Kỹ năng của luật sư: thu thập chứng cứ trong vụ án dân sự

"Quan tòa bị kết án khi tội nhân được xóa tội".

- Publilius Syrus

Kỹ năng của luật sư: thu thập chứng cứ trong vụ án dân sự

Thu thập chứng cứ là tìm ra các chứng cứ, tập hợp đưa vào hồ sơ vụ việc dân sự để nghiên cứu, đánh giá và sử dụng trong quá trình Tòa án giải quyết vụ việc dân sự.

Hoạt động chứng minh là một quá trình nhận thức được diễn ra trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ việc dân sự gồm nhiều hoạt động khác nhau của các chủ thể chứng minh. 

Luật sư lưu ý các điều kiện để xác định chứng cứ được ghi nhận trong Chương VII “Chứng minh và chứng cứ” trong Bộ luật tố tụng dân sự.

Liên hệ

I- THU THẬP CHỨNG CỨ TRONG MỐI QUAN HỆ VỚI CÁC HOẠT ĐỘNG KHÁC CỦA QUÁ TRÌNH CHỨNG MINH

Hoạt động chứng minh là một quá trình nhận thức được diễn ra trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ việc dân sự gồm nhiều hoạt động khác nhau của các chủ thể chứng minh. Dưới khía cạnh của quá trình tố tụng, các hoạt động này được phân ra làm các giai đoạn: (i) giai đoạn thu thập, cung cấp, giao nộp chứng cứ khi khởi kiện; (ii) giai đoạn thu thập, cung cấp, giao nộp chứng cứ trong quá trình tố tụng; (iii) giai đoạn nghiên cứu chứng cứ, đánh giá chứng cứ. Các giai đoạn của quá trình chứng minh tổng hợp thành một thể thống nhất trong hoạt động chứng minh của Tòa án và những người tham gia tố tụng khác. Xét trên phương diện logic, các hoạt động thu thập, cung cấp, giao nộp, nghiên cứu, đánh giá chứng cứ có mối quan hệ biện chứng với nhau, hoạt động này là nền tảng của hoạt động kia và ngược lại.

Hoạt động chứng minh trong tố tụng dân sự được bắt đầu từ thời điểm đương sự khởi kiện ra Tòa và Tòa án tiến hành các hoạt động thụ lý giải quyết vụ, việc dân sự. Hoạt động này khép lại bằng việc đánh giá, sử dụng chứng cứ. Các phán quyết của Tòa án đối với yêu cầu của đương sự là kết quả của hoạt động này.

Hoạt động thu thập, cung cấp, giao nộp, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ do các chủ thể chứng minh thực hiện phải tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự nhằm làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ, việc dân sự. Các giai đoạn của hoạt động chứng minh có mối quan hệ khăng khít với nhau tạo thành một quá trình thống nhất. Giai đoạn trước là điều kiện, tiền đề cho giai đoạn sau, giai đoạn sau kiểm tra giai đoạn trước. Nếu không có hoạt động thu thập, cung cấp. giao nộp chứng cứ khi khởi kiện thì không mở ra quá trình tố tụng và không có hoạt động nghiên cứu, đánh giá chứng cứ trong tố tụng. Hoạt động đánh giá chứng cứ là cơ sở để xác định kết quả, chất lượng của hoạt động thu thập, cung câp, nghiên cứu chứng cứ. Việc phân chia hoạt động chứng minh thành các giai đoạn cụ thế nhằm giúp định hướng những nhiệm vụ mà các chủ thể chứng minh phải giải quyết, hướng tới mục đích cuối cùng là xác định chân lý khách quan, tạo cơ sở để giải quyết đúng đắn vụ, việc dân sự.

Hoạt động chứng minh thực chất là hoạt động sử dụng chứng cứ thông qua các hoạt động thu thập, cung cấp, giao nộp, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ. Trong hoạt động thu thập, cung cấp, giao nộp chứng cứ, đương sự sử dụng chứng cứ bằng cách áp dụng những quy định của pháp luật về cung cấp chứng cứ. Trong hoạt động thu thập chứng cứ, Tòa án và các chủ thể tham gia tố tụng sử dụng chứng cứ bằng cách áp dụng những quy định của pháp luật về thu thập chứng cứ. Cũng như vậy, trong hoạt động nghiên cứu và đánh giá chứng cứ, các chủ thể chứng minh sử dụng chứng cứ bằng cách áp dụng quy định của pháp luật về nghiên cứu và đánh giá chứng cứ. Luật sư cần lưu ý rằng, chứng cứ trong hoạt động thu thập chỉ mang tính tương đối vì hoạt động thu thập chứng cứ chỉ là suy đoán về sự tồn tại của chứng cứ. Khi tiến hành các biện pháp đánh giá chứng cứ thì chứng cứ mà chủ thể thu thập được có thể sẽ không thỏa mãn điều kiện của chứng cứ trong tố tụng dân sự.

Xem thêm: Dịch vụ pháp lý trong lĩnh vực dân sự của Công ty Luật TNHH Everest.

II- XÁC ĐỊNH ĐỐI TƯỢNG CHỨNG MINH, NỘI DUNG, PHẠM VI THU THẬP CHỨNG CỨ

Hoạt động thu thập chứng cứ trong tố tụng dân sự luôn rất phong phú, đa dạng về nội dung, đối tượng, hình thức và biện pháp thu thập. Trong các vụ việc dân sự, nội dung của hoạt động chứng minh phải xuất phát từ yêu cầu của đương sự, nên mỗi nội dung vụ việc khác nhau sẽ đặt ra yêu cầu thu thập chứng cứ khác nhau. Ngay cả khi cùng một loại vụ việc thì việc đưa ra nội dung thu thập chứng cứ cũng có đặc thù riêng. 

Nội dung của hoạt động thu thập chứng cứ trong vụ việc dân sự phu thuộc vào yêu cầu của đương sự và yêu cầu cùa chú thế tiến hành hoạt động thu thập chứng cứ và ở từng thời điểm tố tụng. Yêu cầu ở đây phải hiểu theo nghĩa rộng, không chỉ là yêu cầu của nguyên đơn mà còn là yêu cầu của bị đơn, yêu cầu của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Vì vậy, đối tượng của hoạt động thu thập chứng cứ rất đa dạng gồm: chứng cứ dùng để khẳng định và chứng cứ dùng để phủ định, chứng cứ trực tiếp, chứng cứ gián tiếp, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu về nội dung, chứng cứ dùng để giải quyết yêu cầu về tố tụng.

1- Xác định nội dung, phạm vi chứng cứ

Hoạt động thu thập chứng cứ trong vụ việc dân sự phải được tiến hành trong khuôn khổ của pháp luật thì chứng cử được thu thập mới có giá trị chứng minh. Trong quá trình chứng minh, nếu không xác định được nội dung cần chứng minh kì định hướng để thu thập chứng cử hoặc xác định không chính xác nội dung thu thập thì sẽ dẫn đến hệ quả là quá trình thu thập chứng cứ sẽ tràn lan, Luật sư sẽ thu thập cả những thông tin, tài liệu không liên quan đến vụ việc hoặc không liên quan đến những tình tiết, sự kiện cần phải chứng minh. Hoặc ngược lại, quá trình thu thập tài liệu, chứng cứ bị thu hẹp, bỏ sót, không thu thập hết những thông tin, tài liệu cần thiết có liên quan đen vụ việc, dân đên việc không có đủ những tài liệu, chứng cứ để chứng minh những thông tin, mâu thuẫn của sự việc. Việc không xác định được chính xác nội dung, phạm vi thu thập chứng cứ sẽ làm cho hoạt động thu thập chứng cứ của Luật sư lâm vảo tình trạng không thể xác định, không cụ thể, mơ hồ, xa rời mục đích chứng minh.

Hoạt động thu thập chứng cứ nhằm chuẩn bị cơ sở pháp lý, căn cứ để đáp ứng những yêu cầu về đối tượng cần phải chứng minh. Do đó, để xác định được nội dung cần tiến hành xác minh, thu thập phải căn cứ vào đối tượng chứng minh. Xem xét quy định của pháp luật hiện hành, các nội dung thu thập chứng cứ Luật sư cần đặt trọng tâm vào những điều kiện sau:

(i) Xác định quan hệ pháp luật đang tranh chấp:

Đây là yếu tố đầu tiên có ý nghía định hướng cho quá trình giải quyết vụ việc dân sự cũng như việc xác định thu tục tố tụng dế giai quyết, về nguyên tắc, quan hệ xã hội xảy ra tại thời điểm nào thì áp dụng pháp luật đang có hiệu lực ở thời điểm đó để giải quyết, trừ các trường hợp pháp luật có quy định khác. Việc xác định quan hệ pháp luật cần giải quyết dựa trên cơ sở yêu cầu của các đương sự và bản chất của từng loại vụ việc dân sự đó được luật nội dung điều chỉnh. Do đó, Luật sư xác định quan hệ pháp luật tranh chấp sẽ tìm ra dược đặc trưng của loại án, từ đó là cơ sở để xác định những vấn đề cần chứng minh của vụ án.

Khi tư vấn cho khách hàng khởi kiện và giúp khách hàng tham gia tranh tụng giải quyết vụ việc dân sự, Luật sư phải xác định được quan hệ pháp luật tranh chấp, đưa ra những quan điểm, lập luận, đề xuất để Tòa án xác định chính xác quan hệ pháp luật. Chỉ khi xác định được đúng, đầy đủ quan hệ pháp luật mới là cơ sơ lựa chọn và áp dụng quy phạm pháp luật nội dung phù hợp, tìm định hướng đúng cho hoạt động thu thập chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng mình. Mục đích của hoạt động thu thập chứng cứ nhằm đạt được sự khẳng định những vấn đề về nội dung của đối tượng chứng minh là đúng đắn và xác thực. Mỗi vụ kiện dân sự phát sinh tại Tòa án thường chứa đựng những mâu thuẫn nhất định giữa các bên đương sự nên rất phức tạp. Để giải quyết được vụ, việc dân sự thì mọi vấn đề của vụ, việc dân sự đều phải được làm sáng tỏ trước khi Tòa án quyết định giải quyết vụ, việc dân sự.

Về lý luận, đối tượng chứng minh là tổng hợp những tình tiết, sự kiện cần phải chứng minh để làm rõ nội dung và bản chất quan hệ pháp luật giữa các bên đương sự đã xảy ra. Tổng hợp các tình tiết, sự kiện đó tạo cơ sở cho việc xác định quyền, nghĩa vụ các bên và áp dụng quy định của pháp luật nội dung để giải quyết tranh chấp. Tuy nhiên, để giải quyết vụ việc dân sự khách quan, chính xác, đúng pháp luật, bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự thì không chỉ những tình tiết, sự kiện thuộc đối tượng chứng minh mà cả những tình tiết, sự kiện có ý nghĩa đối với việc giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự dưới khía cạnh tố tụng cũng cần phải được chứng minh như: những tình tiết, sự kiện làm căn cứ cho việc Tòa án ban hành quyết định đình chỉ, quyết định tạm đình chỉ, quyết định chuyển vụ việc dân sự; những tình tiết, sự kiện làm căn cứ cho việc xác định thẩm quyền thụ lý vụ việc dân sự của Tòa án... Cùng với đối tượng chứng minh, những tình tiết, sự kiện này tập hợp thành giới hạn chứng minh hay phạm vi chứng minh trong tố tụng dân sự.

Có thể nói, phạm vi các sự kiện cần chứng minh rộng hơn các sự kiện thuộc đối tượng chứng minh, cụ thể bao gồm:

(a) Những sự kiện pháp lý làm cơ sở cho yêu cầu của nguyên đơn yêu cầu phản tố của bị đơn hay yêu cầu độc lập của người có quvền lợi. nghĩa vụ liên quan. Đây là nhóm tinh tiết, sự kiện phải chứng minh mang tính chất luật nội dung (các tình tiết, sự kiện thuộc đối tượng chứng minh). Bên cạnh nhưng tình tiết, sự kiện về nội dung, còn phải chứng minh những tình tiết, sự kiện mang tính chất thuần túy “tố tụng”.

(b) Với tính chất đối tượng chứng minh được hình thành từ đặc trưng của loại án, Luật sư cần lưu ý xác định không chỉ quan hệ pháp luật chính (quan hệ pháp luật theo yêu cầu của nguyên đơn) mà cả các quan hệ pháp luật phái sinh - các quan hệ pháp luật thuộc yêu cầu phản tố của bị đơn và/hoặc quan hệ đứng về phía người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập, từ đó xác định được đối tượng chứng minh của vụ án. Luật sư cần dựa vào các quy định của pháp luật nội dung đôi với các quan hệ pháp luật đã được xác định đế xác định những tình tiết, sự kiện cằn phải chứng minh.

(c) Quy định về đối tượng chứng minh trong Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 có sự phân biệt rõ ràng giừa giá trị chứng cứ và giá trị chứng minh. Nhừng tình tiết, sự kiện không phải chứng minh thì đương nhiên có giá trị chứng cứ. Những tình tiết, sự kiện phải chứng minh thì chi có giá trị chứng cứ sau khi những tình tiết, sự kiện đó đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định.

(ii) Xác định tư cách của chu thế tham gia tổ tụng:

Để xác định được nội dung này đòi hỏi các chủ thể cần nghiên cứu các quy định của Bộ luật tố tụng dân sựSự về cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng. Xuất phát từ việc xác định quan hệ pháp luật cần giải quyết, Tòa án sẽ tập hợp những chủ thể có liên quan đên quan hệ pháp luật đó và đặt họ vào đúng vị trí tố tụng. Tuy nhiên, trong một vụ việc dân sự có thế xuất hiện nhiêu quan hệ pháp luật khác nhau, do vậy cần phải xác định quan hệ pháp luật nào là quan hệ pháp luật chính, từ đó đặt vị trí tố tụng cùa nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan cho phù hợp.

(iii) Xác định rõ trọng tâm vấn đề cần phải chứng minh:

Điều kiện này giúp cho Luật sư khi thu thập chứng cử tạp trung vào nhưng điểm mấu chốt, trọng tâm cần làm sáng tỏ trong vụ việc dân sự. Để làm được điều này, trước tiên Luật sư phải dựa vào các quy định của pháp luật nội dung đối với các quan hệ pháp luật đã được xác định đề xác định những tình tiết, sự kiện cần phải chứng minh. Đồng thời cũng căn cứ vào yêu cầu của đương sự và những mâu thuân giữa các đương sự mà tìm ra trọng tâm vấn đề cần phải chứng minh. Điều kiện này hướng Luật sư thu thập chứng cứ tập trung vào những điểm mấu chốt, trọng tâm cần làm sáng tỏ trong vụ việc dân sự. Với những sự kiện không liên quan đến việc giải quyết vụ việc thì không cần thiết phải thu thập.

2- Xác định những tình tiết, sự kiện không cần phải chứng minh

Khi thu thập chứng cứ phải xuất phát từ quyền lợi của khách hàng. Mục đích thu thập chứng cứ nhằm chứng minh các tình tiết, sự kiện để có cơ sở áp dụng các căn cứ pháp lý tương ứng với thời điểm xác lập quan hệ mà pháp luật nội dung điều chỉnh đề xuất Tòa án ban hành phán quyết hợp tình, hợp lý, đúng với các quy định của pháp luật, về cơ bản, tất cả các tình tiết, sự kiện đều cần phải chứng minh, trừ những tình tiết, sự kiện sau thì không phải chứng minh:

(i) Những tình tiết, sự kiện mọi người đều biết và được Tòa án thừa nhận. Mục đích hướng tới của hoạt động chứng minh là nhằm làm rõ tình tiết, sự kiện liên quan đến vụ, việc dân sự để giải quyết đúng đắn vụ, việc dân sự. Những tình tiết, sự kiện này không chứng minh thì mọi người cũng đã biết rõ.. Đây là quy định nhằm xác định tính rõ ràng của tình tiết, sự kiện. Quyền thừa nhận một sự kiện nào đó là sự kiện mọi người đều biết không cần chứng minh phải thuộc về Tòa án, vì Tòa án là cơ quan chịu trách nhiệm giải quyết vụ, việc dân sự. Thực tế mức độ phổ biến của các tình tiết, sự kiện mọi người đều biết có thể rất khác nhau, có tình tiết, sự kiện phổ biến ở phạm vi rất rộng, có thể cả thế giới biết, nhưng cùng có tình tiết, sự kiện chỉ phổ biến ở phạm vi hẹp (một tỉnh, một huyện thậm chí là phạm vi của một cụm dân cư).

Vấn đề đặt ra là tình tiết, sự kiện phổ biến ở mức độ nào thì không phải chứng minh? Thực tiễn xét xử tại các Tòa án cho thấy không thể xác định được chính xác những người biết được tình tiết, sự kiện. Vì thế, việc đánh giá mức độ phổ biến của tình tiết, sự kiện mọi người đều biết chỉ mang tính tương đối nên Bộ luật tố tụng dân sự không thể quy định giới hạn tối thiểu về mức độ phố biến của tình tiết, sự kiện không cần chứng minh. Khi đương sự viện dẫn việc xác định tình tiết, sự kiện mọi người đều biết không cần phải chứng minh trong mỗi trường hợp cụ thể, cần phải căn cứ vào thời gian xảy ra tình tiết, sự kiện. Bởi vì, tính chất rõ ràng của tình tiết, sự kiện có thê mất dần đi theo thời gian trong trí nhớ của con người.

Do đó, một sự kiện lúc đầu có thể là sự kiện mọi người đều biết không cần phải chứng minh nhưng nếu xảy ra đã lâu thì vẫn có thể phải chứng minh lại trong quá trình tố tụng. Vì vậy, cần xem xét từng trường hợp cụ thể về mức độ phổ biến tin tức của các tình tiết, sự kiện..

(ii) Những tình tiết, sự kiện đã được xác định trong các bản án, quyết định của Toà án hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã có hiệu lực pháp luật. Một sự kiện xảy ra có thể làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt một hoặc nhiều quan hệ pháp luật. Những quan hệ pháp luật này có thể được xem xét ở những thời điểm khác nhau, trong những vụ án khác nhau, thậm chí ở những Tòa án khác nhau. Việc thừa nhận sự kiện, tình tiết không cần chứng minh phải là sự kiện trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật với những chứng cứ đã được kiểm tra, xác minh. Điêu này có ý nghĩa đảm bảo cho công tác xét xử của Tòa án được nhanh chóng, chính xác, đồng thời khắc phục tình trạng có thế xảy ra mâu thuẫn giữa những quyết định của Toà án và các cơ quan có thẩm quyền về cùng một vấn đề. Mặc dù không phải chứng minh nhưng khi sử dụng những sự kiện không cần phải chứng minh, đương sự phải nêu rõ nguồn gốc, xuất xứ của những sự kiện đó... Hơn nữa, việc chứng minh lại một tình tiết, sự kiện còn có khả năng dẫn đến sự phức tạp trong việc giải quyết vụ, việc dân sự, kéo dài thủ tục tố tụng dân sự.

(iii) Nhưng tình tiết, sự kiện đã được ghi trong văn bản và được công chứng, chứng thực hợp pháp; trường hợp có dấu hiệu nghi ngờ tính khách quan của những tình tiết, sự kiện này hoặc tính khách quan của văn bản công chứng, chứng thực thì Thẩm phán có thể yêu cầu đương sự, cơ quan công chứng, chứng thực xuất trình bản gốc. Văn bản công chứng không có giá trị chứng cứ nếu văn bản đó không hợp pháp, thực hiện không đúng thẩm quyền, không tuân theo quy định của pháp luật về công chứng, hoặc bị Tòa án tuyên bố là vô hiệu. 

Trường hợp có dấu hiệu nghi ngờ tính khách quan của những tình tiết, sự kiện này hoặc tính khách quan của văn bản công chứng, chứng thực thì Thẩm phán có thể yêu cầu đương sự, cơ quan công chứng, chứng thực xuất trình bản gốc. Khi vận dụng, viện dẫn tình tiết, sự kiện này trong quá trình chứng minh, Luật sư cần tư vấn cho khách hàng nên cân nhắc kiểm tra để xác định có cần đưa ra yêu cầu Tòa án tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu hay không, khi xem xét nhừng tình tiết, sự kiện mà văn bản công chứng vi phạm điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự nói chung và điều kiện đặc thù của giao dịch công chứng nói riêng.

(iv) Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh. Sự thừa nhận của một bên đương sự hay người đại diện của họ có giá trị loại trừ cho đương sự phía bên kia khởi nghĩa vụ chứng minh. Điều này xuất phát từ một vấn đề thuộc bản chất của chứng minh là làm cho đương sự bên kia thấy rõ sự tồn tại của các tình tiết, sự kiện liên quan đến vụ việc dân sự.

(v) Đương sự có người đại diện tham gia tố tụng thì sự thừa nhân của người đại diện được coi là sự thừa nhận của đương sự nếu không vượt quả phạm vi đại diện. Việc tham gia tố tụng cùa người đại diện của đương sự trong tố tụng dân sự nói chung và người đại diện theo ủy quyền nói riêng có ý nghĩa rất lớn đối với việc giải quyết các vụ án dân sự. Khi không thể trực tiếp tham gia tố tụng dân sự, đương sự có thể ủy quyền cho người khác thay mặt mình tham gia tố tụng. Người đại diện theo ủy quyên thực hiện hành vi nhân danh người đại diện đê bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự theo sự ủy quyền trong tố tụng dân sự. Bên đại diện và bên được đại diện biểu hiện ý chí thông qua họp đồng úy quyên hoặc giây ủy quyền. Nội dung ủy quyền, phạm vi ủy quyền đại diện và trách nhiệm của người đại diện theo ủy quyền được xác định thông qua sự thỏa thuận của người đại diện và người được đại diện. Đương sự có người đại diện tham gia tố tụng thì sự thừa nhận của người đại diện được coi là sự thừa nhận của đương sự nếu không vượt quá phạm vi đại diện phù hợp với quy định về đại diện được ghi nhận từ pháp luật nội dung đến pháp luật tố tụng dân sự.

Xem thêm: Dịch vụ Luật sư ly hôn tại Công ty Luật TNHH Everest.

III-  KỸ NĂNG XÁC ĐỊNH CHỨNG CỨ VÀ SỬ DỤNG CÁC BIỆN PHÁP THU NHẬP CHỨNG CỨ

Luật sư cần lưu ý các điều kiện để xác định chứng cứ được ghi nhận trong Chương VII “Chứng minh và chứng cứ” trong Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Thứ nhất, đối với các tài liệu đọc được nội dung. Luật sư cần hướng dẫn cho khách hàng thu thập bản chính như hợp đồng mua bán, vay tài sản, thuê tài sản, hợp đông tặng cho tài sản... Trong trường họp không có bản gốc, có thể nộp bản sao các tài liệu đó nhưng bản sao phải có công chứng, chứng thực hợp pháp hoặc bản sao do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cung cấp, xác nhận. Bản chính có thể là bản gốc hoặc bản được dùng làm cơ sở để lập ra các bản sao.

Thứ hai, các tài liệu nghe được, nhìn được. Khi khách hàng xuất trình tài liệu này, Luật sư cần hướng dẫn cho khách hàng xuất trình kèm theo văn bản trình bày của người có tài liệu đó về xuất xứ của tài liệu nếu họ tự thu âm, thu hình hoặc văn bản có xác nhận của người đà cung cấp cho người xuất trình về xuất xứ của tài liệu đó hoặc văn bàn về sự việc liên quan tới việc thu âm, thu hình đó. Trường hợp người có tài liệu tự thu âm, thu hình thì trực tiếp trình bày về xuất xứ của tài liệu. Trường họp người khác cung cấp, thì phải có văn bản xác nhận của người đã cung cấp cho người xuất trình về sự việc liên quan tới việc thu âm, thu hình đó.

Thứ ba, các thông điệp dữ liệu được thể hiện dưới hình thức trao đổi dữ liệu điện tử, chứng từ điện tử, thư điện tử, điện tín, điện báo, fax và các hình thức tương tự khác theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử. Để xác định chứng cứ này và áp dụng các biện pháp thu thập phù hợp, Luật sư cần tham khảo thêm các quy định về Luật Giao dịch điện tử và các văn bản hướng dẫn thi hành. Luật Giao dịch điện tử đã thừa nhận giá trị pháp lý của các chứng cứ điện tử là thông điệp dữ liệu, chữ ký điện tử có giá trị chứng cứ như tất cả các loại chứng cứ thông thường khác và nó không thể bị phủ nhận chỉ vì lý do đó là một thông điệp dữ liệu điện tử hay chữ ký điện tử.

Thứ tư, vật chứng là những vật khác nhau của thế giới vật chất. Trong vụ việc dân sự, vật chứng phải luôn là hiện vật gốc có tính đặc định, liên quan đến vụ việc dân sự thì mới có giá trị pháp lý. Việc nghiên cứu các vật chứng giúp Luật sư xác định những đặc diêm riêng về hình dạng, tính chất của chúng, từ đó rút ra các chứng cứ cần thiết để giải quyết vụ, việc dân sự. Các vật chứng trở thành phương tiện chứng minh khi những vật này được thu thập, củng cố, nghiên cửu và đánh giá theo đúng trình tự luật định, đáp ứng ba đặc tính khách quan, liên quan, hợp pháp cùa chứng cứ. Luật sư không chỉ hướng dẫn khách hàng thu thập vật chứng đung trình tự luật định mà còn giúp khách hàng bảo quản, giữ gìn để bảo tính đặc định của vật chứng trong suổt qúa trình xem xét và giải quyết vụ, việc dân sự. Giá trị chứng minh của các vật chứng thể hiện ở tính đặc định của các vật đó (phân biệt với các vật cùng loại). Nếu vật chứng không được bao quản tốt đế giừ gìn tính đặc định của vật thì vật chứng sẽ mất hết hoặc giảm giá trị chứng minh.

Thứ năm, lời khai của đương sự, lời khai của người làm chứng. Đương sự là người có quyền và lợi ích gắn liền với vụ, việc dân sự. Họ tham gia trực tiếp vào quan hệ pháp luật đang có tranh chấp để bảo vệ quyền lợi của chính bản thân mình. Lời khai cua đương sự, người làm chứng được dựa trên trí nhớ về một sự kiện nên thường mang tính chủ quan, vì vậy yếu tố tâm lý, độ tuổi, các yếu tổ tác động đến nhận thức sự vật, hiện tượng của đương sự, người làm chứng là một đặc trưng cần xem xét thận trọng khi thu thập và đánh giá nguồn chứng cứ là lời khai. Nội dung lời khai của dương sự, lời khai cua người làm chứng chứa đựng sự thật về vụ án được coi là chứng cứ nếu được ghi bằng văn bản, băng ghi âm, đĩa ghi âm, băng ghi hình, đĩa ghi hình, thiết bị khác có chứa âm thanh, hình ảnh hoặc khai bằng lời tại phiên tòa. Như vậy, phương tiện ghi nhận lại chứng cứ, sự thừa nhận về mặt pháp lý các hình thức ghi nhận lời khai khá da dạng. Khi thu thập loại chứng cứ này Luật sư cần lưu ý:

(i) Trường hợp người làm chứng lập bản tự khai, Luật sư cần hướng dẫn xác nhận chữ ký của chủ thể có thẩm quyền để đảm bảo xác định chính xác về nhân thân của chủ thể viết bản khai khi gửi văn bản đến toà;

(ii) Trường hợp Tỏa án tiến hành lấy lời khai của đương sự, người làm chứng, tiên hành dôi chât thì càn xem xét vê trình tự, thủ tục tòa án tiến hành thu thập chứng cứ đối với loại chứng cứ này. Luật sư cần xem xét về trình tự, thủ tục Tòa án lấy lời khai của đương sự (Điều 98 Bộ luật tố tụng dân sựSự năm 2015); trình tự, thủ tục lấy lời khai của người làm chứng (Điều 99 Bộ luật tố tụng dân sựSự năm 2015); thủ tục đối chất (Điều 100 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015).

(iii) Trường hợp lời khai của đương sự, người làm chứng được thể hiện bằng băng, đĩa ghi âm, băng, đĩa ghi hình... thì phải có văn bản xác nhận xuất xứ hoặc văn bản về sự việc liên quan đến việc thu âm, thu hình đó gửi kèm theo băng, đĩa ghi âm, ghi hình. Khi giao nộp loại chứng cứ này cần đề nghị Tòa án tiến hành lập biên bản về việc nhận các tài liệu, chứng cứ và phải bảo quản lưu giữ cùng với hồ sơ vụ án.

Thông thường, lời khai của đương sự gồm hai loại: Lời khai về những tình tiết, những sự kiện pháp lý mà dựa vào đó các đương sự đề xuất các yêu câu hoặc các biện pháp bảo vệ; Lời thừa nhận của một bên đương sự - khẳng định là có hay không có những sự kiện mà đáng ra bên đương sự khác phải chứng minh. Lời thừa nhận của một bên đương sự “giải phóng” cho đương sự còn lại khỏi nghĩa vụ chứng minh, tuy nhiên không “giải phóng” Tòa án khởi trách nhiệm chứng minh vì mặc dù đương sự có thừa nhận nhưng Tòa án vẫn phải làm rõ thi mới đánh giá lời thừa nhận của đương sự như chứng cứ được.

Thứ sáu, kết luận giám định được xác định là chứng cứ nêu việc giám định đó được tiến hành theo đúng thủ tục quy định của pháp luật, cụ thể được ghi nhận tại Luật Giám định tư pháp năm 2012 và Nghị định số 85/2013/NĐ-CP ngày 29/7/2013 của Chính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Giám định tư pháp.

Trong nhiều vụ việc dân sự, để làm sáng tỏ một số tình tiết nhất định đòi hỏi phải sử dụng những kiến thức chuyên môn cần thiết với sự hỗ trợ của Giám định viên. Kết luận của Giám định viên là kết luận khoa học về chuyên môn được thể hiện dưới hình thức một văn bản viêt hoặc được trình bày tại phiên tòa, được đưa ra sau khi đã nghiên cứu những vấn đề cần vận dụng kiến thức chuyên môn trả lời cho những vấn đề do Tòa án trưng cầu. Trong trường hợp việc đánh giá chứng cứ cần phải sử dụng các kiến thức chuyên môn như xác định chữ viết, chữ ký, vân tay của một người nào đó hay cần xác định nguyên nhân gây thiệt hại trong xây dựng, xác dịnh ADN... và theo sự thỏa thuận lựa chọn của các bên đương sự hoặc có yêu cầu cùa đương sự về việc trưng cầu giám định Tòa án tiến hành trưng cầu giám định khoa học. Đây là một nguồn chứng cứ quan trọng làm cơ sở cho việc giải quyết vụ việc dân sự, trong nhiều vụ kiện, kết luận giám định có tính chất quyết định đối với phản quyết của Tòa án.

Để kết luận giám định đáp ứng các thu tục thu thập hợp pháp, Luật sư cần lưu ý các yếu tố sau:

Sự thoả thuận lựa chọn hoặc yêu cầu Toà án trưng cầu giám định phải được thể hiện bằng văn bản (có thê làm bằng văn bán riêng, có thể ghi trong bản khai, có thể ghi trong biên bản ghi lời khai, biên bản đối chất). Đương sự được quyền đề nghị Tòa án trưng cầu giám định hoặc tự mình yêu cầu giám định sau khi đã đề nghị Tòa án trưng cầu giám định nhưng Tòa án từ chối yêu cầu của đương sự. Quyền tự yêu cầu giám định được thực hiện trước khi Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thấm. Tòa án được quyền ban hành quyết định trưng cầu giám định khi đương sự không yêu cầu nhưng Tòa án xét thấy cần thiết. Luật sư cần lưu ý, việc trao quyền cho dương sự tự mình trưng cầu giám định khi Tòa án từ chối trưng cầu giám định là cách chứng minh cùa đương sự. 

Thứ bảy, biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ được coi là chứng cứ nếu việc thẩm định được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định. Những vụ án mà đối tượng tranh chấp là bất động sản, vật không thể di chuyên hoặc trường hợp cân nắm vững hiện trường xảy ra sự việc tranh chấp nhằm đảm bảo cho bản án, quyết định của Tòa án được chính xác và bảo đảm khả năng thi hành án. Do đó, nêu đương sự có yêu cầu xem xét, thấm định tại chồ và xét thấy cần thiết thì Thâm phán tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ. Cụ thể là, đương sự phải có đơn yêu cầu và trình bày căn cứ đối với yêu cầu của mình để đề nghị Tòa án xem xét thẩm định tại chỗ. Tòa án xem xét và ra quyết định xem xét, thâm định tại chỗ. Quyết định này được gửi cho Uỷ ban nhân dân cấp xã hoặc cơ quan, tồ chức nơi có đối tượng cần xem xét, được giao hoặc gửi cho đương sự.

Thứ tám, kết quả định giá tài sản, kết quá thẩm định giá tài sán được coi là chứng cứ nếu việc định giá, thẩm định giá được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định. Theo yêu cầu của một hoặc các bên đương sự, Toà án yêu cầu tổ chức thẩm định giá tải sản tiến hành thẩm định giá . Các bên có quyền tự thỏa thuận về việc xác định giá tài sản, lựa chọn tố chức thẩm định giá tài sản.

Việc thẩm định giá tài sản được thực hiện theo quy định của pháp luật về thẩm định giá tài sản. Kết qủa thẩm định giá tài sản được coi là chứng cứ nếu việc thẩm định giá được tiến hành đúng theo quy định của pháp luật.

Thứ chín, văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý do người có chức nâng lập tại chỗ được coi là chứng cứ nếu việc lập vãn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định.

Thứ mười, văn bản công chứng, chứng thực được coi là chứng cứ nếu việc công chứng, chứng thực được thực hiện theo đúng thu tục do pháp luật quy định. Khi công chứng, người thực hiện công chứng phải tuân theo quy định của pháp luật về công chứng cũng như các quy định khác có liên quan. Công chứng viên dù là công chức nhà nước làm việc tại các phòng công chứng hay là công chứng viên làm việc tại văn phòng công chứng đều là chức danh tư pháp được nhà nước trao quyền thực hiện việc chứng nhận giao dịch. Quy định này nhằm khắng định rõ giá trị pháp lý của các giấy tờ, tài liệu đã được các cơ quan nhà nước công chứng, chứng thực hợp pháp.

Thứ mười một, các nguồn khác mà pháp luật có quy định được xác định là chửng cứ theo điều kiện, thu tục mà pháp luật quy định. So với Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 sửa đổi, bố sung năm 2011 thì Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 đã bỏ quy định về nguồn chứng cứ và xác định chứng cứ là tập quán. Với quy định mới của luật, tập quán có thể được xác định là một nguồn khác mà pháp luật có quy định.

Xem thêm: Dịch vụ Luật sư giải quyết tranh chấp nhà đất (Luật sư đất đai) của Công ty Luật TNHH Everest.

Luật sư Phạm Ngọc Minh - Giám đốc điều hành của Công ty Luật TNHH Everest, tổng hợp (nguồn tham khảo: Giáo trình Kỹ năng cơ bản của Luật sư khi tham gia giải quyết các vụ việc dân sự - Học viện Tư pháp và một số nguồn khác.

Liên hệ tư vấn
Liên hệ tư vấn

Chuyên viên tư vấn sẵn sàng hỗ trợ!

Tư vấn sử dụng dịch vụ miễn phí

Hoặc
Đăng ký tư vấn
Công ty luật TNHH Everest - Công ty Luật uy tín tại Việt Nam

Everest
Thương hiệu tư vấn pháp lý hàng đầu
Thương hiệu tư vấn pháp lý hàng đầu

Top 20 thương hiệu vàng Việt Nam

Tự hào là đối tác thương hiệu lớn
Video
Everest - Hành trình vượt khó cùng đối tác
Hợp đồng góp vốn thành lập doanh nghiệp
Gặp các chuyên gia Đội ngũ Luật sư giàu kinh nghiệm
Để làm được những điều đó, mỗi một luật sư thành viên thuộc Hãng luật của chúng tôi đều phải rèn luyện không ngừng để có kiến thức Uyên thâm về chuyên môn, luôn đặt Tình yêu và Trách nhiệm vào công việc
4.4 5 (1 đánh giá)
0 bình luận, đánh giá về Kỹ năng của luật sư: thu thập chứng cứ trong vụ án dân sự

Xin chào quý khách. Quý khách hãy để lại bình luận, chúng tôi sẽ phản hồi sớm

Trả lời.
Thông tin người gửi
Bình luận sản phẩm
Nhấn vào đây để đánh giá
Thông tin người gửi
Tổng đài tư vấn: 024-66 527 527
Giờ làm việc: Thứ 2 - Thứ 7: 8h30 - 18h00
0.36369 sec| 1203.664 kb