Những vấn đề chung trong thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm hình sự

"Pháp luật là đạo đức biển hiện ra bên ngoài, đạo đức là pháp luật ẩn giấu bên trong."

Abraham Lincoln, 1809 - 1865, tổng thống thứ 16 của Mỹ 

Những vấn đề chung trong thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm hình sự

Giám đốc thẩm là việc Tòa án cấp trên có thẩm quyền xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp dưới bị kháng nghị vì có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án. Tái thẩm là thủ tục xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhưng bị kháng nghị vì có tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định mà Tòa án không biết được khi ra bản án, quyết định đó.

Luật sư hình sự cần am hiểu những vấn đề chung liên quan tới thủ tục giám đốc thẩm và thủ tục tái thẩm để có cơ sở, căn cứ tư vấn và hỗ trợ khách hàng.

Liên hệ

I- NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỦ TỤC GIÁM ĐỐC THẨM

1- Căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm

Giám đốc thẩm là việc Tòa án cấp trên có thẩm quyền xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp dưới bị kháng nghị vì có vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án. Khác với cấp sơ thẩm và cấp phúc thẩm là hai cấp xét xử, giám đốc thẩm không phải là một cấp xét xử mà là một thủ tục tố tụng đặc biệt. Giám đốc thẩm chỉ xuất hiện khi có kháng nghị của người có thẩm quyền. Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm khi có một trong các căn cứ:

Thứ nhất, kết luận trong bản án, quyết định của Tòa án không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án. Bản án, quyết định của tòa án bị coi là không phù hợp với tình tiết khách quan của vụ án là kết luận không dựa trên sự kiện có thực của vụ án đã xảy ra, có thể là một trong những trường hợp sau đây:

- Kết luận trong bản án, quyết định không phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được cơ quan tiến hành tố tụng thu thập, chứng minh và đã được xác minh rõ ở phiên tòa;

- Tại phiên tòa không xem xét đầy đủ những tình tiết để xác định sự thật khách quan của vụ án;

- Kết luận trong bản án, quyết định chỉ dựa vào những chứng cứ nhất định mà không xem xét những tình tiết khác có ý nghĩa quan trọng để kết luận về vụ án;

- Có sự mâu thuẫn giữa các chứng cứ quan trọng đối với vụ án mà Tòa án lại dựa vào đó nén không phản ánh được sự thật khách quan của vụ án;

- Kết luận của Tòa án đã gây thiệt hại cho Nhà nước (ví dụ: không áp dụng tịch thu tài sản mà pháp luật quy định bắt buộc phải áp dụng...) hoặc xâm phạm quyền và lợi ích chính đáng của công dân (ví dụ: khẳng định bị cáo thực hiện trong tình thế cấp thiết nhưng lại tuyên bị cáo là có tội...).

Thứ hai, có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử dẫn đến sai lầm nghiêm trọng trong việc giải quyết vụ án. Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử là những vi phạm quy định của pháp luật TTHS về thủ tục tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử mà những vi phạm này làm cho Tòa án xét xử vụ án không khách quan, không đúng pháp luật hoặc thiếu căn cứ xâm phạm nghiêm trọng đến lợi ích của Nhà nước, của tập thể, quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo và của những người tham gia tố tụng khác. Những vi phạm này rất đa dạng và một số trường hợp được hướng dẫn cụ thể tại Điều 6 Thông tư liên tịch số 02/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP ngày 22/12/2017 quy định việc phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong thực hiện một số quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về trả hồ sơ để điều tra bổ sung.

Thứ ba, có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật là việc áp dụng pháp luật không đúng dẫn đến nội dung của bản án, quyết định của Tòa án không phản ánh đúng sự thật khách quan của vụ án. Đó có thể là các trường hợp như: áp dụng không đúng điều, khoản của Bộ luật hình sự (ví dụ: áp dụng hình phạt tù chung thân đối với người dưới 18 tuổi phạm tội); mức hình phạt không phù hợp với mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội (quá nặng hoặc quá nhẹ); áp dụng loại hình phạt không đúng; sai lầm trong việc áp dụng quy định của Bộ luật hình sự dẫn đến truy cứu sai người vô tội; áp dụng mức hình phạt vượt quá mức cao nhất của khung hình phạt được quy định trong Bộ luật hình sự; sai lầm trong việc áp dụng Bộ luật hình sự dẫn đến việc quyết định miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt không đúng...

2- Thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm

Để có thể kháng nghị giám đốc thẩm đối với các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án cấp dưới, việc đầu tiên là kịp thời phát hiện ra những vi phạm pháp luật trong quá trình xử lý các vụ án. Pháp luật quy định mọi cơ quan, tổ chức, cá nhân đều có quyền phát hiện những vi phạm pháp luật trong bản án, quyết định của Tòa án đà có hiệu lực pháp luật và thông báo cho những người có quyền kháng nghị theo quy định tại Điều 373 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 biết. Thực tế, việc phát hiện và thông báo về các căn cứ kháng nghị giám đốc thẩm phẩn lớn là do Tòa án, Viện kiểm sát khi thực hiện công tác giám đốc việc xét xử, kiểm sát việc xét xử hoặc qua các nguồn thông tin khác mà phát hiện vi phạm pháp luật trong bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.

3- Những người có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bao gồm:

- Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp cao; bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án khác khi xét thấy cần thiết, trừ quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

- Chánh án tòa án quân sự trung ương, Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án quân sự cấp quân khu, Tòa án quân sự khu vực.

- Chánh án Tòa án nhân dân cấp cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân cấp huyện trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ.

4- Thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm

Thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm được chia thành hai loại: thời hạn kháng nghị theo hướng có lợi cho người bị kết án và thời hạn kháng nghị theo hướng không có lợi cho người bị kết án.

Việc kháng nghị theo trình tự giám đốc thẩm đối với những bản án hoặc quyết định của Tòa án theo hướng không có lợi cho người bị kết án chỉ được tiến hành trong thời hạn 01 năm, kể từ ngày bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật. Kháng nghị theo hướng không có lợi cho người bị kết án là những trường hợp kháng nghị theo một trong các hướng sau đây: kháng nghị vì người thực hiện hành vi phạm tội lại được tòa án tuyên không là phạm tội; kháng nghị vì miễn trách nhiệm hình sự hoặc hình phạt cho người được Tòa án miễn trách nhiệm hình sự hoặc hình phạt không có căn cứ và trái pháp luật; kháng nghị vì bị cáo được Tòa án cho hưởng án treo, hưởng thời hiệu miễn truy cứu trách nhiệm hình sự không đúng; kháng nghị đề nghị áp dụng điều khoản Bộ luật hình sự về tội nặng hơn; kháng nghị để áp dụng thêm hình phạt bổ sung đổi với người bị kết án; kháng nghị để tăng mức hình phạt chính hoặc hình phạt bổ sung đối với người bị kết án; kháng nghị để huỷ quyết định giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù hoặc miễn chấp hành thời hạn tù còn lại; xoá án tích...

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 không quy định việc kháng nghị quá hạn nên nếu quá thời hạn nêu trên thì trong mọi trường hợp đều không được kháng nghị theo hướng không có lợi cho người bị kết án. Việc quy định thời hạn 01 năm, kể từ ngày bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật đối với việc kháng nghị theo hướng không có lợi cho người bị kết án nhằm đề cao trách nhiệm của những người có quyền kháng nghị và bảo đảm sự ổn định của các bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật, bảo đảm lợi ích của người bị kết án.

Việc kháng nghị theo hướng có lợi cho người bị kết án không bị hạn chế về thời gian và có thể được tiến hành bất cứ lúc nào, kể cả trường hợp người bị kết án đã chấp hành xong bản án hoặc người bị kết án đã chết nhưng xét thấy cần minh oan cho họ. Các trường hợp kháng nghị theo hướng có lợi cho người bị kết án bao gồm: kháng nghị để hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ vụ án vì người bị kết án không phạm tội, không phải chịu trách nhiệm hình sự hoặc thuộc trường hợp miễn trách nhiệm hình sự; kháng nghị để hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để điều tra lại hoặc xét xử lại theo hướng giảm hình phạt, miễn hình phạt, áp dụng hình phạt thuộc loại nhẹ hơn cho người bị kết án...

Thời hạn kháng nghị đối với phần dân sự trong vụ án hình sự thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự là “ba năm, kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật” (Điều 334 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015).

Trong thời hạn kháng nghị, nếu không có căn cứ để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm thì người có quyền kháng nghị phải trả lời bằng văn bản cho cơ quan, tổ chức, cá nhân đã kiến nghị biết rõ lý do của việc không kháng nghị.

5- Thẩm quyền giám đốc thẩm

Thẩm quyền giám đốc thẩm được quy định cụ thể như sau:

- Ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao giám đốc thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân cấp huyện trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ bị kháng nghị;

- Hội đồng toàn thể ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao giám đốc thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp tỉnh, Tòa án nhân dân cấp huyện trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ bị kháng nghị nhưng có tính chất phức tạp hoặc bản án, quyết định đã được ủy ban Thẩm phán Tòa án nhân dân cấp cao giám đốc thẩm bằng HĐXX gồm ba Thẩm phán nhưng không thống nhất khi biểu quyết thông qua quyết định về việc giải quyết vụ án;

- Ủy ban Thẩm phán Tòa án quân sự trung ương giám đốc thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án quân sự cấp quan khu, Tòa án quân sự khu vực bị kháng nghị;

- Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao giám đốc thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp cao, Tòa án quân sự trung ương bị kháng nghị;

- Hội đồng toàn thể Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao giám đốc thẩm đối với bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp cao, Tòa án quân sự trung ương bị kháng nghị nhưng có tính chất phức tạp hoặc bản án, quyết định đã được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao giám đốc thẩm bằng HĐXX gồm năm Thẩm phán nhưng không thống nhất khi biểu quyết thông qua quyết định về việc giải quyết vụ án;

Trong trường hợp bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị nhưng thuộc thẩm quyền giám đốc thẩm của các cấp khác nhau thì Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao giám đốc thẩm toàn bộ vụ án.

6- Phiên tòa giám đốc thẩm

Phiên tòa giám đốc thẩm được tiến hành theo trình tự sau đây:

- Chủ tọa phiên tòa tuyên bố khai mạc phiên tòa và tên vụ án nào được đưa ra xét xử;

- Thẩm phán được phân công chuẩn bị bản thuyết trình về vụ án hoặc một thành viên của Hội đồng giám đốc thẩm trong trường hợp Thẩm phán được phân công chuẩn bị bản thuyết trình vắng mặt) trình bày tóm tắt nội dung vụ án, nội dung của kháng nghị. Các thành viên Hội đồng giám đốc thẩm có quyền hỏi người trình bày về những điểm chưa rõ; trường hợp Viện kiểm sát kháng nghị thì KSV trình bày nội dung kháng nghị;

- Trong trường hợp triệu tập người bị kết án, người bào chữa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng nghị, thì những người này được trình bày ý kiến trước khi đại diện Viện kiểm sát phát biểu. Nếu họ vắng mặt thì Hội đồng giám đốc thẩm vẫn có thể tiến hành xét xử. Đại diện Viện kiểm sát phát biểu kết luận về nội dung kháng nghị và hướng giải quyết vụ án;

- KSV, người tham gia tố tụng tại phiên tòa giám đốc thẩm tranh tụng về những vấn đề liên quan đến việc giải quyết vụ án. Đây là quy định mới của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Chủ tọa phiên tòa phải tạo điều kiện cho KSV, người tham gia tố tụng trình bày hết ý kiến, tranh luận dân chủ, bình đẳng trước Tòa án;

- Các thành viên Hội đồng giám đốc thẩm phát biểu ý kiến, thảo luận về vụ án và biểu quyết để ra quyết định. Trình tự biểu quyết như sau: những ý kiến đồng ý với kháng nghị biểu quyết trước, tiếp theo là những ý kiến không đồng ý với kháng nghị. Nếu không có loại ý kiến nào được quá nửa tổng số thành viên của Hội đồng giám đốc thẩm biểu quyết tán thành, thì vụ án phải hoãn và được xét xử lại trong thời hạn 30 ngày với một phiên toà khác với sự tham gia đầy đủ của các thành viên Hội đồng giám đốc thẩm.

7- Thẩm quyền của Hội đồng giám đốc thẩm

Hội đồng giám đốc thẩm có quyền ra một trong những quyết định sau đây:

- Hội đồng giám đốc thẩm không chấp nhận toàn bộ kháng nghị và giữ nguyên bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật, nếu thấy bản án hoặc quyết định bị kháng nghị là hợp pháp và có căn cứ, việc xét xử vụ án là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật;

-  Hội đồng giám đốc thẩm hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và giữ nguyên bản án, quyết định đúng pháp luật của Tòa án cấp sơ thẩm hoặc Tòa án cấp phúc thẩm bị hủy, sửa không đúng pháp luật;

- Hội đồng giám đốc thẩm hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật đề điều tra lại hoặc xét xử lại;

- Hội đồng giám đốc thẩm hủy bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ vụ án;

- Hội đồng giám đốc thẩm sửa bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật;

- Hội đồng giám đốc thẩm đình chỉ xét xử giám đốc thẩm trong trường hợp người kháng nghị giám đốc thẩm rút toàn bộ kháng nghị tại phiên tòa.

Xem thêm: Dịch vụ luật sư bào chữa trong vụ án hình sự của Công ty Luật TNHH Everest

II- NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỦ TỤC TÁI THẨM

1- Căn cứ tái thẩm

Cũng như giám đốc thẩm, tái thẩm không phải là một cấp xét xử mà là thủ tục đặc biệt của TTHS. Đây là thủ tục xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhưng bị kháng nghị vì có tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định mà Tòa án không biết được khi ra bản án, quyết định đó. Theo Điều 398 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục tái thẩm khi có một trong các căn cứ:

-  Có căn cứ chứng minh lời khai của người làm chứng, kết luận giám định, kết luận định giá tài sản, lời dịch của người phiên dịch, bản dịch thuật có những điểm quan trọng không đúng sự thật. Ví dụ: Căn cứ vào lời dịch của người phiên dịch, Tòa án đã kết án bị cáo, nhưng sau đó có căn cứ xác định lời dịch này là không đúng sự thật.

- Có tình tiết mà ĐTV, KSV, Thẩm phán, Hội thẩm do không biết được mà kết luận không đúng làm cho bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật không đúng sự thật khách quan của vụ án.

- Vật chứng, biên bản về hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, biên bản hoạt động tố tụng khác hoặc những chứng cứ, tài liệu, đồ vật khác trong vụ án bị giả mạo hoặc không đúng sự thật.

- Những tình tiết khác làm cho bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật không đúng sự thật khách quan của vụ án.

2- Kháng nghị tái thẩm

Cũng như kháng nghị giám đốc thẩm, để có thể kháng nghị tái thẩm đối với bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật việc đầu tiên là phải phát hiện ra những tình tiết mới là căn cứ tái thẩm. Bất cứ cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân nào cũng có quyền phát hiện những tình tiết mới của vụ án. Người phát hiện có thể gửi đơn hoặc thông báo kèm theo tài liệu liên quan cho bất kỳ Viện kiểm sát hoặc Tòa án nào về những tình tiết mới. Nếu Tòa án nhận được đơn hoặc thông báo hoặc tự mình phát hiện ra tình tiết mới, thì chuyển cho Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền kháng nghị kèm theo tài liệu liên quan để xem xét việc kháng nghị theo thủ tục tái thẩm.

Trước khi quyết định kháng nghị theo thủ tục tái thẩm, Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền kháng nghị tái thẩm ra quyết định xác minh những tình tiết đó. Viện kiểm sát phải kiểm tra tính xác thực và phải tiến hành xác minh về tình tiết mới phát hiện. Khi xét thấy cần thiết, Viện trưởng Viện kiểm sát có thẩm quyền kháng nghị tái thẩm yêu cầu CQĐT có thẩm quyền xác minh tình tiết mới của vụ án và chuyển kết quả xác minh cho Viện kiểm sát. Trong quá trình xác minh tình tiết mới được phát hiện Viện kiểm sát, CQĐT có quyền áp dụng các biện pháp điều tra tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

3- Thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm của Viện kiểm sát

Thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm của Viện kiểm sát các cấp được quy định như sau:

- Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao có quyền kháng nghị tái thẩm đối với những bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân hoặc Tòa án quân sự các cấp. Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao không có quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao vì Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao là cơ quan xét xử cao nhất, do đó quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao là quyết định cuối cùng và không thể bị kháng nghị.

- Viện trưởng Viện kiểm sát quân sự trung ương có quyền kháng nghị tái thẩm đối với những bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án quân sự cấp dưới.

- Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao có quyền kháng nghị tái thẩm đối với những bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án nhân dân cấp huyện thuộc phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ.

3- Thời hạn kháng nghị tái thẩm

Tái thẩm theo hướng không có lợi cho người bị kết án (ví dụ: kháng nghị để xử thêm tội; áp dụng điều khoản Bộ luật hình sự về tội nặng hơn; tăng hình phạt; tăng mức bồi thường; kết tội và xử phạt người được tuyên vô tội, được miễn trách nhiệm hình sự hoặc hình phạt) chỉ được thực hiện trong thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 27 Bộ luật hình sự năm 2015 và thời hạn kháng nghị không được quá 01 năm kể từ ngày Viện kiểm sát nhận được tin báo về tình tiết mới được phát hiện.

Tái thẩm theo hướng có lợi cho người bị kết án (ví dụ: kháng nghị để đề nghị hủy án, để minh oan cho người bị kết án; áp dụng điều khoản Bộ luật hình sự về tội nhẹ hơn; đình chỉ vụ án; giảm nhẹ hình phạt...) thì không hạn chế về thời gian và được thực hiện cả trong trường hợp người bị kết án đã chết mà cần minh oan cho họ.

Việc kháng nghị về dân sự trong vụ án hình sự đối với đương sự được thực hiện theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Theo quy định tại Điều 355 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, thời hạn kháng nghị tái thẩm là 01 năm, kể từ ngày người có thẩm quyền kháng nghị biết được căn cứ để kháng nghị theo thủ tục tái thẩm quy định tại Điều 352 Bộ luật Tố tụng dân sự.

4- Thẩm quyền của Hội đồng tái thẩm

Theo quy định tại Điều 402 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng tái thẩm có quyền:

- Không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị.

- Hủy bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật để điều tra lại hoặc xét xử lại.

- Hủy bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ vụ án.

- Đình chỉ việc xét xử tái thẩm.

Như vậy, so với Hội đồng giám đốc thẩm, Hội đồng tái thẩm không có quyền sửa bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật.

Các thủ tục khác về tái thẩm như chuẩn bị phiên tòa tái thẩm, thủ tục phiên tòa tái thẩm... thực hiện theo các quy định về thủ tục giám đốc thẩm.

Xem thêm: Dịch vụ pháp lý trong lĩnh vực hình sự của Công ty Luật TNHH Everest

Luật sư Phạm Ngọc Minh - Giám đốc điều hành của Công ty Luật TNHH Everest, tổng hợp (nguồn tham khảo: Giáo trình Kỹ năng của Luật sư khi tham gia giải quyết vụ án hình sự - Học viện Tư pháp và một số nguồn khác).

Liên hệ tư vấn
Liên hệ tư vấn

Chuyên viên tư vấn sẵn sàng hỗ trợ!

Tư vấn sử dụng dịch vụ miễn phí

Hoặc
Đăng ký tư vấn
Công ty luật TNHH Everest - Công ty Luật uy tín tại Việt Nam

Everest
Thương hiệu tư vấn pháp lý hàng đầu
Thương hiệu tư vấn pháp lý hàng đầu

Top 20 thương hiệu vàng Việt Nam

Tự hào là đối tác thương hiệu lớn
Video
Everest - Hành trình vượt khó cùng đối tác
Hợp đồng góp vốn thành lập doanh nghiệp
Gặp các chuyên gia Đội ngũ Luật sư giàu kinh nghiệm
Để làm được những điều đó, mỗi một luật sư thành viên thuộc Hãng luật của chúng tôi đều phải rèn luyện không ngừng để có kiến thức Uyên thâm về chuyên môn, luôn đặt Tình yêu và Trách nhiệm vào công việc
4.4 5 (1 đánh giá)
0 bình luận, đánh giá về Những vấn đề chung trong thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm hình sự

Xin chào quý khách. Quý khách hãy để lại bình luận, chúng tôi sẽ phản hồi sớm

Trả lời.
Thông tin người gửi
Bình luận sản phẩm
Nhấn vào đây để đánh giá
Thông tin người gửi
Tổng đài tư vấn: 024-66 527 527
Giờ làm việc: Thứ 2 - Thứ 7: 8h30 - 18h00
1.53743 sec| 1184.164 kb