Trang chủ » Điều kiện về chủ thể khởi kiện trong dân sự

Điều kiện về chủ thể khởi kiện trong dân sự

Để khởi kiện trong dân sự, chủ thể khởi kiện phải có quyền khi kiện và có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự. Đây là điều kiện đầu tiên phải xác định khi đương sự thực hiện việc khởi kiện và được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

chủ thể khởi kiện trong dân sự
Công ty Luật TNHH Everest – Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198

Điều kiện về chủ thể khởi kiện trong vụ án dân sự

Thứ nhất, người khởi kiện phải là người có quyền, lợi ích hợp pháp về dân sự; Hôn nhân và gia đình; kinh doanh, thương mại, lao động (sau đây gọi tắt là dân sự). Về nguyên tắc, quyền, lợi ích hợp pháp vì dân sự chỉ có được khi chủ thể tham gia vào quan lực pháp luật nội dung quan hệ dân sự; Hôn nhân và gia đình; kinh doanh, thương mại, lao động (viết tắt là quan hệ dân sự). Chủ thể không có quyền, lợi ích dân sự không có quyền khởi kiện trừ một số trường hợp ngoại lệ theo quy định của pháp luật, Luật sư cần lưu ý rằng, có quyền, lợi ích dân sự hợp pháp chỉ là điều kiện cần trong quyền khởi kiện của chủ thể khởi kiện. Mặc dù người khởi kiện có quyền lợi khi dân sự nhưng quyền, lợi ích đó không hoặc chưa bị xâm phạm thì cũng chưa đủ điều kiện khởi kiện.

Về nguyên tắc, chỉ có cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền, lợi ích bị xâm phạm mới có quyền khởi kiện để yêu cầu Toà án bảo vệ quyền lại của mình. Bên cạnh đó, để bảo vệ quyền hay lợi ích hợp pháp của người khác hoặc bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách, trong một số trường hợp đặc biệt, pháp luật quy định quyền khởi kiện của các cá nhân, cơ quan, tổ chức gồm:

Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền khởi kiện trong trường hợp cần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của những người quy định tại khoản 5 Điều 84; khoản 2 Điều 86; khoản 3 Điều 102; khoản 2 Điều 119 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Tổ chức đại diện tập thể lao động có quyền khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể người lao động hoặc khi được người lao động ủy quyền. Việc khởi kiện của tổ chức đại diện tập thể lao động được thực hiện theo quy định của Bộ luật Lao động năm 2012.

Tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng có quyền đại diện cho người tiêu dùng khởi kiện bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng hoặc vì lợi ích công cộng theo quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu được năm 2010

Cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền khi kiện vụ ăn đến vụ để yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách hoặc theo quy định của pháp luật. Theo đó, cơ quan, tổ chức có quyền khởi kiện vụ án dân sự khi có đầy đủ các điều kiện sau đây:

(i) Cơ quan, tổ chức đó có những nhiệm vụ, quyền hạn trong việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước, quản lý xã hội về một lĩnh vực nhất định. 

(ii) Lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước cần yêu cầu Tòa án bảo vệ và phải thuộc lĩnh vực do cơ quan, tổ chức đó phụ trách.

Ngoài ra, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 còn quy định cá nhân có quyền khởi kiện vụ án hôn nhân và gia đình để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người khác theo quy định tại khoản 2 Điều 51; khoản 5 Điều 84; khoản 2 Điều 86; Điều 92, khoản 3 Điều 102; khoản 2 Điều 119 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Đây là quy định mới được bổ sung trong Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Cá nhân có quyền khởi kiện trong các trường hợp nêu trên được quy định tại khoản 1 Điều 3; điểm a khoản 3 Điều 102 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chỉ quy định cha, mẹ, con, người giá hộ mới có quyền khởi kiện.

Thứ hai, ngoài quyền khởi kiện, người khởi kiện phải có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự Năng lực hành vi tố tụng dân sự là khả năng tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia tố trong dân sự. Người khởi kiện không có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự là người không có khả năng tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia tố tụng dân sự theo quy định tại Điều 69 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Người khởi kiện vụ án dân sự là cá nhân phải là con người cụ thể, không phân biệt người nước ngoài hay người Việt Nam ở trong nước hay người Việt Nam định cư, làm ăn, học tập, công tác ở nước ngoài hoặc người nước ngoài không ở Việt Nam có mặt tại Việt Nam. Tuy nhiên, họ phải là người đạt độ tuổi nhất định, sức khỏe bình thường, không bị mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình. Luật sư cần căn cứ quy định tại Điều 69 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 để xác định năng lực hành vi tố tụng dân sự của cá nhân. Người từ đủ mười tám tuổi trở lên có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự, trừ người mất năng lực hành vi dân sự hoặc pháp luật có quy định khác.

Trường hợp cá nhân là người chưa có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự, mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi dân sự họ không thể thực hiện được quyền khởi kiện do đó người đại diện hợp pháp thực hiện quyền khởi kiện. Tuy nhiên, người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi mặc dù năng lực hành vi tố tụng dân sự chưa đầy đủ nhưng họ vẫn có quyền khởi kiện khi thuộc các trường hợp quy định tại khoản 6 Điều 69 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Người khởi kiện là cá quan, tổ chức thực hiện quyền khởi kiện thông qua người đại diện hợp pháp. Người đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức là người đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền. Đại diện theo pháp luật của pháp nhân được quy định trong điều lệ của pháp nhân; giấy  chứng nhận đăng ký kinh doanh, giấy chứng nhận dạng ký doanh nghiệp hoặc trong quyết định thành lập pháp nhân. Năng lực hành vi tố tụng dân sự của pháp nhân được xác định thông qua năng lực hành vi tố tụng dân sự của cá nhân người đại diện hợp pháp. Nếu cơ quan, tổ chức bị sáp nhập phân chia giải thể thì cơ quan, tổ chức, cá nhân kế thừa quyền và nghĩa vụ được thực hiện quyền khởi kiện cơ quan, tổ chức muốn thực hiện quyền khởi kiện phải có tư cách pháp nhân. Các đơn vị phụ thuộc của pháp nhân như chi nhánh, văn phòng đại diện không phải là pháp nhân, không có tư cách chủ thể khởi kiện nên không có quyền khởi kiện vụ án dân sự. Việc khởi kiện bảo vệ quyền lợi của hộ gia đình, cả hợp tác tổ chức khác không có tư cách pháp nhân được pháp luật quy định cụ thể, Theo Điều 101 Bộ luật dân sự năm 2015, trường hợp hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân tham gia quan hệ dân sự thì các thành viên của hộ gia đình, tổ hợp tác tổ chức khác không có tư cách pháp nhân là chủ thể tham gia xác lập, thực hiện giao dịch dân sự hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia xác lập, thực hiện giao dịch dân sự. Vì vậy, việc khởi kiện trong trường hợp này do cá nhân thành viên của hộ gia đình, tổ hợp tác, tổ chức khác không có tư cách pháp nhân thực hiện.

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest:

  1. Bài viết trong lĩnh vực pháp luật được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: info@everest.org.vn. 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

19006198
Liên hệ