Khái quát chung về án phí và lệ phí dân sự

13/04/2023
Đặng Thu Trang
Đặng Thu Trang
Việc thu án phí, lệ phí vừa phản ánh đúng bản chất của vụ việc dân sự vừa có ý nghĩa rất lớn đối với việc giải quyết vụ việc dân sự. Mặt khác, cũng góp phần bảo đảm thực hiện được chính sách tài chính của Nhà nước ta. Trong vụ việc dân sự, đương sự là người có quyền, lợi ích liên quan đến vụ án. Việc toà án giải quyết vụ việc dân sự là vì lợi ích riêng của đương sự nên buộc đương sự phải chịu một phần các chi phí tố tụng là hoàn toàn hợp lí.

I- Khái niệm, ý nghĩa và các loại án phí, lệ phí

1- Khái niệm án phí, lệ phí

Nhà nước phải chi phí cho việc toà án tiến hành giải quyết các vụ việc dân sự là do lỗi của đương sự hoặc vì lợi ích riêng của đương sự. Do vậy, pháp luật quy định đương sự phải chịu một phần số tiền Nhà nước đã chi cho toà án thực hiện các hoạt động đó. Đối với các khoản tiền này được gọi là án phí, lệ phí. Trong đó, án phí dân sự là số tiền đương sự phải nộp ngân sách nhà nước khi vụ án dân sự được toà án giải quyết; lệ phí là số tiền đương sự phải nộp ngân sách nhà nước khi toà án giải quyết việc dân sự hoặc khi toà án thực hiện các công việc theo yêu cầu của họ.

Các đương sự phải chịu án phí, lệ phí theo quy định của pháp luật đối với từng loại vụ việc, trên cơ sở lợi ích và mức độ lỗi của họ trong quan hệ pháp luật toà án giải quyết.

Để bảo đảm thực hiện đúng được chế độ tài chính trong công tác xét xử thì việc thu tiền tạm ứng án phí và án phí, tiền tạm ứng lệ phí và lệ phí; việc chi trả tiền tạm ứng án phí, tiền tạm ứng lệ phí phải được thực hiện theo quy định của pháp luật. Toàn bộ số tiền án phí, lệ phí thu được phải nộp đầy đủ, kịp thời vào ngân sách nhà nước.

Pháp luật Việt Nam quy định mức thu án phí, lệ phí vừa phải, hợp lí. Việc thu án phí, lệ phí chỉ nhằm buộc các đương sự chịu một phần chi phí của Nhà nước cho việc giải quyết vụ việc dân sự của toà án nên mức thu án phí, lệ phí ở mức mọi người đều có thể nộp được, không hạn chế việc tham gia tố tụng của họ. Ngoài ra, trong trường họp hoàn cảnh của đương sự có khó khăn thì tuỳ mức độ được toà án cho miễn nộp một phần hoặc toàn bộ án phí, lệ phí. Ở một số vụ việc dân sự, Nhà nước còn quy định miễn án phí, lệ phí cho đương sự. Hiện nay, việc thu án phí, lệ phí được thực hiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 và quy định của Nghị quyết của ủy ban thường vụ Quốc hội số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí toà án (sau đây gọi tắt là Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14).

2- Ý nghĩa của việc thu án phí, lệ phí

Việc thu án phí, lệ phí vừa phản ánh đúng bản chất của vụ việc dân sự vừa có ý nghĩa rất lớn đối với việc giải quyết vụ việc dân sự. Mặt khác, cũng góp phần bảo đảm thực hiện được chính sách tài chính của Nhà nước ta. Trong vụ việc dân sự, đương sự là người có quyền, lợi ích liên quan đến vụ án. Việc toà án giải quyết vụ việc dân sự là vì lợi ích riêng của đương sự nên buộc đương sự phải chịu một phần các chi phí tố tụng là hoàn toàn hợp lí.

Việc thu án phí, lệ phí liên quan đến tài chính của đương sự nên có tác dụng buộc các đương sự phải suy nghĩ cẩn thận trước khi khởi kiện, yêu cầu toà án giải quyết việc dân sự và thực hiện các công việc khác. Thông qua đó, cũng ngăn ngừa, hạn chế được việc khởi kiện, yêu cầu toà án giải quyết vụ việc dân sự không có căn cứ, không thực hiện hoặc thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ tố tụng dân sự gây khó khăn, phức tạp cho việc giải quyết vụ việc dân sự của toà án.

Ngoài ra, việc thu án phí, lệ phí còn bổ sung nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Từ đó, có tác dụng bù đắp lại một phần chi phí của Nhà nước cho công tác xét xử của toà án, giảm bớt gánh nặng cho ngân sách nhà nước.

3- Các loại án phí, lệ phí dân sự

Theo chế độ tài chính của Nhà nước ta, để bảo đảm việc thu đúng, thu đủ cho ngân sách nhà nước thì căn cứ vào tính chất của các công việc được thực hiện, cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định các khoản tiền thuế, tiền án phí, lệ phí. Ngoài các loại tiền thuế, tiền án phí, lệ phí do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định thì không một cơ quan, tổ chức, cá nhân nào được đặt ra các khoản thu khác.

Căn cứ vào Điều 143 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Điều 3 và Điều 4 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 thì các loại án phí, lệ phí gồm có: Án phí, lệ phí dân sự sơ thẩm và án phí, lệ phí dân sự phúc thẩm. Án phí dân sự bao gồm án phí giải quyết vụ án tranh chấp về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động; lệ phí bao gồm lệ phí cấp bản sao bản án, quyết định và các giấy tờ khác của toà án, lệ phí nộp đơn yêu cầu toà án giải quyết việc dân sự, lệ phí giải quyết việc dân sự và các khoản lệ phí khác mà luật có quy định.

Ngoài ra, việc xét lại bản án, quyết định của toà án đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm là nhằm sửa chữa những sai lầm, thiếu sót trong bản án, quyết định bị kháng nghị hoặc khôi phục lại vụ án để xét xử lại do có tình tiết mới. Vì vậy, không thu án phí khi toà án tiến hành xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm. Tuy nhiên, án phí dân sự sơ thẩm, phúc thẩm được tuyên trong các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị sẽ được quyết định lại khi toà án giám đốc thẩm, tái thẩm huỷ bản án, quyết định để xét xử lại vụ án hoặc đình chỉ giải quyết vụ án.

II- Mức án phí, lệ phí

Mức án phí, lệ phí do pháp luật quy định căn cứ chủ yếu vào chi phí trung bình về việc lập hồ sơ, giải quyết vụ việc dân sự, theo mức độ đơn giản hoặc phức tạp của vụ việc dân sự toà án giải quyết hay công việc cụ thể toà án phải tiến hành. Mức án phí dân sự sơ thẩm pháp luật quy định có hai loại: loại thu theo một số tiền nhất định và loại thu theo tỉ lệ giá trị tài sản. Đối với những vụ án dân sự không có giá ngạch (giá kiện), án phí dân sự sơ thẩm được thu theo một số tiền nhất định. Đối với những vụ án dân sự có giá ngạch mức án phí dân sự sơ thẩm được thu theo tỉ lệ giá trị tài sản. Mức lệ phí sơ thẩm yêu cầu giải quyết việc dân sự được pháp luật quy định thu theo một mức tiền nhất định và tuỳ theo tính chất công việc mà toà án phải thực thực hiện theo yêu cầu của đương sự. Mức án phí, lệ phí phúc thẩm cũng được thu theo một số tiền nhất định.

Khi giải quyết vụ việc dân sự, toà án quyết định mức án phí, lệ phí căn cứ vào quy định của pháp luật và trên cơ sở giá trị tài sản của vụ việc dân sự mà các đương sự đã thoả thuận hoặc giá trị tài sản do hội đồng định giá quyết định trong trường hợp toà án quyết định định giá tài sản. Hiện nay, mức án phí đối với mỗi loại vụ việc dân sự được thực hiện theo quy định của Danh mục án phí, lệ phí toà án được ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.

III- Tiền tạm ứng án phí, lệ phí

Để bảo đảm việc khởi kiện hoặc yêu cầu giải quyết vụ việc dân sự có căn cứ pháp luật quy định nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí, lệ phí. Theo đó, những người có yêu cầu toà án giải quyết vụ việc dân sự đều phải nộp tiền tạm ứng án phí, lệ phí. Số tiền đương sự phải tạm nộp ngân sách nhà nước khi khởi kiện hoặc yêu cầu được gọi là tiền tạm ứng án phí, lệ phí sơ thẩm, số tiền đương sự phải tạm nộp ngân sách nhà nước khi kháng cáo được gọi là tiền tạm ứng án phí, lệ phí phúc thẩm.

Mức tiền tạm ứng án phí, lệ phí được xác định theo số tiền án phí đương sự phải nộp trong các vụ việc dân sự. Nếu đương sự phải nộp nhiều tiền án phí, lệ phí thì họ cũng phải nộp nhiều tiền tạm ứng án phí, lệ phí. Đối với vụ án dân sự không có giá ngạch thì tiền tạm ứng án phí, lệ phí đương sự phải nộp theo một mức nhất định.

Người có nghĩa vụ phải nộp tiền tạm ứng án phí sơ thẩm trong vụ án dân sự là nguyên đon, bị đơn có yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập; người người nộp đơn yêu cầu toà án giải quyết việc dân sự có nghĩa vụ phải nộp tiền tạm ứng lệ phí giải quyết việc dân sự sơ thẩm phải nộp tiền tạm ứng lệ đó, trừ trường hợp không phải nộp tiền tạm ứng lệ phí. Đối với yêu cầu công nhận thuận tình li hôn, thoả thuận nuôi con, chia tài sản khi li hôn thì vợ, chồng có thể thoả thuận về việc nộp tiền tạm ứng lệ phí, trừ trường hợp được miễn hoặc không phải nộp tiền tạm ứng lệ phí theo quy định của pháp luật; trường hợp vợ, chồng không thoả thuận được người nộp tiền tạm ứng lệ phí thì mỗi người phải nộp một nửa tiền tạm ứng lệ phí (Điều 146 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Điều 25, Điều 17 và Điều 36 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14).

Nguyên đơn phải nộp tiền tạm ứng án phí sơ thẩm trong thời hạn 07 ngày, kể từ ngày nhận được giấy báo của toà án về việc nộp tiền tạm ứng án phí, trừ trường hợp được miễn án phí hoặc được miễn nộp tiền tạm ứng án phí (Điều 195 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015). Người yêu cầu phải nộp tiền tạm ứng lệ phí sơ thẩm yêu cầu giải quyết việc dân sự trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được giấy báo của toà án về việc nộp tiền tạm ứng lệ phí, trừ trường hợp người đó được miễn hoặc không phải nộp lệ phí theo quy định của pháp luật (Điều 363 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015).

Người có nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí, lệ phí phúc thẩm là người kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm, trừ trường hợp không phải nộp tiền tạm ứng án phí, lệ phí hoặc được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, lệ phí. Thời hạn người kháng cáo nộp tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm là 10 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo của toà án cấp sơ thẩm về việc nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm, trừ trường hợp có lí do chính đáng (Điều 276 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, Điều 17 và Điều 28 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14). Thời hạn người kháng cáo nộp tiền tạm ứng lệ phí phúc thẩm là 05 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được thông báo của toà án về việc nộp tiền tạm ứng lệ phí, trừ trường họp có lí do chính đáng (Điều 17 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.

Tiền tạm ứng án phí, tiền tạm ứng lệ phí được nộp cho cơ quan thi hành án có thẩm quyền để gửi vào tài khoản tạm giữ mở tại kho bạc nhà nước và được rút ra để thi hành án theo quyết định của toà án. Nếu người đã nộp tiền tạm ứng án phí, tiền tạm ứng lệ phí phải chịu án phí, lệ phí thì ngay sau khi bản án, quyết định của toà án có hiệu lực thi hành, số tiền tạm ứng cơ quan thi hành án đã thu phải được nộp vào ngân sách nhà nước. Trong trường hợp người đã nộp tiền tạm ứng án phí, tiền tạm ứng lệ phí được hoàn trả một phần hoặc toàn bộ số tiền đã nộp theo bản án, quyết định của toà án thì cơ quan thi hành án đã thu tiền tạm ứng án phí, tiền tạm ứng lệ phí phải làm thủ tục trả lại tiền cho họ. Trong trường hợp việc giải quyết vụ việc dân sự bị tạm đình chỉ thì tiền tạm ứng án phí, tiền tạm ứng lệ phí đã nộp được xử lí khi vụ việc được tiếp tục giải quyết.

Việc xử lí tiền tạm ứng án phí, lệ phí hiện nay được quy định tại Điều 144 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 và Điều 18 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14).

IV- Nghĩa vụ nộp án phí, lệ phí sơ thẩm và phúc thẩm

1- Nghĩa vụ nộp án phí, lệ phí sơ thẩm

Nghĩa vụ nộp án phí, lệ phí sơ thẩm được quy định tại các điều 147, 149 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 và các điều 26, 27, 37, 38, 39, 40, 41, 42, 43, 44 và 45 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14. Theo các quy định này, nghĩa vụ nộp án phí, lệ phí sơ thẩm của đương sự được xác định theo các nguyên tắc sau:

- Đương sự đưa ra yêu cầu phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu không được toà án chấp nhận, trường hợp yêu cầu của họ được toà án chấp nhận thì đương sự bị yêu cầu phải chịu án phí dân sự sơ thẩm;

- Mỗi bên đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo mức tương ứng với giá trị phần tài sản, phần di sản mà họ được hưởng, được chia trong trường hợp các bên đương sự không tự xác định được phần tài sản của mình trong khối tài sản chung, phần di sản mà mình được hưởng trong khối di sản thừa kế và có một trong các bên yêu cầu toà án giải quyết chia tài sản chung, di sản thừa kế đó;

- Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án li hôn không phụ thuộc vào việc toà án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn;

- Các đương sự trong vụ án hôn nhân và gia đình có tranh chấp về việc chia tài sản chung của vợ chồng thì ngoài việc chịu án phí dân sự sơ thẩm còn phải chịu án phí đổi với phần tài sản có tranh chấp như đối với vụ án dân sự có giá ngạch tương ứng với giá trị phần tài sản mà họ được chia;

- Người có nghĩa vụ cấp dưỡng định kì theo quyết định của toà án phải chịu án phí dân sự sơ thẩm như đối với trường hợp vụ án dân sự không có giá ngạch;

- Các bên đương sự thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án trong trường hợp toà án tiến hành hoà giải trước khi mở phiên toà thì phải chịu 50% mức án phí quy định;

- Trường hợp các bên đương sự thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án tại phiên'toà sơ thẩm thì các đương sự vẫn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm như trường hợp xét xử vụ án đó;

- Người yêu cầu toà án giải quyết việc dân sự phải chịu lệ phí sơ thẩm không phụ thuộc vào việc toà án chấp nhận hay không chấp nhận đơn yêu cầu của họ, trừ trường hợp không phải nộp hoặc được miễn nộp lệ phí toà án;

- Đối với lệ phí cấp bản sao giấy tờ, sao chụp tài liệu tại toà án thì người có yêu cầu phải chịu toàn bộ.

Khi hoà giải, toà án xác định số tiền án phí, lệ phí đương sự phải nộp trong vụ việc dân sự và các đương sự được thoả thuận với nhau về việc ai phải chịu án phí, lệ phí. Trong trường hợp các đương sự không thoả thuận hoặc thoả thuận không được thì toà án căn cứ vào các nguyên tắc trên quyết định. Khi giải quyết vụ việc dân sự, toà án quyết định số tiền án phí, lệ phí cụ thể mỗi đương sự phải chịu trong bản án, quyết định. Quyết định về án phí, lệ phí của toà án trong bản án, quyết định được thi hành khi bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật.

2- Nghĩa vụ nộp án phí, lệ phí phúc thẩm

Nghĩa vụ nộp án phí, lệ phí phúc thẩm được quy định tại các điều 148 và 149 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 và các điều 29, 37 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14. Theo các quy định này, nghĩa vụ nộp án phí, lệ phí phúc thẩm của đương sự được xác định theo các nguyên tắc sau:

- Đương sự kháng cáo phải nộp án phí phúc thẩm, nếu toà án cấp phúc thẩm giữ nguyên bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, trừ trường họp được miễn hoặc không phải nộp án phí phúc thẩm;

- Trong trường hợp toà án cấp phúc thẩm sửa bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo thì đương sự kháng cáo không phải nộp án phí phúc thẩm; toà án cấp phúc thẩm phải xác định lại nghĩa vụ nộp án phí sơ thẩm theo các nguyên tắc nêu ttên;

- Trong trường hợp toà án cấp phúc thẩm huỷ bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo để xét xử sơ thẩm lại thì đương sự kháng cáo không phải nộp án phí phúc thẩm; nghĩa vụ nộp án phí được xác định lại khi giải quyết sơ thẩm lại vụ án;

- Đương sự rút kháng cáo trước khi mở phiên toà phúc thẩm phải chịu 50% mức án phí dân sự phúc thẩm; nếu rút kháng cáo tại phiên toà phúc thẩm phải chịu toàn bộ án phí dân sự phúc thẩm;

- Trường hợp các đương sự thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án tại phiên toà phúc thẩm thì đương sự kháng cáo phải chịu toàn bộ án phí dân sự phúc thẩm; toà án xác định lại án phí dân sự sơ thẩm theo sự tự thoả thuận của các đương sự về việc chịu án phí dân sự sơ thẩm của họ hoặc theo nội dung thoả thuận về việc giải quyết vụ án tại phiên toà phúc thấm;

- Trường hợp nguyên đơn rút đơn khởi kiện trước khi mở phiên toà phúc thẩm hoặc tại phiên toà phúc thẩm và được bị đơn đồng ý thì các đương sự vẫn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quyết định của toà án cấp sơ thẩm và phải chịu 50% mức án phí dân sự phúc thẩm.

Khi phúc thẩm vụ việc dân sự, ngoài việc xem xét giải quyết yêu cầu kháng cáo, kháng nghị thì toà án cấp phúc thẩm cũng phải quyết định đương sự nào phải chịu tiền án phí, lệ phí phúc thẩm. Trong trường hợp toà án cấp phúc thẩm huỷ, sửa bản án hoặc quyết định sơ thẩm thì tuỳ trường hợp, toà án cấp phúc thẩm giữ nguyên hoặc quyết định lại số tiền án phí, lệ phí sơ thẩm đương sự phải chịu.

V- Miễn, giảm án phí, lệ phí

Khi toà án giải quyết vụ việc dân sự, các đương sự phải chịu án phí, lệ phí theo quy định của pháp luật, tuỳ theo loại vụ việc dân sự, trên cơ sở lợi ích, mức lỗi của họ trong quan hệ pháp luật toà án giải quyết trong vụ việc dân sự. Tuy vậy, do tính chất của từng loại vụ việc và điều kiện kinh tế của đương sự, trong một số trường hợp pháp luật quy định miễn, giảm việc nộp tiền tạm ứng án phí, lệ phí và tiền án phí, lệ phí cho họ. Ví dụ: Người có khó khăn, về kinh tế được uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc xác nhận; người lao động khởi kiện đòi tiền lương, trợ cấp mất việc làm, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, tiền bồi thường về tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; giải quyết những vấn đề bồi thường thiệt hại hoặc vì bị sa thải, chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật; người yêu cầu cấp dưỡng, xin xác định cha, mẹ cho con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự V.V.. Ngoài ra, đối với cơ quan,- tổ chức khởi kiện vụ án dân sự đế bảo vệ quyền và lợi ích họp pháp của người khác, lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thì pháp luật còn quy định không phải nộp tiền án phí, lệ phí.

Hiện nay, việc miễn giảm án phí, lệ phí được thực hiện theo quy định tại Điều 150 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 và các điều từ Điều 12 đến Điều 16 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14

0 bình luận, đánh giá về Khái quát chung về án phí và lệ phí dân sự

TVQuản trị viênQuản trị viên

Xin chào quý khách. Quý khách hãy để lại bình luận, chúng tôi sẽ phản hồi sớm

Trả lời.
Thông tin người gửi
Bình luận
Nhấn vào đây để đánh giá
Thông tin người gửi
Tổng đài tư vấn: 024-66 527 527
Giờ làm việc: Thứ 2 - Thứ 7: 8h30 - 18h00
0.36156 sec| 1020.258 kb