả nước;

+ Hội đồng nhân dân các cấp với tư cách là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương thực hiện quyền thông qua quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất của địa phương mình trước khi trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt; thông qua bảng giá đất, việc thu hồi đất thực hiện các dự án phát triển kinh tế - xã hội và lợi ích quốc gia,công cộng của địa phương theo thắm quyền do pháp luật đất đai quy định; giám sát việc thi hành pháp luật đất đai tại địa phương.

+ Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu về đất đai theo thẩm quyền do pháp luật đất đai quy định.

- Luật đất đai năm 2013 thể chế hóa quy định của Hiến pháp năm 2013 về quyền sử dụng đất được pháp luật bảo hộ (khoản 2 Điều 54).

- Bên cạnh hình thức giám sát gián tiếp thông qua các cơ quan đại diện (Quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp) và Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, Luật đất đai năm 2013 bổ sung quy định về quyền giám sát trực tiếp của công dân đối với việc quản lý, sử dụng đất đai (Điều 199).

0 bình luận, đánh giá về Vấn đề củng cố và hoàn thiện chế độ sở hữu toàn dân về đất đai

TVQuản trị viênQuản trị viên

Xin chào quý khách. Quý khách hãy để lại bình luận, chúng tôi sẽ phản hồi sớm

Trả lời.
Thông tin người gửi
Bình luận
Nhấn vào đây để đánh giá
Thông tin người gửi
Tổng đài tư vấn: 024-66 527 527
Giờ làm việc: Thứ 2 - Thứ 7: 8h30 - 18h00
0.29200 sec| 1050.727 kb