Chi phí tố tụng theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam

01/03/2023
Khi toà án uỷ thác tư pháp ra nước ngoài phải bỏ ra một số tiền để chi phí cho việc tiến hành uỷ thác tư pháp ra nước ngoài, số tiền này được gọi là chi phí uỷ thác tư pháp ra nước ngoài. Chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài là số tiền phải chi trả cho việc thực hiện uỷ thác tư pháp theo quy định của pháp luật Việt Nam và của nước được yêu cầu uỷ thác tư pháp. Và việc buộc các đương sự chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ có ý nghĩa bù lại một phần chi phí của Nhà nước cho hoạt động xét xử của toà án. Ngoài ra, còn có tác dụng buộc các đương sự phải thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình, không được lạm dụng việc thực hiện quyền tố tụng gây khó khăn cho việc giải quyết vụ việc dân sự của toà án.

1- Chi phí uỷ thác tư pháp ra nước ngoài

Để giải quyết vụ việc dân sự, trong một số trường hợp, toà án phải uỷ thác tư pháp ra nước ngoài. Khi toà án uỷ thác tư pháp ra nước ngoài phải bỏ ra một số tiền để chi phí cho việc tiến hành uỷ thác tư pháp ra nước ngoài, số tiền này được gọi là chi phí uỷ thác tư pháp ra nước ngoài. Chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài là số tiền phải chi trả cho việc thực hiện uỷ thác tư pháp theo quy định của pháp luật Việt Nam và của nước được yêu cầu uỷ thác tư pháp. Việc buộc các đương sự chịu chi phí uỷ thác tư pháp ra nước ngoài có ý nghĩa bù lại một phần chi phí của Nhà nước cho hoạt động xét xử của toà án. Ngoài ra, còn có tác dụng buộc các đương sự phải thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình, không được lạm dụng việc thực hiện quyền tố tụng gây khó khăn cho việc giải quyết vụ việc dân sự của toà án. Chi phí uỷ thác tư pháp ra nước ngoài phải là số tiền cần thiết và họp lí phải chi trả cho việc thực hiện uỷ thác tư pháp theo quy định của pháp luật Việt Nam và của nước được yêu cầu uỷ thác tư pháp. Toà án không được thu trả chi phí uỷ thác tư pháp ra nước ngoài quá số tiền cần thiết và hợp lí phải chi trả cho việc thực hiện uỷ thác tư pháp.

Trước khi toà án uỷ thác tư pháp ra nước ngoài, đương sự phải tạm nộp một số tiền để chi trả cho việc uỷ thác tư pháp khi tiến hành thu thập, cung cấp chứng cứ, tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu, triệu tập người làm chứng, người giám định và các yêu cầu tương trợ tư pháp có iiên quan đến việc giải quyết vụ việc dân sự. số tiền này được gọi là tiền tạm ứng chi phí uỷ thác tư pháp ra nước ngoài. Nguyên đơn, người kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm hoặc đương sự khác trong vụ án phải nộp tiền tạm ứng chi phí uỷ thác tư pháp ra nước ngoài khi yêu cầu của họ làm phát sinh việc uỷ thác tư pháp ra nước ngoài. Người yêu cầu toà án giải quyết việc dân sự, người kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm hoặc đương sự khác trong việc dân sự phải nộp tiền tạm ứng chi phí uỷ thác tư pháp ra nước ngoài khi yêu cầu của họ làm phát sinh việc uỷ thác tư pháp ra nước ngoài. Đối với số tiền tạm ứng chi phí chi phí uỷ thác tư pháp ra nước ngoài sẽ được toà án quyết định xử lí khi giải quyết vụ việc dân sự theo các nguyên tắc sau:

- Trường hợp người đã nộp tiền tạm ứng chi phí uỷ thác tư pháp không phải chịu chi phí uỷ thác tư pháp thì người phải chịu chi phí uỷ thác tư pháp theo quyết định của toà án phải hoàn trả cho người đã nộp tiền tạm ứng chi phí uỷ thác tư pháp;

- Trường hợp người đã nộp tiền tạm ứng chi phí uỷ thác tư pháp phải chịu chi phí uỷ thác tư pháp, nếu số tiền tạm ứng đã nộp chưa đủ cho chi phí uỷ thác tư pháp thực tê thì họ phải nộp thêm phần tiền cồn thiếu; nếu số tiền tạm ứng đã nộp nhiều hơn chi phí uỷ thác tư pháp thực tế thì họ được trả lại phần tiền còn thừa theo quyết định của toà án.

Khi quyết định giải quyết vụ việc dân sự, toà án quyết định nghĩa vụ nộp tiền chi phí uỷ thác tư pháp ra nước ngoài theo nguyên tắc người có lỗi trong việc đưa. ra yêu cầu uỷ thác tư pháp phải nộp tiền chi phí uỷ thác tư pháp ra nước ngoài. Trường hợp các bên đương sự không có thoả thuận khác hoặc pháp luật không có quy định khác thì nghĩa vụ chịu chi phí uỷ thác tư pháp ra nước ngoài được xác định như sau:

- Đương sự phải chịu chi phí uỷ thác tư pháp ra nước ngoài nếu yêu cầu giải quyểt vụ việc của họ không được toà án chấp nhận;

- Trường hợp yêu cầu toà án chia tài sản chung thì mồi người được chia tài sản phải chịu phần chi phí uỷ thác tư pháp ra nước ngoài tương ứng với tỉ lệ giá trị phần tài sản mà họ được chia;

- Trong vụ án li hôn thì nguyên đơn phải nộp chi phí uỷ thác tư pháp ra nước ngoài, không phụ thuộc vào việc toà án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn; trường hợp cả hai thuận tình li hôn thì mỗi bên đương sự phải chịu một nửa chi phí uỷ thác tư pháp ra nước ngoài;

- Trường hợp đình chỉ giải quyết vụ án ở toà án cấp sơ thẩm do người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện hoặc nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt (điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015) và đình chỉ giải quyết vụ án ở toà án cấp phúc thẩm khi bị đơn đồng ý chấp nhận việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn (đỉểm b khoản 1 Điều 299 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015) thì nguyên đơn phải chịu chi phí uỷ thác tư pháp ra nước ngoài;

- Trường hợp đình chỉ giải quyết việc xét xử phúc thẩm do người kháng cáo rút toàn bộ kháng cáo hoặc viện kiểm sát rút toàn bộ kháng nghị (điểm b khoản 1 Điều 289 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015), người kháng cáo được toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vắng mặt (khoản 3 Điều 296 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015) thì người kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm phải chịu chi phí uỷ thác tư pháp ra nước ngoài;

- Đối với các trường hợp đình chỉ giải quyết vụ án khác theo quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015 thì người yêu cầu phải chịu chi phí uỷ thác tư pháp ra nước ngoài.

Hiện nay, định nghĩa chi phí uỷ thác tư pháp ra nước ngoài, nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng chi phí uỷ thác tư pháp ra nước ngoài, việc xử lí tiền tạm ứng chi phí uỷ thác tư pháp ra nước ngoài, việc chịu chi phí uỷ thác tư pháp ra nước ngoài được quy định tại các điều từ Điều 151 đến Điều 154 và Điều 169 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015. Việc thu nộp chi phí uỷ thác tư pháp ra nước ngoài được thực hiện theo các quy định này và các quy định của văn bản hướng dẫn thi hành Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.

2- Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ

Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết, toà án phải tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ các tài sản, đồ vật tranh chấp, tài liệu hoặc vật chứng. Khi toà án xem xét, thẩm định tại chỗ phải bỏ ra một số tiền để chi phí cho việc tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ. sổ tiền này được gọi là chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ. Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là số tiền chi trả cho thực hiện công việc xem xét, thẩm định tại chỗ trong giải quyết vụ việc dân sự. Việc buộc các đương sự chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ có ý nghĩa bù lại một phần chi phí của Nhà nước cho hoạt động xét xử của toà án. Ngoài ra, còn có tác dụng buộc các đương sự phải thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình, không được lạm dụng việc thực hiện quyền tố tụng gây khó khăn cho việc giải quyết vụ việc dân sự của toà án.

Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ phải là số tiền cần thiết và hợp lí phải chi trả cho việc xem xét, thẩm định tại chỗ căn cứ vào quy định của pháp luật. Toà án không được thu trả chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ quá sổ tiền cần thiết và hợp lí phải chi trả cho việc xem xét, thẩm định tại chỗ. Để thực hiện việc xem xét, thẩm định tại chỗ, toà án quyết định đương sự tạm nộp trước một số tiền để chi trả cho việc xem xét, thẩm định tại chỗ sổ tiền này được gọi là tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ. Người yêu cầu toà án xem xét, thẩm định tại chỗ phải nộp tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ theo yêu cầu của toà án. Trường hợp toà án xét thấy cần thiết và quyết định xem xét, thẩm định tại chỗ thì nguyên đơn, người yêu cầu giải quyết việc dân sự, người kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm phải nộp tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.


 
Đối với số tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ đã nộp sẽ được toà án quyết định xử lí khi giải quyết vụ việc dân sự theo các nguyên tắc sau:
- Trường hợp người đã nộp tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ không phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ thì người phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ theo quyết định của toà án phải hoàn trả cho người đã nộp tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ;
- Trường hợp người đã nộp tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ; nếu số tiền tạm ứng đã nộp chưa đủ cho chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ thực tế thì họ phải nộp thêm phần tiền còn thiếu; nếu sổ tiền tạm ứng đã nộp nhiều hơn chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ thực tể thì họ được trả lại phần tiền còn thừa theo quyết định của toà án.

Khi quyết định giải quyết vụ việc dân sự, toà án quyết định nghĩa vụ nộp tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ của các đương sự theo nguyên tắc người có lỗi trong việc đưa ra yêu cầu xem xét, thẩm định tại chỗ phải nộp tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ. Trường hợp các bên đương sự không có thoả thuận khác hoặc pháp luật không có quy định khác thì nghĩa vụ chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ được xác định như sau:
- Đương sự phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ nếu yêu cầu của họ không được toà án chấp nhận;
- Trường hợp yêu cầu toà án chia tài sản chung thì mồi người được chia tài sản phải chịu phần chi phí xem xét, thẩm định tại chồ theo tỉ lệ giá trị phần tài sản mà họ được chia;
- Trong vụ án li hôn thì nguyên đơn phải nộp chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, không phụ thuộc vào việc toà án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu cũ nguyên đơn; trường hợp cả hai thuận tình li hôn thì mỗi bên đương sự phải chịu một nửa chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ; người khởi kiện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện hoặc nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vẫn vắng mặt (điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015) và đình chỉ giải quyết vụ án ở toà án cấp phúc thẩm khi bị đơn đồng ý chấp nhận việc rút đơn khởi kiện của nguyên đơn (điểm b khoản 1 Điều 299 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015) thì nguyên đơn phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ;
- Trường hợp đình chỉ giải quyết việc xét xử phúc thẩm do người kháng cáo rút toàn bộ kháng cáo hoặc viện kiểm sát rút toàn bộ kháng nghị (điểm b khoản 1 Điều 289 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015), người kháng cáo được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà vắng mặt (khoản 3 Điều 296 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015) thì người kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ;
- Đối với các trường hợp đình chỉ giải quyết vụ án khác theo quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015 thì người yêu cầu xem xét, thẩm định phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.

Hiện nay, định nghĩa chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, việc xử lí tiền tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, việc chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ được quy định tại các điều từ Điều 155 đến Điều 158 và Điều 169 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015. Việc thu nộp chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ được thực hiện theo các quy định này và các quy định của văn bản hướng dẫn thi hành Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.

 

0 bình luận, đánh giá về Chi phí tố tụng theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam

TVQuản trị viênQuản trị viên

Xin chào quý khách. Quý khách hãy để lại bình luận, chúng tôi sẽ phản hồi sớm

Trả lời.
Thông tin người gửi
Bình luận
Nhấn vào đây để đánh giá
Thông tin người gửi
Tổng đài tư vấn: 024-66 527 527
Giờ làm việc: Thứ 2 - Thứ 7: 8h30 - 18h00
0.29743 sec| 978.68 kb