Kỹ năng của luật sư bào chữa khi tham gia một số hoạt động điều tra

"Pháp luật là đạo đức biểu hiện ra bên ngoài, đạo đức là pháp luật ẩn giấu bên trong".

Abraham Lincohn, Tổng thống Mỹ thứ 16

Kỹ năng của luật sư bào chữa khi tham gia một số hoạt động điều tra

Luật sư bào chữa tham gia trong giai đoạn điều tra với mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của thân chủ, góp phần hạn chế việc vi phạm pháp luật của điều tra viên khi tiến hành điều tra vụ án, góp phần đảm bảo cho hoạt động điều tra khách quan, toàn diện, đầy đủ.

Khi tham gia bào chữa từ giai đoạn điều tra, luật sư cần trang bị cho mình những kỹ năng để có thể phát hiện ra những vi phạm tố tụng của Điều tra viên trong quá trình điều tra vụ án.

Liên hệ

I- KỸ NĂNG CỦA LUẬT SƯ KHI ĐĂNG KÝ BÀO CHỮA

Thực tế, luật sư có thể tham gia tố tụng bào chữa cho người bị buộc tội thuộc các trường hợp như: Một luật sư tham gia bào chữa cho nhiều người bị tạm giữ hoặc nhiều bị can; một luật sư tham gia bào chữa cho một người bị tạm giữ hoặc một bị can; nhiều luật sư cùng tham gia bào chữa cho một người bị tạm giữ hoặc một bị can; luật sư tham gia bào chữa cho bị can đang tại ngoại; luật sư tham gia bào chữa cho bị can đang bị tạm giam.

Để tham gia tố tụng, trong tất cả các trường hợp nêu trên, việc đầu tiên luật sư cần phải làm là thực hiện thủ tục đăng ký bào chữa để tham gia các hoạt động tố tụng trong vụ án với tư cách là người bào chữa. Ở bất kỳ trường hợp nào, luật sư cần nhanh chóng hoàn tất đầy đủ, đúng quy định các giấy tờ bắt buộc theo quy định tại Luật Luật sư, Điều 78 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Luật sư bào chữa cần chuẩn bị và phối hợp với bộ phận hành chính của Tổ chức hành nghề luật sư để gửi trực tiếp hay theo đường bưu điện (chuyển phát nhanh hay bình thường) các giấy tờ cần thiết đến cơ quan điều tra để đăng ký bào chữa. Nếu gửi trực tiếp, luật sư (bộ phận hành chính của Tổ chức hành nghề luật sư) cần chuẩn bị trước giấy giao nhận thủ tục đăng ký người bào chữa, nội dung ghi rõ loại giấy tờ gửi đến cơ quan điều tra và phần ký giao, nhận. Nếu gửi qua Bưu diện, nội dung loại giấy tờ gửi đến cơ quan điều tra cũng cần liệt kê rõ và lưu giữ tại Tổ chức hành nghề luật sư và Hồ sơ vụ án của luật sư thực hiện.

Sở dĩ luật sư bào chữa và bộ phận hành chính Tổ chức hành nghề luật sư phải làm đầy đủ và cụ thể thủ tục nêu trên để luật sư theo dõi, đối chiếu thời hạn chấp nhận đăng ký người tham gia tố tụng theo quy định tại Khoản 4 Điều 78 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Đồng thời những căn cứ này là cơ sở để luật sư, đương sự thực hiện quyền khiếu nại nêu qua thơi hạn luật định mà cơ quan điều tra vẫn chưa có văn bản thông báo người bào chữa hoặc văn bản từ chối việc đăng ký bào chữa.

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 trước đây quy định, luật sư phải làm thủ tục để cơ quan điều tra xem xét cấp giấy chứng nhận người bào chữa. Sau khi dược cấp giấy chứng nhận người bào chữa thì luật sư bào chữa mới đưực tham gia vào các hoạt động tố tụng của vụ án. Theo quy định này thì thủ tục cấp giấy chứng nhận người bào chữa bị kéo dài hơn thủ tục đăng ký người bào chữa theo Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Để được cấp "giấy chứng nhận người bào chữa theo luật thì thường bị khó khăn, phiền hà hơn từ phía cơ quan tiến hành tố tụng với nhiều lý do khác nhau bởi phải chờ “xem xét”.

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã khắc phục các hạn chế này, thay thế thủ tục xin cấp giấy chứng nhận người bào chữa bằng thủ tục “đăng ký bào chữa", theo dó: Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận đủ giấy tờ quy định, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kiểm tra giấy tờ và thấy không thuộc trường hợp từ chối việc đăng ký bào chữa thì vào sổ đăng ký bào chữa, gửi ngayvănbản thông báo người bào chữa cho người đăng ký bào chữa, cơ sở giam giữ và lưu các giấy tờ liên quan đến việc (đăng ký bào chữa vào hồ sơ vụ án; nếu xét thấy không đủ điều kiện thì từ chối việc đăng ký bào chữa và phải nêu rõ lý do bằng văn bản.Văn băn thông báo người bào chữa có giá trị sử dụng trong suốt quá trình tố tụng.

Tuy nhiên, trong một số trường hợp, văn bản này sẽ hết hiệu lực trước khi kết thúc vụ án. Đó là khi người bị buộc tội từ chối hoặc đề nghị thay đổi người bào chữa; người đại diện hoặc người thân thích của người bị buộc tội quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 76 của Bộ luật tố tụng hình sự từ chối hoặc đề nghị thay đổi người bào chữa (Điều 78 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015).

Quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã đơn giản hóa thủ tục, đẩy nhanh thời gian người bào chữa “nhập cuộc” tham gia tố tụng trong vụ án. Quy định này góp phần thực hiện quyền và nghĩa vụ của luật sư bào chữa đối với thân chủ theo thời điêm hiệu lực của hợp đồng dịch vụ pháp lý các bên đã ký kết. Quy định còn đảm bảo tính kịp thời, hiệu quả, phù hợp với Khoản 2 Điều 9 Luật Luật sư về nghiêm cấm cơ quan, tố chức, cá nhân có hành vi cản trở hoạt dộng hành nghề của luật sư.

Thực tế thực hiện pháp luật, việc xem xét hoàn tất thủ tục đăng ký bào chữa cho người bào chữa ở cơ quan tiến hành tố tụng tại các địa phương chưa thống nhất. Có nơi người bào chữa chỉ cần đơn mời luật sư của bị can (hoặc người thân thích, đại diện của họ) kèm theo giấy giới thiệu của Tổ chức hành nghề luật sư là được chấp nhận; có nơi thì ngoài đơn mời luật sư, giấy giới thiệu của Tổ chức hành nghề luật sư, Thẻ luật sư thì cơ quan tiến hành tố tụng còn yêu cầu thêm hợp đồng dịch vụ pháp lý giữa luật sư bào chữa với khách hàng.

 Ngoài các giấy tờ trên đây, có cơ quan còn yêu cầu luật sư (người bào chữa) phải cung cấp lý lịch tư pháp để chứng minh luật sư (người bào chữa) không có tiền án. tiền sự. Tình trạng này đã gây không ít khó khăn cho luật sư khi làm thủ tục tham gia bào chữa. Do luật sư bào chữa không thể chất vấn hay gây căng thẳng với điều tra viên đang thụ lý vụ án nên cách tốt nhất là luật sư chủ động chuẩn bị các giấy tờ mà điều tra viên thường yêu cầu như: [a] Giấy yêu cầu luật sư của khách hàng; [b] Giấy giới thiệu của tổ chức hành nghề; [c] Thẻ luật sư (bản sao công chứng). 

Ngoài ra nhiều trường hợp cơ quan điều tra còn yêu cầu người bào chữa cung cấp các giấy tờ ngoài quy định bắt buộc của pháp luật như: [a] Chứng chỉ hành nghề luật sư do Bộ Tư pháp cấp (bản sao công chứng thực); [b] Giấy đăng ký hoạt dộng của Tổ chức hành nghề luật sư nơi luật sư hành nghề (bản sao có chứng thực). 

Để thực hiện được điều này, Luật sư bào chữa cần kết hợp với nhân viên hành chính của Tổ chức hành nghề luật sư chuẩn bị giấy tờ đăng ký bào chữa tại cơ quan điều tra đối với. vụ án mà luật sư được mời tham gia.

Không giống như kiểm sát viên hoặc thẩm phán, điều tra viên không phải lúc nào cũng làm việc tại trụ sởcủa cơ quan mình mà họ thực hiện hoạt động điều tra tại nhiều nơi  khác nhau (trụ sở của cơquan, trại tạm giam tiến hành hỏi cung bị can. Viện kiểm sát làm việc với các cơ quan, tổ chức khác để thực hiện việc xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ...) Hơn thế trong cùng một thời gian, một điều tra viên có thể thụ lý nhiều vụ án khác nhau nên việc gặp gỡ điều tra viên là rất khó khăn.Do vậy, luật sư bào chữa cần chọn một trong hai hình thức đăng ký người bào chữa là: Gửi trực tiếp qua bộ phận hành chính tiếp nhận thủ tục tại cơ quan điều tra hoặc gửi qua đường bưu điện có phiếu báo phát và phản hồi của đầu nhận tài liệu.

Mới đây, Thông tư số 46/2019/TT-BCA ngày 10/10/2019 của Bộ trưởng Bộ Công an quy định trách nhiệm của lực lượng Công an nhân dân trong việc thực hiện các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 liên quan đến bảo đảm quyền bào chữa của người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang hoặc theo quyết định truy nã người bị tạm giữ bị can; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại đương sự người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố (Thông tư số 46/2019/TT-BCA) đã có nhiều quy định mới về thông báo, tiếp nhận, giải quyết thủ tục đăng ký bào chữa theo hướng luật sư bào chữa có thể tiếp cận sớm nhất nhằm hỗ trợ pháp lý cho người bị buộc tội, đề cao trách nhiệm và thời hạn giải quyết các yêu cầu.

Theo đó, ngay từ khi tiếp nhận người bị bắt, bị tạm giam, giao nhận các quyết định tố tụng, điều tra viên phải lập biên bản ghi rõ ý kiến của người bị buộc tội về việc có nhờ người bào chữa hay không và đề nghị thông báo cho người đại diện, người thân thích để cơ quan có thẩm quyền thực hiện các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 có liên quan đến người đại diện, người thân thích của họ. Việc tiếp nhận thủ tục, yêu cầu được quy định rõ tại nơi tổ chức trực ban hình sự của cơ quan điều tra hoặc nơi trực ban của nhà tạm giữ, trại tạm giam, đóng dấu tiếp nhận giờ, ngày, tháng vào sồ tiếp nhận và sổ đăng ký bào chữa, bảo vệ quyền lợi.

Trường hợp người bị buộc tội từ chối yêu cấu nhờ luật sư bào chữa của người thân thích, trong vòng 12 giờ đối với người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt và 24 giờ đối với người bị tạm giữ, bị can đang bị tạm giam, điều tra viên hoặc cán bộ điều tra có trách nhiệm thống nhất vế thời gian với người bào chữa để trực tiếp gặp người bị tạm giữ, bị can đang bị tạm giam, xác nhận việc từ chối và phải lập biên bản.

Xem thêm: Dịch vụ Luật sư bào chữa của Công ty Luật TNHH Everest

II- KỸ NĂNG CỦA LUẬT SƯ BÀO CHỮA KHI THAM GIA LẤY LỜI KHAI CỦA NGƯỜI BỊ TẠM GIỮ, HỎI CUNG BỊ CAN

Việc luật sư bào chữa có mặt để tham gia hoạt động lấy lời khai của người bị tạm giữ, hỏi cung bị can có ý nghĩa rất quan trọng trong việc giải quyết vụ án hình sự, bởi nó không những giúp cho người bị tạm giữ, bị can yên tàm về mặt tinh thần và luôn có niềm tin rằng mình sẽ không bao giờ phải chịu mức án nặng hơn so với mức độ và hành vi phạm tội của mình mà sự có mặt của luật sư trong những hoạt động này còn làm cho điều tra viên phải khách quan, chính xác hơn trong khi thực hiện công việc của mình.

Để tạo cơ sở pháp lý cho luật sư (người bào chữa) có thể thực hiện tốt công việc của mình, Khoản 1 Điều 73 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định người bào chữa được quyền có mặt khi hỏi cung bị can và nếu được điều tra viên đồng ý thì có thể đặt câu hỏi đối với bị can. Mặc dù quy định này đã được ghi nhận trong các Bộ luật tố tụng hình sự trước đó nhưng cho tới thời điểm hiện nay vẫn còn rấtnhiều khó khăn trong quá trình thực hiện. Điều này do bản thân các luật sư bào chữa cũng không có đủ thời gian hoặc không chú ý tới tầm quan trọng của sự có mặt của luật sư bào chữa trong các lần hỏi cung để có thể tham gia tất cả các buổi hỏi cung khi được điều tra viên thông báo về kế hoạch hỏi cungbởi cùng một lúc luật sư không chỉ tham gia một vụ việc.

Cần phân biệt trường hợp hỏi cung bị can tại trụ sở cơ quan điều tra; tại nơi ở, nơi làm của người bị tạm giữ, bị can và hỏi cung bị can tại trại tạm giam. Theo Điều 11 Thông tư số 46/2019/TT-BCA quy định cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải thông báo về thời gian, địa điểm tiến hành hànhđộng tố tụng mà người bào chữa có quyền tham gia tối thiểu 24 giờ đối với luật sư bào chữa cư trú cùng tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương với cơ quan đang thụ lý vụ án; 48 giờ đối với luật sư bào chữa cư trú khác tỉnh, thành phố trựcthuộc trung ương với cơ quan đang thụ lý vụ án.

Khi đã nắm bắt được thời gian lấy lời khai người bị tạm giữ, hỏi cung bị can của điều tra viên thì luật sư bào chữa cần lập một kế hoạch cụ thể để tham gia vào buổi hỏi cung. Luật sư bào chữa phải tìm hiểu để bảo đảm thân chủ đã được giải thích các quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giữ, bị can trong quá trình cơ quan điều tra lấycần phải làm rõ những không bị bắt quả tang; trong những vụ án có đồng phạm, luật sư cần đặt vấn đề gì, chuẩn bị các câu hỏi để hỏi người bị tạm giữ, bị can.

Tùy từng vụ án khác nhau mà luật sư  bào chữa chuẩn bị những câu hỏi khác nhau. Ví dụ trong các vụ án mà người bị tạm giữ, bị can bị bắt quả tang, luật sư cần đặt những câu hỏi khác với những câu hỏi mà bị can lời khai. Luật sư bào chữa phải có trước các dự kiến như: đề xuất điều tra viên câu hỏi để làm rõ vị trí, vai trò của người bị tạm giữ, bị can trong số các đóng phạm; đặt các câu hỏi về mối quan hệ của người bị tạm giữ, bị can với các đồng phạm và đặt những câu hỏi để xác định rõ bị can, người bị tạm giữ tham gia vụ án có phải do bị ép buộc, lôi kéo không? Khi tham gia vào những vụ án mà có dấu hiệu định lượng trong cấu thành tội phạm (các tội phạm về ma túy, các tội phạm liên quan đến chiếm đoạt tài sản...) thì luật sư lại đặt những câu hỏi khác với các vụ án mà dấu hiệu định lượng không có ý nghĩa quyết định đến tội danh và hình phạt.

Trong trường hợp điều tra viên đặt những câu hỏi có tính mớm cung hoặc bức cung đối với người bị tạm giữ, bị can thì luật sư bào chữa không nên phản ứng gay gắt với điều tra viên bởi làm mất hay hạ thấp uy tín của điều tra viên trước mặt người bị tạm giữ, bị can là điều tối kị. Trong trường hợp này, luật sư cần khéoléo, tế nhị đề nghị điều tra viên không nên hỏi những câu hỏi đó hoặc luật sư xin phép đặt câu hỏi cho thân chủ của mình để phản bác lại câu hỏi của điều tra viên.

Khi tham gia hoạt động điều tra, theo dõi việc hỏi cung bị can của điều tra viên, luật sư bào chữa cần chú ý lắng nghe các câu hỏi của điều tra viên và câu trả lời của thân chủ để nắm được nội dung vụ án. Bởi thời điểm này, luật sư bào chữa chưa được tiếp xúc với hồ sơ vụ án, những thông tin về sự việc phạm tội thân chủ, quan điểm đường lối giải quyết vụ án của các cơ quan tiến hànhtố tụng cũng như những hoạt động điều tra mà các cơ quan này đãthựchiện và kết quả có được đều rất khó khai thác. Luật sư cần tận dụng thời gian tham gia hỏi cung đê nắm bắt các thông tin của vụ án. Đồng thờiluật sư cũng có điều kiện phát hiện những tình tiết quan trọng đối với thân chủ trong nội dung trả lời, phát hiện những tình tiết có lợi cho thân chủ thông qua ý kiến, nội dung trả lời câu hỏi của điều tra viên.

Khi tham gia hỏi cung cùng điều tra viên, kiểm sát viên, ngoài việc bảo đảm cho người bị tạm giữ, bị can được nghe đọc và giải thích về quyến và nghĩa vụ của mình, luật sư bào chữa còn phải chú ý lắng nghe, phát huy tối đa kỹ năng nghe để hỗ trợ tốt nhất cho thân chủ của mình. Ví dụ: điều tra viên giải thích pháp luật cho các bị can nghe nhưng việc giải thích pháp luật đó không khách quan hay có định hướng buộc tội, luật sư phải ghi ngay vào sổ tay, đến lượt luật sư đặt câu hỏi thì ngay lúc đó phải đặt cầu hỏi làm sao cho bị can hiếu được chính xác quy định của pháp luật về hành vi phạm tội của mình và đôi khi luật sư phải giải thích lại thật chính xác theo quy định của pháp luật vế hành vi phạm tội của bị can.

Bên cạnh đó, luật sư phải ghi lại chi tiết những hành vi, ứng xử của điều tra viên, kiểm sát viên trong buổi hỏi cung, những tình tiết quan trọng trong vụ án được điều tra viên, kiểm sát viên hỏi để sau này sau khi đọc hồ sơ vụ án, Luật sư có thể hiểu một cách toàn diện và đầy đủ nhất. Việc luật sư có mặt khi điều tra viên hỏi cung bị can có ý nghĩa rất quan trọng.

Khoản 3 Điều 184 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định vế biên bản hỏi cung bị can như sau: “Trường hợp hỏi cung bị can có mặt người bào chữa, người đại diện của bị can thì điều tra viên, cán bộ điều tra phải giải thích cho những người này biết quyền và nghĩa vụ của họ trong khi hỏi cung bị can. Bị can, người bào chữa, người đại diện cùng ký vào biên bản hỏi cung. Trường hợp người bào chữa được hỏi bị can thì biên bản phải ghi đầy đủ câu hỏi của người bào chữa và trả lời của bị can”. Biên bản hỏi cung bị can là văn bản pháp lý phản ánh nội dung, kết quả một hoạt động điều tra quan trọng và là một trong những nguón chứng cứ hợp pháp được pháp luật bảo hộ.

Vì vậy, khi tham gia hỏi cung, luật sư bào chữa phải chú ý tới những câu hỏi của điều tra viên và những câu trả lời của thân chủ, những câu hỏi và những câu trả lời này bước đầu chính là hồ sơ, nội dung vụ án. Từ những thông tin đó, luật SƯ có thể định hướng được phần nào diễn biến cũng như hành vi phạm tội hoặc không phạm tội của bị can để từ đó có định hướng hỗ trợ tốt nhấtcho thân chủ của mình.

Những nội dung quan trọng của vụ án cũng như những phát hiện nêu trên cần được luật sư bào chữa ghi chép để làm tài liệu bào chữa. Trước khi ký Biên bản hỏi cung, luật sư bào chữa cần giúp bị can xem lại nội dung đã khai có phù hợp không, nêu phát hiện ghi không đúng thì phải đề nghị chỉnh sửa ngay. Nếu bị can khai nhận liên quan đến hành vi của người khác hoặc người khác khai về hành vi của bị can, luật sư bào chữa có thể ghi cuối biên bản cho bị can được tiến hành đối chất với người đó. Ngoài việc ký tên cuối biên bản, luật sư bào chữa cần ký nháy trên từng trang biên bản và đế nghị điều tra viên gạch chéo những phấn bỏ trống.

Xem thêm: Dịch vụ pháp lý trong lĩnh vực hình sự của Công ty Luật TNHH Everest

III- KỸ NĂNG CỦA LUẬT SƯ BÀO CHỮA THU THẬP CÁC TÀI LIỆU, CHỨNG CỨ LIÊN QUAN

Trong một vụ án hình sự, để thực hiện tốt nhất vai trò của mình luật sư bào chữa cần quan tâm đến kỹ năng thu thập chứng cứ, bởi càng tìm ra được nhiều chứng cứ có lợi thì khả năng gỡ tội, giảm nhẹ tội hoặc bảo vệ được quyền lợi cho khách hàng càng cao. Tuy nhiên, thực tế cho thấy hiện nay các luật sư bào chữa thường không chủ động tìm kiếm, phát hiện và thu thập chứng cứ của vụ án hình sự mà chủ yếu dựa trên những chứng cứ được cơ quan tiến hành tố tụng cung cấp hay lời khai, thông tin từ những người liên quan trong vụ án được ghi chép lại thành văn bản lưu tại hồ sơ. Tình trạng này một phán xuất phát từ đặc thù nghề nghiệp, những khó khăn, bất lợi của luật sư bào chữa trong việc tiếp cận, phát hiện và thu thập chứng cứ để phục vụ cho quá trình bào chữa, bảo vệ quyền lợi của khách hàng trong một vụ án hình sự.

Khoản 1 Điều 73 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 ghi nhận 03 quyền của người bào chữa, bao gồm: Thu thập, đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu; Kiểm tra, đánh giá và trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá; Đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thu thập chứng cứ, giám định bổ sung, giám định lại, định giá lại tài sản. Theo Điều 88 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, để thu thập chứng cứ, người bào chữa có quyền gặp người mà mình bào chữa, bị hại, người làm chứng và những người khác biết về vụ án để hỏi và nghe họ trình bày về những vấn đế liên quan đến vụ án; đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử liên quan đến việc bào chữa.

Khi tiếp nhận chứng cứ, tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử liên quan đến vụ án do người bào chữa cung cấp, cơ quan tiến hành tố tụng phải lập biên bản giao nhận và kiểm tra, đánh giá theo quy định tại Khoản 2, Khoản 3 Điều 73 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Theo quy định của pháp luậtnhững tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án do người bào chữa thu giữđược có giá trị như những tài liệu, đồ vật do cơ quan điều tra thu thập. Vì vậy việc luật sư bào chữa có kế hoạch chủ động tự điều tra, thu thập chứng cứ là rất quan trọng. Những tài liệu, đó vật này sẽ được coi là chứng cứ trong vụ án nó phù hợp với quy định tại Khoản 2 Điều 88 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Trong trường hợp việc thu thập chứng cứ gặp khó khăn, người bào chữa có quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thu thập chứng cứ, giám định bổ sung, giám định lại, định giá lại tài sản. Cùng với việc khiếu nại, giải quyết khiếu nại, thi đây là biện pháp rất quan trọng nhằm bảo đảm quyền thu thập chứng cứ của người bào chữa, là cơ sở cho việc nâng cao vị thế của người bào chữa trong tố tụng hình sự.

Trên thực tế, các loại tài liệu mà luật sư bào chữa thường thu thập hay tư vấn cho thân chủ hay gia đình thân chủ thu thập là các tài liệu về nhân thân bị can, các tài liệu phản ánh thành tích, công trạng của bị can và nhân thân của bị can: các bằng khen, giấy khen, các tài liệu xác nhận là con em gia đình thương binh, liệt sĩ, gia đình có công với cách mạng... Luật sư bào chữa cần lưu ý không phải mọi tài liệu đều có ý nghĩa trong việc đề xuất áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điểm v Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015: “Người phạm tội là người có thành tích xuất sắc trong sản xuất, chiến đấu, học tập hoặc công tác” hay các tình tiết khác theo hướng dẫn áp dụng Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nhưng nếu ít nhiều có ý nghĩa trong việc phản ánh nhân thân, hoàn cảnh phạm tội, khả năng giáo dục, cải tạo người phạm tội thì luật sư cũng không nên bỏ qua mà nên khuyến khích gia đình thân chủ thu thập.

Ngoài ra, nếu thân chủ là người già, đau yếu, là phụ nữ có thai mà cơ quan điều tra chưa chú ý làm rõ các vấn đề trên thì luật sư bào chữa nên thu thập các tài liệu phản ánh vềđộ tuổi, tình trạng sức khỏe của thân chủ (giấy khai sinh, giấy chứng sinh, bệnh án, giấy khám sức khỏe của bệnh viện đa khoa cấp tỉnh...) để yêu cầu đề xuất áp dụng các quy định tương ứng của Bộ luật hình sự và Bộ luật tố tụng hình sự đối với những đối tượng đặc thù này.

Hiện nay, pháp luật tố tụng hình sự không quy định giám định ngoài tố tụng, tuy nhiên, các tài liệu giám định ngoài tố tụng cũng có ý nghĩa nhất định trong hoạt động chứng minh, tạo cơ sở cho các đề xuất của luật sư bào chữa về sự cần thiết trưng cầu giám định, giám định lại, giám định bổ sung hoặc tạo sức ép lên các cơ quan tiến hành tố tụng trong việc thu thập, đánh giáchứng cứ. Vì vậy, luật sư không nên có thái độ phủ nhận vai trò của cáctài liệu giám định ngoài tố tụng mà không tư vấn cho thân chủ thu thập hoặc giao nộp các tài liệu này.

Ngay sau khi thu thập được những tài liệu, đó vật liên quan đến vụ án, luật sư bào chữa cần cung cấp ngay cho cơ quan điều tra bởi trong nhiều trường hợp những tài liệu, đồ vật mà luật sư cung cấp cho cơ quan điều tra có thể làm thay đổi toàn bộ nội dung vụ án (chứng minh người bị tạm giữ, bị can không phạm tội, thay đổi tội danh đối với người bị tạm giữ, bị can) hoặc là căn cứ để cơ quan điều tra có thể đưa ra những quyết định có lợi cho thân chủ của mình như quyết định thay đổi biện pháp ngăn chặn từ tạm giam sang các biện pháp ngăn chặn khác, quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án.

Như vậy, luật sư bào chữa không nên thụ động, dựa vào các tài liệu, chứng cứ sao chụp được từ cơ quan tiên hành tố tụng để phục vụ cho việc nghiên cứu, đánh giá của mình, mà cần phải triệt để tận dụng những quyến mà pháp luật quy định, cần phát huy khả năng vận dụng, nắm bắt và xác định mục tiêu hướng đến của vụ án để thu thập, phát hiện những yếu tố, chứng cứ cần thiết phục vụ cho việc bào chữa cho thân chủ. Tuy nhiên, luật sư cần lưu ý không nên quá chú trọng, lấn sâu vào việc tìm kiếm chứng cứ phục vụ cho bào chữa mà xem nhẹ các tài liệu, chứng cứ do cơ quan tiến hành tố tụng cung cấp, bởi trong hồ sơ của cơ quan điều tra có thể chứa đựng nhiều thông tin có lợi cho việc bào chữa.

Xem thêm: Sứ mệnh và Chức năng xã hội của Luật sư

IV- KỸ NĂNG CỦA LUẬT SƯ BÀO CHỮA KHI THAM GIA MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG ĐIỀU TRA KHÁC

Trước đây, trong quá trình hành nghề, luật sư chưa có nhiều cơ hội tham gia các hoạt động tố tụng khác như chứng kiến việc khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, xem xét dấu vết trên thân thể, thực nghiệm điều tra, thu giữ vật chứng, định giá và bán đấu giá tài sản... Trừ một số vụ án liên quan đến các hành vi xâm phạm hoạt động tư pháp, việc triệu tập luật sư bào chữa để làm rõ các vấn đề liên quan việc vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, các dấu hiệu bức cung, nhục hình, làm sai lệch hồsơ vụ án...chưa được pháp luật tố tụng hình sự quy định cũng như chưa được tiếnhành trên thực tế.

Để giải quyết những bất cập nêu trên, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định khi khám nghiệm hiện trường phải có người chứng kiến; có thể cho bị can, người bào chữa, bị hại, người làm chứng tham gia và mời người có chuyên môn tham dự việc khám nghiệm (Khoản 2 Điều 201 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015). Khi tham gia vào các hoạt động nói trên, luật sư bào chữa vừa thu nhận được những thông tin cần thiết về vụ án vừa giám sát hoạt động của những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng (ví dụ thành phần những người tham gia khám nghiệm hiện trường, thủ tục khai quật tử thi có đảm bảo tuân thủ đúng theo quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự hay không).

Khi tham gia bào chữa từ giai đoạn điều tra, nếu nắm được kế hoạch thực hiện các hoat động điều tra của điều tra viên, luật sư bào chữa cần sắp xếp thời gian để tham gia bởi sự có mặt và chứng kiến, giám sát của luật sư trong những hoạt động này không những làm cho cơ quan điều tra, điều tra viên phải thực hiện công việc đúng theo trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự mà còn kịp thời phát hiện ra những sai sót của cơ quan điều tra (nếu có) từ đó có những kiến nghị kịp thời đề nghị cơ quan điều tra, điều tra viên khắc phục để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho khách hàng mình nói riêng và pháp chế xã hội chủ nghĩa nói chung.

Khi tham gia bào chữa từ giai đoạn điều tra, nếu luật sư bào chữa nhận thấy cần thiết phải trưng cầu giám định, giám định lại, giám định bổ sung hoặc đối chất, khai quật tử thi... thì luật sư bào chữa cần có văn bản đề nghị cơ quan điều tra tiến hành các hoạt động đó và yêu cầu cơ quan điều tra cung cấp cho mình kết quà giám định theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Trong trường hợp bị can không được cơ quan điều tra thông báo về kết quả giám định tư pháp, giám định vế tài chính - kế toán hoặc định giá tài sản trong tố tụng hình sự, luật sư bào chữa cần trao đổi xem cơ sở, căn cứ, phương pháp giám định, định giá có phù hợp không, từ đó kiến nghị trả hồ sơ điều tra bổ sung, đề nghị tổ chức đối chất với người có lời khai khác biệt với bị can... Đây là một kỹ năng rất quan trọng, tạo sợi dây liên kết, tin tưởng giữa luật sư và bị can.

Kỹ năng của luật sư bào chữa khi tham gia hoạt động đối chất: Trước khi tiến hành đối chất, điều tra viên phải thông báo cho Viện kiểm sát cung cấp để cử kiểm sát viên kiểm soát việc đối chất. Tuy vậy, điều luật không quy định điều tra viên phải thông báo cho luật sư bào chữa, nhưng một trong những kỹ năng quan trọng của luật sư là phải chủ động đề nghị được tham gia đối chất, chuẩn bị các nội dung và trong trường hợp cần thiết, đề nghị đặt câu hỏi để làm rõ các mâu thuẫn trong lời khai giữa những người được đối chất. Khi bắt đấu đối chất, điều tra viên hỏi về mối quan hệ giữa những người tham gia đối chất để họ xác định có biết nhau hay không, có quan hệ với nhau như thế nào, sau đó hỏi họ về những tình tiết đang còn có mâu thuẫn cần làm sáng tỏ.

Điều tra viên để cho từng người tự trình bày lời khai của mình, có thể hỏi từng người xen kẽ trong quá trình đối chất. Trong trường hợp cần thiết điều tra viên có thể đưa ra chứng cứ, đó vật, tài liệu và có thể để cho những người tham gia đối chất hỏi nhau về những vấn đề còn mâu thuẫn. Khi điều tra viên thực hiện nhũng hoạt động này, luật sư bào chữa phải chú ý quan sát, ghi chép đầy đủ nhung câu hỏi, nội dung trả lời của những người tham gia đối chất vấn những vấn đề mâu thuẫn. Khi được điều tra viên đồng ý, luật sư bào chữa có thể trực tiếp hỏi người tham gia đối chất về những vấn đề chưa rõ, còn mâu thuẫn. Trường hợp, khi những người tham gia đối chất đang khai hoặc đang trả lời các câu hỏi mà điều tra viên nhắc lại những lời khai trước của họ, luật sư cần có ý kiến để điều tra viên thực hiện đúng quy định của pháp luật là chỉ được nhắc lại khi họ đã khai xong hoặc trả lời xong nhằm đảm bảo tính khách quan của lời khai.

Trường hợp khi tiến hành đối chất, điều tra viên thực hiện việc ghi âm hoặc ghi hình có âm thanh thì luật sư bào chữa phải yêu cầu trước khi bắt đầu tiến hành đối chất, điều tra viên phải thông báo cho những người tham gia đối chất biết và khi kết thúc phải phát lại bằng ghi âm, ghi hình nội dung đối chất để điều tra viên và những người tham gia đối chất cùng nghe và ký xác nhận vào biên bản đối chất.

Kỹ năng của luật sư bào chữa khi tham gia hoạt động nhận dạng: Thành phần tham gia nhận dạng, ngoài điều tra viên chủ trì, cán bộ điều tra, còn có người làm chứng, bị hại hoặc bị can, người chứng kiến theo quy định tại Khoản 2 Điều 190 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Luật sư bào chữa cần chú ý trường hợp có bị hại là người nhận dạng thì trước khi tiến hành, điều tra viên giải thích cho họ biết trách nhiệm về việc từ chối, trốn tránh khai báo hoặc cố ý khai báo gian dối và phải ghi vào biên bản.

Trước khi cho một người nhận dạng, điều tra viên phải hỏi người này về.Điều kiện hoàn cảnh có liên quan đến quá trình tri giác như thời gian quan sát, khoảng cách quan sát, điều kiện ánh sáng, thời tiết, màu sắcđối tượng có ảnh hưởng gì cho việc nhận biết đối tượng không - những tình tiết, vết tích và đặc điểm mà nhờ đó họ có thể nhận dạng được.

Luật sư bào chữa cần tập trung cao độ để nghe kết hợp ghi chép vào sổ tay của mình đặc biệt cần ghi đầy đủ, chính xác những câu hỏi, cần trả lời về đặc điểm, vết tích có tính riêng biệt và tương đối ổn định của đối tượng nhận dạng bởi vì những đặc điểm, vết tích này có giá trị cao khi đánh giá kết quả nhận dạng. Biên bản nhận dạng được lập theo quy định tại Điều 178 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Trong biên bản ngoài việc ghi theo quy định chung còn phaj ghi rõ nhân thân, tình trạng sức khỏe của người nhận dạng và của những người được đưa ra để nhận dạng; đặc điểm của vật, ảnh được đưa ra nhận dạng; các lời khai báo, trình bày của người nhận dạng.

Xem thêm: Thù lao luật sư và Chi phí pháp lý tại Công ty Luật TNHH Everest

V- KỸ NĂNG CỦA LUẬT SƯ BÀO CHỮA PHÁT HIỆN CÁC VI PHẠM TỐ TỤNG CỦA ĐIỀU TRA VIÊN VÀ ĐƯA RA YÊU CẦU, ĐỀ XUẤT

Trong quá trình thực hiện công việc bào chữa của mình, việc luật sư bào chữa phát hiện ra những sai phạm của điều tra viên (nếu có) trong quá trình giải quyết vụ án là yếu tố quan trọng để việc giải quyết vụ án được khách quan và đúng với quy định của pháp luật. Do đó, khi tham gia bào chữa từ giai đoạn điều tra, luật sư cần trang bị cho mình những kỹ năng để có thể phát hiện ra những sai phạm của điều tra viên trong quá trình điều tra vụ án.

Việc phát hiện sai phạm, thiếu sót của điều tra viên có thể được luật sư bào chữa thực hiện ngay khi luật sư gặp gỡ và trao đổi với người bị tạm giữ, bị can. Khi trao đổi với bị can, người bị tạm giữ, luật sư cần hỏi xem họ đã được điều tra viên giao quyết định khởi tố bị can chưa; đã được điều tra viên giải thích đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giữ, bị can hay chưa; có bị điều tra viên đặt các câu hỏimớm cung hay không; có bị điều tra viên bức cung hoặc dùng nhục hình khi lấy lời khai, hỏi cung không; người bị tạm giữ, bị can có được kývào mỗi trang của biên bản lấy lời khai, hỏi cung mình hay không; có kývào sát dòng cuối cùng của biên bản hay không...

Trong nhiều trường hợp, người bị tạm giữ, bị can chỉ ký vào trang cuối cùng của bản cung nhưng lại không sát vào dòng cuối cùng trang nên sau này điều tra viên có thể viết thêm những nội dung bất lợi cho họ vàotrang đầu của bản cung hoặc phầntrống được tạo ra khi người bị tạm giữ, bị can ký không sát vào dòng cuối cùng (lưu ý chỉ có thể chắc chắn đúng là điều tra viên có những sai phạm trên khi luật sư bào chữa được nghiên cứu hồ sơ vụ án - nghĩa là sau khi kết thúc điều tra)-Đối với người bị tạm giữ, bị can là người dưới 18 tuổi, luật sư bào chữa cần hỏi rõ xem họ có người giám hộ không; người giám hộ của họ có mặt khi hỏi cung và có được ký vào các biên bản hỏi cung đó không, bởi theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự thì khi hỏi cung người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuồi, người có nhược điểm về thể chất hoặc tinh thần thì phải có mặt người đại diện của họ và người đại diện này được quyền ký vào các bản cung.

Khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ sơ vụ án, luật sư bào chữa cần chú ý đến ngày, tháng, năm của các biên bản xem chúng có trùng lặp hoặc mâu thuẫn nhau về mặt thời gian hay không. Trong nhiều vụ án, trong cùng một thời gian, địa điểm mà Điều tra viên lại có thể hỏi cung nhiều bị can khác nhau, thậm chí tại nhiều địa điểm khác nhau thì điều đó chứng tỏ những bản cung đó là do điều tra viên tự viết bản cung và người bị tạm giữ, bị can phải ký vào. Việc làm này của điều tra viên sẽ làm ảnh hưởng nghiêm trọng tới tính khách quan của hồ sơ vụ án.

Trong khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, luật sư bào chữa cũng cần chú ý tới phấn tẩy xóa của bản cung. Về nguyên tắc khi tẩy xóa, thêm, bớt các ký tự trong biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung thì phải có chữ ký xác nhận của người bị tạm giữ, bị can vào bản cung đó. Nếu bản cung bị tẩy xóa mà không có chữ ký của người bị tạm giữ, bị can thì đó là sự vi phạm thủ tục tố tụng. Trong nhiều trường hợp, đây là căn cứ để Viện kiểm sát hoặc Tòa án yêu cầu trả hồ sơ điều tra bổ sung.

Sau khi phát hiện ra những sai phạm của Điều tra viên, luật sư bào chữa cần thận trọng kiểm tra, chụp ảnh hoặc sao chụp rõ những tài liệu phản ánh sai phạm. Luật sư phải nghiên cứu kỹ các văn bản pháp luật, các hướng dẫn, biểu mẫu của ngành công an, kiểm sát để chắc chắn điều tra viên đã sai phạm. Luật sư cần cân nhắc các phương án xử lý của bản thân đối với những sai phạm đó của điều tra viên, có thể chân thành, tế nhị trao đồi, góp ý với điều tra viên (nếu các sai phạm không nghiêm trọng để giúp điều tra viên có được thái độ tích cực khắc phục, rút kinh nghiệm). Luật sư cũng có thể gặp trực tiếp để trao đổi với điều tra viên (yêu cầu lập biên bản về buổi làm việc này).

Trong trường hợp cần thiết, luật sư gửi văn bản đến Thủ trưởng cơ quan điều tra cấp trên hoặc Viện kiểm sát để thông báo về sai phạm của điều tra viên. Các phương án xử lý phải hết sức linh hoạt trên nguyên tắc bảo vệ lợi ích của thân chủ và nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hình sự.

Xem thêm: Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

Luật sư Nguyễn Thị Hoài Thương, Trưởng Chi nhánh Nghệ An của Công ty Luật TNHH Everest, tổng hợp (tham khảo: Giáo trình Kỹ năng của Luật sư khi tham gia giải quyết vụ án hình sự của Học viện Tư pháp và một số nguồn khác).

Liên hệ tư vấn
Liên hệ tư vấn

Chuyên viên tư vấn sẵn sàng hỗ trợ!

Tư vấn sử dụng dịch vụ miễn phí

Hoặc
Đăng ký tư vấn
Công ty luật TNHH Everest - Công ty Luật uy tín tại Việt Nam

Everest
Thương hiệu tư vấn pháp lý hàng đầu
Thương hiệu tư vấn pháp lý hàng đầu

Top 20 thương hiệu vàng Việt Nam

Tự hào là đối tác thương hiệu lớn
Video
Everest - Hành trình vượt khó cùng đối tác
Hợp đồng góp vốn thành lập doanh nghiệp
Gặp các chuyên gia Đội ngũ Luật sư giàu kinh nghiệm
Để làm được những điều đó, mỗi một luật sư thành viên thuộc Hãng luật của chúng tôi đều phải rèn luyện không ngừng để có kiến thức Uyên thâm về chuyên môn, luôn đặt Tình yêu và Trách nhiệm vào công việc
3.8 5 (1 đánh giá)
0 bình luận, đánh giá về Kỹ năng của luật sư bào chữa khi tham gia một số hoạt động điều tra

Xin chào quý khách. Quý khách hãy để lại bình luận, chúng tôi sẽ phản hồi sớm

Trả lời.
Thông tin người gửi
Bình luận sản phẩm
Nhấn vào đây để đánh giá
Thông tin người gửi
Tổng đài tư vấn: 024-66 527 527
Giờ làm việc: Thứ 2 - Thứ 7: 8h30 - 18h00
0.26920 sec| 1214.391 kb