Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp Luật sư của Mỹ

"Luật sư luôn có cơ hội làm việc tử tế. Vậy nếu chọn làm Luật sư, bạn hãy là một Luật sư tử tế".

- Luật sư Phạm Ngọc Minh - Giám đốc điều hành Công ty Luật TNHH Everest

Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp Luật sư của Mỹ

Luật sư tại Mỹ thi lấy chứng chỉ hành nghề và đăng ký hoạt động tại một Bang nhất định, mỗi bang lại có Quy tắc ứng xử nghề nghiệp riêng cùng với truyền thống Thông luật và các quy tắc khác nhau của Tòa án đã dẫn tới kết quả pháp lý khác nhau ở các Bang cho cùng một vụ việc tương tự. 
Từ sự khác biệt như vậy trên khắp Mỹ, Hiệp hội Luật sư Mỹ, một hiệp hội Luật sư tự nguyện, đã biên soạn Quy tắc mẫu về ứng xử nghể nghiệp (“Model Rules” - “Quy tắc mẫu” hay “Quy tắc ABA”) để trình Tòa án thông qua, với kết quả là các Tòa án ở 50 Tiểu bang, quận Columbia và 04 vùng lãnh thổ của Mỹ đã áp dụng Quy tắc ABA với một só thay đổi thành quy tắc riêng của họ. 
Phần lớn Quy tắc ứng xử nghề nghiệp của các Bang có nội dung tương tự như Quy tắc ABA, nhưng một số Bang có quy định bổ sung cho các phần đặc trưng trong Nghề Luật của họ, ví dụ ý như các quy tắc của Tòa án tối cao Washington về sự phối hợp giữa Luật sư và Kỹ thuật viên pháp lý được cấp phép hạn chế.

 

Liên hệ

Trong các quốc gia trên thê giới hiện nay, Mỹ thường được xem là quốc gia có nên pháp lý ưu việt và độc đáo bởi đặc thù chế độ Liên bang và những thành tựu mà Nhà nước này đạt được. Có thể nói rằng tại Mỹ, Nghề Luật sư được đặt dưới sự quản lý, điều chỉnh của nhiều luật khác nhau do đặc thù chế độ Nhà nước Liên bang, trong khi luật pháp của mỗi Bang là khác nhau nhưng không được trái với các quy định của Luật Liên bang.

Luật sư tại Mỹ thi lấy chứng chỉ hành nghề và đăng ký hoạt động tại một Bang nhất định, mỗi bang lại có Quy tắc ứng xử nghề nghiệp riêng cùng với truyền thống thông luật và các quy tắc khác nhau của lòa án đã dẫn tới kết quả pháp lý khác nhau ở các bang cho cùng một vụ việc tương tự.

Từ sự khác biệt như vậy trên khắp Mỹ, Hiệp hội Luật sư Mỹ, một hiệp hội Luật sư tự nguyện, đã biên soạn quy tắc mẫu về ứng xử nghể nghiệp (“Model Rules” - “Quy tắc mẫu” hay “Quy tắc ABA”) để trình Tòa án thông qua, với kết quả là các Tòa án ở 50 Tiểu bang, quận Columbia và 04 vùng lãnh thổ của Mỹ đã áp dụng Quy tắc ABA với một só thay đổi thành quy tắc riêng của họ.

Phần lớn Quy tắc ứng xử nghề nghiệp của các Bang có nội dung tương tự như Quy tắc ABA, nhưng một số Bang có quy định bổ sung cho các phần đặc trưng trong Nghề Luật của họ, ví dụ ý như các quy tắc của Tòa án tối cao Washington về sự phối hợp giữa Luật sư và Kỹ thuật viên pháp lý được cấp phép hạn chế.

Quy tắc ABA trong Phần mở đầu đã nhấn mạnh về vai trò của Luật sư rằng, một Luật sư, với tư cách là một thành viên của Nghề Luật, là đại diện cho khách hàng, một nhân tố của hệ thống pháp luật và một công dân có trách nhiệm đặc biệt đối với đặc tính của công lý. Phạm vi điều chỉnh của Quy tắc ABA bao gồm những vấn đề liên quan tới: (i) Mối quan hệ giữa khách hàng - Luật sư, (ii) Luật sư tranh tụng, (iii) Người biện hộ, (iv) Giao dịch với người khác ngoài khách hàng, (v) Công ty luật và Hiệp hội luật, (vi) Dịch vụ công cộng, (vii) Thông tin vê' dịch vụ pháp lý và (viii) Duy trì tính toàn vẹn của nghê' nghiệp.

Bộ quy tắc mẫu này đưa ra các nguyên tắc mà Luật sư nên tuân thủ khi tham gia tranh tụng và tư vấn cho khách hàng, khi biện hộ cho khách hàng tại Tòa án và các diễn đàn khác, và khi làm việc với các đỗi tác và các bên khác. Quy tắc ABA vốn không co ttnh rang buộc đối với cá nhân Luật sư cụ thể, một Luật sư chỉ chịu sự điểu chỉnh cua Quy tăc ứng xử nghề nghiệp cùa Bang và/hoặc Đoàn Luật sư Liên bang ma họ la thanh viên. Tuy nhiên, Tòa án và Luật sư tham khảo Quy tắc ABA như là các nguyên tắc hành vi đạo đức phổ quát cho Luật sư mà không quan trọng phạm vi thẩm quyền.

Như được trình bày ở trên, Quy tắc ABA đóng vai trò là một quy tắc mẫu mà Tòa án Bang và Liên bang có thể áp dụng, bao gồm 56 quy tắc đieu chinh 7 nhom van đe như đã lưu ý ở trên. Các quy tắc chỉ đơn giản là cung cấp một khuôn khồ cho việc thực hành đạo đức, ứng xử nghề nghiệp của Luật sư. Các chủ đề chính của Quy tắc ABA bao gồm: (i) Xung đột lợi ích, (ii) Bảo mật và (iii) Phong cách tranh tụng.

1- Xung đột lợi ích:

Là bên cung cấp dịch vụ, Luật sư thường sẽ có nhiều hơn một khách hàng, những người sẽ không có cùng lợi ích với các khách hàng tiềm năng, hiện tại và trước đây và thậm chí cả Luật sư. Đôi khi, họ có thể có lợi ích xung đột với nhau. Trong trường hợp đó, Quy tắc ABA đưa ra một số quy tắc để Luật sư xem xét và tuân theo, được tập hợp lại thành xung đột lợi ích giữa Luật sư và khách hàng, giữa các khách hàng tại cùng một thời điểm, và giữa khách hàng hiện tại và khách hàng cũ.

Luật sư là cố vấn đáng tin cậy cho khách hàng của họ và phải hành động vì lợi ích tốt nhất của khách hàng, đó là lý do tại sao Quy tắc ABA đưa ra các quy tắc nhất định để ngán chặn lạm dụng lòng tin đó, bao gồm các điểu cấm sau: (i) Tham gia vào các giao dịch kinh doanh cùng hoặc chổng lại khách hàng; (ii) Sử dụng thông tin liên quan đến việc đại diện cho khách hàng để gây bất lợi cho khách hàng; (111) Gợi y nhưng món quà vật chất từ khách hàng; (iv) Đàm phán thỏa thuận vê quyển tác giả hoặc truyền thông đối với việc đại diện cho khach hang; (v) Cung cấp hổ trợ tài chính cho khách hàng với tranh châp đang chờ giải quyết hoặc dự tính; (vi) Chấp nhận bôi thường cho việc đại diện khách hàng từ những người khác không phải khách hàng; (vii) Tham gia giai quyết tổng hợp các khiêu nại của hoặc đổi với các khách hang; (vui) Đưa ra các thỏa thuận để hạn chê trách nhiệm đối với hành VI phi pháp hoặc giải quyết các khiếu nại liên quan đến hành vi phi phap; (ix) Đạt được lợi ích về tài sản từ nguyên nhân tố tụng hoặc chủ thê cua tranh chẫp mà Luật sư đang tiến hành cho khách hàng, và (x) Có quan hệ tình dục với khách hàng.

Các lệnh cấm này có ngoại lệ trong một số trường hợp nhât định và chỉ áp dụng khi có những điểu kiện nhất định xảy ra (ví dụ: theo yêu cẫu của pháp luật, được cho phép bởi Quy tắc ABA hoặc với sự đông ý có hiểu biết của khách hàng). Khách hàng “đồng ý có hiểu biêt là sự đông ý của một người đói với một hành vi được để xuất sau khi Luật sư đã truyên đạt đẩy đủ thông tin và giải thích vê các rủi ro vật chât va cac phương an hợp lý cho hành vi được đê' xuất. Sự đồng ý có hiểu biết này có thể là lời nói, sau đó phải được xác nhận bằng văn bản. Sự đổng ý có hiểu biết là một ngoại lệ đỗi với các lệnh cấm được liệt kê trong các mục về giao dịch kinh doanh, sử dụng thông tin để gây bất lợi, bồi thường từ người khác ngoài khách hàng và giải quyết tổng hợp cho các khách hàng.

Một ngoại lệ khác là tư vấn pháp lý độc lập, là việc khách hàng được đại diện hoặc được khuyên nên tìm tư vấn pháp lý độc lập. Đó là một ngoại lệ đối với các lệnh cẩm được liệt kê trong mục các thỏa thuận để hạn chế hoặc giài quyết trách nhiệm đối với hành vi phi pháp.

Lòng trung thanh va phán đoán độc lập là những yếu tố thiết yếu trong mổi quan hệ của Luật sư với khách hàng. Do đó, Luật sư sẽ không đại diện cho khách hàng nếu việc đại diện liên quan đến xung đột lợi ích, đông thời, nếu việc đại diện cho một khách hàng sẽ là bất lợi trực tiếp cho một khách hang khac; hoạc co rui ro nhât định rằng, việc đại diện cho một hoặc nhiều khách hàng sẽ bị giới hạn nhất định bởi trách nhiệm của Luật sư đối với khách hàng khác, khách hàng cũ hoặc người thứ ba hoặc bởi lợi ích cá nhân của Luật sư.

Luật sư có thể không đóng vai trò là người biện hộ trong một vụ việc chống lại người mà Luật sư đại diện trong một số vụ việc khác, ngay cả khi các vụ việc hoàn toàn không liên quan. Ngay cả khi không có bất lợi trực tiếp, vẫn tón tại xung đột lợi ích nếu có rủi ro nhất định rằng khả năng Luật sư xem xét, đề xuất hoặc thực hiện một hành động thích hợp cho khách hàng sẽ bị hạn chế nhất định do các trách nhiệm hoặc lợi ích khác của Luật sư.

Ngoài ra, do Quy tắc ABA áp đặt các nghĩa vụ tương tự đỗi với tất cả các Luật sư liên quan đến một công ty luật, không ai trong số họ sẽ đại diện một cách chủ tâm cho khách hàng khi bất kỳ một người trong số họ bị cấm thực hiện điều đó.

Ngoại lệ duy nhất cho lệnh cấm này là nếu các điều kiện sau được thỏa mãn: Luật sư tin tưởng một cách hợp lý rằng Luật sư sẽ có khả năng đại diện tốt và tận tâm cho mỗi khách hàng bị ảnh hưởng; việc đại diện không bị pháp luật cấm; việc đại diện không bao gôm việc xác nhận khiếu nại của một khách hàng chống lại một khách hàng khác do Luật sư đại diện trong cùng một tranh chấp hoặc thủ tục to tụng khác trước một phiên tòa; mỗi khách hàng bị ảnh hưởng đeu đong y co hiêu biẽt, xác nhận bằng văn bản. Tuy nhiên, một so xung đọt khong thê được đổng ý, có nghĩa là Luật sư có liên quan không thể yêu cẩu sự đông ý có hiểu biết hoặc đại diện trên cơ sở có sự đồng ý của khách hàng (ví dự: đại diện cho các khách hàng trong vụ án nghiêm trọng có thể áp dụng án tử hình).

Sau khi chấm dứt mối quan hệ giữa Luật sư và khách hàng, Luật sư có một số nghĩa vụ tiếp tục được thực hiện về bảo mật thông tin và xung đột lợi ích. Một Luật sư trước đây đã đại diện cho một khach hang trong một vụ việc không được đại diện cho người khác trong cùng mọt vụ việc hoặc trong một vụ việc có liên quan nhất định mà lợi ích cua ngươi đo có ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của khách hàng cu. Ngoài ra, một Luật sư trước đây đã đại diện cho một khách hàng trong một vụ việc hoặc công ty hiện tại hoặc công ty cũ của Luật sư trước đây đã đại diện cho mọt khách hàng trong một vụ việc không được sử dụng thông tin liên quan đến việc đại diện gây bất lợi cho khách hàng cũ, ngoại trừ trường hợp Quy tắc ABA cho phép hoặc yêu cầu đối với một khách hàng, hoặc khi thông tin đã được biết đến nói chung; hoặc tiết lộ thông tin liên quan đến việc đại diện, ngoại trừ trường hợp Quy tắc ABA cho phép hoặc yêu cầu đối với một khách hàng.

Như được lưu ý ở trên, các nghĩa vụ tương tự được áp dụng cho tất cả các Luật sư có liên quan đến một công ty luật; không ai trong số họ sẽ cố ý đại diện cho một khách hàng khi bất kỳ một ai trong số họ hành nghê' một mình sẽ bị cấm thực hiện như vậy. Ngoài ra, các nghĩa vụ trên sẽ tiếp tục được thực hiện bởi Luật sư ngay cả sau khi Luật sư rời khỏi công ty luật cũ. Một Luật sư không thể cố ý đại diện cho một khách hàng nếu một công ty luật cũ đã đại diện cho một khách hàng mà lợi ích của khách hàng đó bị ảnh hưởng bất lợi nghiêm trọng và vé người mà Luật sư có được thông tin được bảo vệ.Nếu các điếu cấm trên được áp dụng thì ngoại lệ duy nhất là phải nhận được sự đóng ý có hiểu biết của khách hàng cũ.

2- Bảo mật thông tin:

Một nguyên tắc cơ bản trong mối quan hệ giữa Luật sư và khách hàng là nếu chưa có sự đóng ý có hiểu biết của khách hàng thì Luật sư không được tiết lọ thong tin hen quan đen viẹc đại diện. Điêu này góp phần tạo nên sự tin tưởng là dấu hiệu xác nhận mối quan hệ giữa Luật sư và khách hàng. Do đó, khách hàng được khuyến khích tìm Idem sự trợ giúp pháp lý và trao đổi đầy đủ và thẳng thắn với Luật sư ngay cả vê các nội dung gây bối rối hoặc gây thiệt hại về mặt pháp lý.

Do đó, Quy tắc ABA quy định rằng, Luật sư không được tiết lộ thông tin liên quan đến việc đại diện cho khách hàng trừ khi khách hàng đưa ra sự đồng ý có hiểu biết, việc tiết lộ thông tin được cho phép để thực hiện việc đại diện hoặc việc tiết lộ thông tin được cho phép. Ví dụ, quy tắc bảo mật được áp dụng không chỉ đối với những vấn để được khách hàng trao đổi mà còn đối với tất cả những thông tin liên quan đến việc đại diện, bất kể nguồn gốc của thông tin. Luật sư không được tiết lộ thông tin đó trừ khi được cho phép hoặc được yêu cẩu bởi quy tắc ứng xử nghề nghiệp hoặc luật khác.

Luật sư được phép tiết lộ thông tin liên quan đến việc đại diện cho một khách hàng trong phạm vi mà Luật sư đó tin tưởng một cách hợp lý là can thiết để: Ngăn chặn hợp lý cái chết hoặc tổn hại cơ thể một cách đáng kể; ngán chặn khách hàng phạm tội hoặc gian lận mà hành vi phạm tội hoặc gian lận đó được tin tưởng hợp lý là sẽ dẫn đến tổn hại đáng kể đối với lợi ích tài chính hoặc tài sản của người khác và để thực hiện việc đó, khách hàng đã sừ dụng hoặc đang sử dụng các dịch vụ của Luật sư; ngăn chặn, giảm thiểu hoặc khắc phục tồn hại đáng kể đối với lợi ích tài chính hoặc tài sản của người khác mà tổn hại đó được tin tưởng hợp lý là sẽ có kết quả hoặc đã có kết quả từ việc khách hàng phạm tội hoặc gian lận, và để thực hiện việc đó khách hàng đã sử dụng các dịch vụ của Luật sư; bảo đảm tư vấn pháp lý vể việc tuân thủ của Luật sư đói với các quy tắc này; để xác lập một khiếu nại hoặc bảo vệ thay mặt Luật sư trong một cuộc tranh chấp giữa Luật sư và khách hàng, để xác lập một bảo vệ trước một cáo buộc hình sự hoặc yêu cẩu bói thường dân sự đối với Luật sư dựa trên hành vi mà khách hàng có liên quan, hoặc để trả lời các cáo buộc trong bẩt kỳ vụ kiện nào liên quan đến việc Luật sư đại diện cho khách hàng; để tuân thủ luật khác hoặc quyết định của Tòa án; hoặc để phát hiện và giải quyết xung đột lợi ích phát sinh từ việc Luật sư thay đổi việc làm hoặc từ việc thay đồi thành phẩn hoặc quyền sở hữu của một công ty, nhưng chỉ khi thông tin được tiết lộ sẽ không làm tổn hại đến đặc quyển của Luật sư, khách hàng hoặc tồn hại đến khách hàng.

Tại California, trước khi tiết lộ bất kỳ thông tin mật nào để ngăn chặn hành vi phạm tội mà Luật sư tin rằng việc tiết lộ thông tin đó là cẩn thiết để ngăn chặn việc đe dọa đến tính mạng hoặc gây tổn hại đáng kể đến cơ thể mà Luật sư tin rằng có thể xảy ra, Luật sư phải thực hiện nỗ lực một cách thiện chí để thuyết phục khách hàng: (i) Không thực hiện hành vi phạm tội, (ii) Theo đuổi quy tắc sẽ ngăn chặn việc đe dọa đến cái chết hoặc gây tổn hại đáng kể đến cơ thể, hoặc làm cả hai. Đổng thời, Luật sư phải thông báo cho khách hàng, vào một thời điểm thích hợp, về khả năng hoặc quyết định của Luật sư trong việc tiết lộ thông tin mật.

Một Luật sư không tiết lộ thông tin được phép ở trên (nghĩa là không làm gì) không vi phạm quy tắc bảo mật. Tại New York, các Tòa án không cung cấp hướng dẫn cụ thể, nhưng Hiệp hội Luật sư Bang New York đã đưa ra ý kiến về việc diễn giải quy tắc bảo mật. Hội đồng Trọng tài hoặc cơ quan chính quyền theo Luật khác có thể cho Luật sư tiết lộ thông tin mật.

Khi không có sự đồng ý của khách hàng để thực thi lệnh ặt khách hàng khẳng định rằng lệnh đó không được p p luí. ° phcp’thÔng tin được yẻu cẩu tiết lộ được bảo vệ khdi.vỉệc_tí‘ộ.b? một đặc quyền hiện hành h0cMt khác, hoặc lệnh đó không hợp lệ hoặc có thiếu sót vì một số lý do khác. Trong trường hợp có phán quyết bất lợi Luật sư phải tham khảo ý kiến khách hàng trong phạm vi yêu cầu của Quy tắc 1.4 (Thông tin liên lạc) vế khả năng kháng cáo hoặc phản đối khác, trừ khi việc tham khảo đó bị cấm bởi luật khác Nếu việc tham khảo lại như vậy không được yêu cầu hoặc không thanh công, ngoại lệ đối với Quy tắc 1.6 cho phép Luật sư tuân thủ lệnh.

Điều này khác với nhiều quốc gia khác như Vương quốc Anh, Singapore và Việt Nam, những quốc gia có báo cáo bắt buộc bởi Luật sư đối với một só tôi nhất định. Ở Mỹ, báo cáo bắt buộc thường áp dụng cho các trường hợp lạm dụng như lạm dụng trẻ em hoặc lạm dụng người già, trong đó các vai trò nhất định (ví dụ: nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe, giáo viên và giáo sĩ) được yêu cấu báo cáo cho cơ quan thực thi pháp luật. Luật sư không thuộc nhóm bắt buộc phải báo cáo.

Ngoài ra, Luật sư thực sự có nghĩa vụ bảo mật tương tự đối với các khách hàng tiềm năng. Ngay cả khi không có mối quan hệ giữa Luật sư và khách hàng nào thì Luật sư đã tìm hiểu thông tin từ khách hàng tiềm năng sẽ không được sử dụng hoặc tiết lộ thông tin đó, ngoại trừ trường hợp được cho phép bởi Quy tắc ABA đối với thông tin của khách hàng cũ.

Một trong những vụ án nổi tiếng nhất vể mối quan hệ giữa Luật sư và khách hàng là vụ án Alton Logan, trong vụ án này, một người đàn ông tên là Alton Logan đã bị kết án sai và bị bỏ tù 26 năm mặc dù các Luật sư của Andrew Wilson đã biết rằng Logan vô tội và thân chủ của họ là tội phạm thực tế. Nghĩa vụ bảo mật nói chung vẫn tiếp tục ngay cả sau khi khách các quy tắc cùa Tòa án ngoại trừ một từ chối mở dựa trên khẳng định rằng không có nghĩa vụ hợp lệ nào tón tại; (iv) Trong thủ tục trước khi xử án, đưa ra yêu cầu khai thác bằng chứng một cách phù phiếm hoặc không thực hiện nỗ lực mẫn cán hợp lý để tuân thủ yêu cầu khai thác bằng chứng hợp pháp của một bên đối lập; (v) Trong phiên tòa, ám chỉ bất kỳ vấn đề nào mà Luật sư không cho là có liên quan hoặc sẽ không được hỗ trợ bởi bằng chứng có thể chấp nhận được, khẳng định kiến thức cá nhân về các sự kiện ngoại trừ khi làm chứng như một nhân chứng, hoặc nêu ý kiến cá nhân về sự công bằng của một nguyên nhân, sự đáng tin cặy của một nhân chứng, sự phạm tội của một nguyên đơn dân sự hoặc tội lỗi hoặc sự vô tội của một bị cáo; hoặc yêu cầu một người không phải là khách hàng không tự nguyện cung cấp thông tin có liến quan cho một bên khác trừ khi người đó là người thân hoặc nhân viên hoặc người đại diện khác của khách hàng và Luật sư cho rằng lợi ích của người đó sẽ không bị ảnh hưởng bất lợi bởi việc không cung cấp thông tin.

Luật sư phải trung thực khi giao dịch với những người khác thay mặt khách hàng, nhưng nói chung không có nghĩa vụ thông báo cho bên đối lập vê' các sự việc có liến quan. Trong quá trình đại diện cho khách hàng, Luật sư không được: cố ý đưa ra tuyên bố sai vể sự việc quan trọng hoặc pháp luật cho người thứ ba hoặc, không tiết lộ sự việc quan trọng cho người thứ ba khi việc tiết lộ là cần thiết để tránh hỗ trợ hành vi phạm tội hoặc gian lận của khách hàng, trừ khi việc tiết lộ bị cấm theo Quy tắc 1.6 (bảo mật thông tin).

Thông thường, Luật sư có thể tránh hỗ trợ khách hàng thực hiện hành vi phạm tội hoặc gian lận bằng cách rút khỏi việc đại diện. Đôi khi, Luật sư cần đưa ra thông báo vê' việc rút khỏi đại diện và phủ nhận một ý kiến, tài liệu, sự xác nhận hoặc tương tự. Trong những trường hợp đặc biệt, pháp luật có thể yêu cầu Luật sư tiết lộ thông tin liên quan đến việc đại diện đé tránh bị coi là đã hỏ trợ khách hàng thực hiện hành vi phạm tội hoặc gian lận.

Giao tiếp với người khác được đại diện bởi Luật sư. Khi đại diện cho khách hàng, Luật sư khong được trao đôi về nội dung của việc đại diện với người mà Luật sư biết là được đại diện bởi một Luật sư khác trong vụ việc, trừ khi Luật sư có được sự đông ý cua Luật sư khac đó hoặc được ủy quyền thực hiện như vậy theo quy định của pháp luật hoặc theo quyết định của Tòa án. Điều cẩm này bảo vệ khach hang đa lựa chọn được đại diện bởi một Luật sư khỏi sự xâm phạm và can thiẹp co the cua cac Luật sư khac và việc tiết lộ thông tin không được công bố cho các Luật sư khác. Nó được áp dụng ngay cả khi người được đại diện khởi xướng hoặc đổng ý giao tiếp.

3- Kỷ luật Luật sư:

Luật sư vi phạm các quy tắc ứng xử nghề nghiệp, cổ tình hổ trợ hoặc xúi giục người khác thực hiện, hoặc thông qua hành vi của người khác để xúi giục được coi là hành vi sai trái. Luật sư được cấp phép hành nghề tại một khu vực tài phán thuộc thẩm quyển kỷ luật của khu vực tài phán đó, bất kể hành vi của Luật sư xảy ra ở đâu và cũng thuộc thẩm quyển kỷ luật của bất kỳ khu vực 1 tài phán nào nơi mà Luật sư cung cấp hoặc đề nghị cung cẫp bất kỳ dịch vụ pháp lý nào. Ở California, đối với việc cố ý vi phạm bất kỳ quy tắc ứng xử nghề nghiệp nào, Ban quản trị của Đoàn Luật sư của Bang có quyền kỷ luật Luật sư bằng cách khiển trách công khai hoặc riêng tư, hoặc để nghị Tòa án Tối cao đình chỉ hành nghề trong một khoảng thời gian không quá ba năm.

Luật sư Phạm Ngọc Minh - Giám đốc điều hành của Công ty Luật TNHH Everest, tổng hợp (từ Giáo trình Luật sư và Đạo đức nghề Luật sư của Học viện Tư pháp và một số nguồn khác).

Liên hệ tư vấn
Liên hệ tư vấn

Chuyên viên tư vấn sẵn sàng hỗ trợ!

Tư vấn sử dụng dịch vụ miễn phí

Hoặc
Đăng ký tư vấn
Công ty luật TNHH Everest - Công ty Luật uy tín tại Việt Nam

Everest
Thương hiệu tư vấn pháp lý hàng đầu
Thương hiệu tư vấn pháp lý hàng đầu

Top 20 thương hiệu vàng Việt Nam

Tự hào là đối tác thương hiệu lớn
Video
Everest - Hành trình vượt khó cùng đối tác
Quy định pháp luật về kế toán doanh nghiệp
Gặp các chuyên gia Đội ngũ Luật sư giàu kinh nghiệm
Để làm được những điều đó, mỗi một luật sư thành viên thuộc Hãng luật của chúng tôi đều phải rèn luyện không ngừng để có kiến thức Uyên thâm về chuyên môn, luôn đặt Tình yêu và Trách nhiệm vào công việc
5 5 (1 đánh giá)
0 bình luận, đánh giá về Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp Luật sư của Mỹ

Xin chào quý khách. Quý khách hãy để lại bình luận, chúng tôi sẽ phản hồi sớm

Trả lời.
Thông tin người gửi
Bình luận sản phẩm
Nhấn vào đây để đánh giá
Thông tin người gửi
Tổng đài tư vấn: 024-66 527 527
Giờ làm việc: Thứ 2 - Thứ 7: 8h30 - 18h00
0.13057 sec| 1135.82 kb