Xét xử giám đốc thẩm vụ án dân sự

22/03/2023
Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao giám đốc thẩm những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của toà án nhân dân cấp cao bị kháng nghị. Trong trường hợp có nhiều bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật về cùng một vụ án dân sự bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm thuộc thẩm quyền giám đốc thẩm của toà án nhân dân cấp cao và Tòa án nhân dân tối cao thì Tòa án nhân dân tối cao có thẩm quyền giám đốc thẩm toàn bộ.

1- Thẩm quyền giám đốc thẩm

Thẩm quyền giám đốc thẩm được xác định bởi tính chất giám đốc thẩm và căn cứ vào cơ cấu hệ thống tổ chức của toà án. Theo quy định tại Điều 337 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân tối cao, toà án nhân dân cấp cao mới có thẩm quyền giám đốc thẩm các bản án, quyết định giải quyết vụ án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị. Cụ thể:

- Uỷ ban thẩm phán toà án nhân dân cấp cao giám đốc thẩm những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của toà án nhân dân cấp cấp tỉnh, toà án nhân dân cấp huyện trong phạm vi thẩm quyền theo lãnh thổ bị kháng nghị.
- Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao giám đốc thẩm những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của toà án nhân dân cấp cao bị kháng nghị. Trong trường hợp có nhiều bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật về cùng một vụ án dân sự bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm thuộc thẩm quyền giám đốc thẩm của toà án nhân dân cấp cao và Tòa án nhân dân tối cao thì Tòa án nhân dân tối cao có thẩm quyền giám đốc thẩm toàn bộ.

2- Hội đồng xét xử giám đốc thẩm

Giám đốc thẩm là thủ tục xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị nên giống như ở thủ tục phúc thẩm, các thành viên của hội đồng xét xử giám đốc thẩm phải là những thẩm phán xét xử chuyên nghiệp. Trong hội đồng xét xử giám đốc thẩm, không có sự tham gia của hội thẩm nhân dân. Thành phần hội đồng xét xử giám đốc thẩm được quy định tại Điều 66 và Điều 337 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015 như sau:

- Uỷ ban thẩm phán toà án nhân dân cấp cao xét xử giám đốc thẩm bằng hội đồng xét xử gồm ba thẩm phán đổi với bản án, quyết định của toà án nhân dân cấp tỉnh, toà án nhân dân cấp huyện có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm. Đổi với bản án, quyết định của toà án nhân dân cấp tỉnh, toà án nhân dân cấp huyện đã có hiệu lực pháp luật có tính chất phức tạp hoặc bản án, quyết định đã được uỷ ban thẩm phán toà án nhân dân cấp cao xét xử giám đốc thẩm bằng hội đồng xét xử gồm ba thẩm phán nhưng không đạt được sự thống nhất khi biểu quyết thông qua quyết định về việc giải quyết vụ án thì uỷ ban thẩm phán toà án nhân dân cấp cao xét xử giám đốc thẩm gồm toàn thể uỷ ban thẩm phán toà án nhân dân cẩp cao.

- Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm bằng hội đồng xét xử gồm năm thẩm phán đổi với bản án, quyết định của toà án nhân dân cấp cao bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm. Đổi với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của toà án nhân dân cấp cao có tính chất phức tạp hoặc bản án, quyết định đã được Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm bằng hội đồng xét xử gồm năm thẩm phán nhưng không đạt được sự thống nhất khi biểu quyết thông qua quyết định về việc giải quyết vụ án thì Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm gồm toàn thể Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Những vụ án có tính chất phức tạp nêu trên là những vụ án thuộc một trong các trường hợp sau đây: 
- Quy định của pháp luật về những vấn đề cần giải quyết trong vụ án chưa rõ ràng, chưa được hướng dẫn áp dụng thống nhất;
- Việc đánh giá chứng cứ, áp dụng pháp luật có nhiều ý kiến khác nhau;
- Việc giải quyết vụ án liên quan đến lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước, bảo vệ quyền con người, quyền công dân được dư luận xã hội đặc biệt quan tâm.

Việc uỷ ban thẩm phán toà án nhân dân cấp cao tổ chức xét xử giám đốc thẩm bằng hội đồng xét xử gồm ba thẩm phán hay toàn thể uỷ ban thẩm phán toà án nhân dân cấp cao do chánh án toà án nhân dân cấp cao xem xét, quyết định. Việc Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm bằng hội đồng xét xử gồm năm thẩm phán hay toàn thể Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao do Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét, quyết định.

3- Chuẩn bị mở phiên toà giám đốc thẩm

Để sớm sửa chữa được những sai lầm trong các bản án, quyết định bị kháng nghị, toà án mở phiên toà giám đổc thẩm càng sớm càng tổt. Điều 339 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định phiên toà giám đốc thẩm phải được tiến hành trong thời hạn 04 tháng kể từ ngày nhận kháng nghị kèm theo hồ sơ vụ án. Trong thời hạn này, toà án tiến hành tất cả các công việc cần thiết cho việc mở phiên toà giám đốc thẩm.

Sau khi nhận được kháng nghị, toà án có thẩm quyền giám đốc thẩm yêu cầu toà án đã ra bản án, quyết định bị kháng nghị chuyển hồ sơ vụ án cho toà án mình nghiên cửu chuẩn bị xét xử. Chánh án toà án phân công một thẩm phán là thành viên của hội đồng xét xử chịu trách nhiệm chính trong việc chuẩn bị xét xử. Thành viên này có nhiệm vụ nghiên cứu lại trước hồ sơ vụ án, bản án, quyết định bị kháng nghị, bản kháng nghị, kết luận viết của viện kiểm sát (nếu có) và làm bản thuyết trình về vụ án. Các thành viên khác của hội đồng xét xử cũng tham gia nghiên cứu hồ sơ vụ án, nắm vững nội dung vụ án để tham gia xét xử. Nội dung bản thuyết trình phải tóm tắt được nội dung vụ án và các bản án, quyết định của các cấp toà án, nội dung của kháng nghị. Bản thuyết trình phải được gửi trước cho các thành viên hội đồng giám đốc thẩm chậm nhất là 07 ngày trước ngày mở phiên toà giám đốc thẩm.

4- Những người tham gia phiên toà giám đốc thẩm

Giám đốc thẩm là thủ tục tố tụng xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật. Do vậy, để bảo đảm thủ tục này tiến hành đúng pháp luật, viện kiểm sát nhân dân cùng cấp phải tham gia tất cả các phiên toà giám đốc thẩm để thực hiện nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật.

Ngoài ra, việc xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm được tiến hành chủ yếu dựa vào hồ sơ vụ án nên những người tham gia tố tụng cũng không buộc phải tham gia phiên toà. Toà án chỉ triệu tập đương sự hoặc người đại diện hợp pháp, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự hoặc người tham gia tố tụng khác có liên quan đến việc kháng nghị tham gia phiên toà giám đổc thẩm khi xét they cần thiết cho việc xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật (Điều 338 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015). Tuỳ trường hợp cụ thể, toà án xác định những người cần triệu tập đến tham gia phiên toà. Trong trường hợp triệu tập ai đến tham gia phiên toà thì toà án phải gửi giấy triệu tập cho họ và trong giấy triệu tập phải ghi rõ ngày, giờ, địa điểm mở phiên toà. Trường hợp có người được toà án triệu tập vắng mặt tại phiên toà thì hội đồng xét xử giám đốc thẩm vẫn tiến hành phiên toà.

5- Phạm vi giám đốc thẩm

Việc xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm nhăm khắc phục, sửa chữa những sai lầm ứong các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp ỉuật. về nguyên tắc, để khắc phục, sửa chữa những sai lầm trong các bản án, quyết định đã có hiệu ỉực pháp luật thì hội đồng giám đốc thẩm phải được xét lại toàn bộ nội dung bản án, quyết định bị kháng nghị. Tuy vậy, để tránh làm mất tính ổn định của bản án, quyết định, kéo dài việc giải quyết vụ án, Điều 342 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định hội dồng giám đốc thẩm chỉ xem xét lại phần quyết định của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị hoặc có liên quan đến việc xem xét nội dung kháng nghị. Ngoài ra, hội đồng giám đổc thẩm có quyền xem xét phần quyết định của bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật không bị kháng nghị hoặc không có liên quan đến việc xem xét nội dung kháng nghị nếu phần quyết định đó xâm phạm đến lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước, lợi ích của người thứ ba không phải là đương sự trong vụ án.

6- Thủ tục tiến hành phiên toà giám đốc thẩm

Phiên toà giám đốc thẩm có nhiều điểm khác biệt với phiên toà sơ thấm, phúc thẩm vì nó được tiến hành trên cơ sở xem xét các tài liệu có trong hồ sơ vụ án là chủ yếu. Thủ tục tiến hành phiên toà giám đốc thẩm được quy định cụ thể tại Điều 341 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015. Theo quy định, này, phiên toà giám đốc thẩm được tiến hành như sau:

- Phiên toà giám đốc thẩm không mở công khai.
Sau khi chủ toạ khai mạc phiên toà, một thành viên của hội đồng xét xử giám đốc thẩm trình bày tóm tắt nội dung vụ án, quá trình xét xử vụ án, quyết định của bản án, quyết định của toà án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị, các căn cứ, nhận định của kháng nghị và đề nghị của người kháng nghị. Trường hợp viện Idem sát kháng nghị thì đại diện viện kiểm sát trinh bày nội dung kháng nghị. Trong trường hợp đương sự, người đại diện hợp pháp, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự hoặc người tham gia tố tụng khác được toà án triệu tập tham gia phiên toà giám đốc thẩm thì họ được trình bày ý kiến của mình về những vấn đề mà hội đồng giám đốc thẩm yêu cầu. Trường hợp họ vắng mặt nhưng có văn bản trình bày ý kiến thì hội đồng xét xử giám đốc thẩm công bố ý kiến của họ. Nếu thấy có vấn đề nào chưa rõ thì hội đồng xét xử giám đốc thẩm có thể hỏi thêm.


 
- Khi những người được triệu tập tham gia phiên toà trình bày xong ý kiến của mình, các thành viên của hội đồng xét xử giám đốc thẩm hỏi xong thì đại diện viện kiểm sát phát biểu ý kiến của viện kiểm sát về quyết định kháng nghị và việc giải quyết vụ án. Ngay sau khi kết thúc phiên toà, đại diện viện kiểm sát phải gửi văn bản phát biểu ý kiến cho toằ án để lưu vào hồ sơ vụ án.

- Các thành viên của hội đồng xét xử giám đốc thẩm thảo luận và phát biểu ý kiến của mình về việc giải quyết vụ án.

- Hội đồng xét xử giám đốc thẩm nghị án, biểu quyết về việc giải quyết vụ án và công bố nội dung quyết định về việc giải quyết vụ án tại phiên toà. Việc nghị án phải được thực hiện theo các nguyên tẳc:
+ Chỉ có các thành viên hội đồng xét xử giám đốc thẩm mới có quyền nghị án;
+ Các thành viên hội đồng xét xử giám đốc thẩm phải căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên toà, các quy định của pháp luật, nểu vụ án thuộc trường hợp chưa có điều luật để áp dụng thì còn phải căn cứ vào tập quán, tương tự pháp luật, những nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ hoặc lẽ công bằng để giải quyết tất cả các vấn đề của vụ án bằng cách biểu quyết theo đa số về từng vấn đề;
+ Khi biểu quyết, các thành viên khác của hội đồng xét xử giám đốc thẩm biểu quyết trước, chủ tọa phiên toà biểu quyết sau cùng; người có ý kiến thiểu số có quyền trình bày ý kiến của mình bằng văn bản và được đưa vào hồ sơ vụ án.
 
Trường hợp uỷ ban thẩm phán toà án nhân dân cấp cao xét xử giám đốc thẩm bằng hội đồng xét xử gồm ba thẩm phán thì quyết định của hội đồng xét xử phải được tẩt cả thành viên tham gia hội đồng biếu quyết tán thành. Trường hợp uỷ ban thẩm phán toà án nhân dân cấp cao xét xử giám đốc thẩm gồm toàn thể uỷ ban thẩm phán toà án nhân dân cấp cao thì phiên toà xét xử phải có ít nhất hai phần ba tổng số thành viên của uỷ ban thẩm phán toà án nhân dân cấp cao tham gia; quyết định của uỷ ban thẩm phán phải được quá nửa tổng số thành viên biểu quyết tán thành.

Trường hợp Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đổc thẩm bằng hội đồng xét xử gồm năm thẩm phán thì quyết định của hội đồng xét xử phải được tất cả thành viên tham gia hội đồng biểu quyết tán thành. Trường hợp Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét xử giám đốc thẩm gồm toàn thể Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thì phiên toà xét xử phải có ít nhất hai phần ba tổng số thành viên của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao tham gia; quyết định của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao phải được quá nửa tổng số thành viên biểu quyết tán thành.

7- Quyền hạn của hội đồng xét xử giám đốc thẩm

Căn cứ vào tính chất giám đốc thẩm, Điều 343 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định quyền hạn của hội đồng xét xử giám đốc thẩm. Theo đó, khi xét lại bản án, quyết định của toà án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị, hội đồng xét xử giám đốc thẩm có các quyền hạn sau:

Một là không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật.
Hội đồng xét xử giám đốc thẩm không chấp nhận kháng nghị và giữ nguyên bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật trong trường hợp bản án, quyết định đúng, việc kháng nghị không có căn cứ.

Hai là giữ nguyên bản án, quyết định đúng pháp luật của toà án cấp dưới đã bị huỷ hoặc bị sửa.
Theo Điều 344 BLTTDS năm 2015, nếu kháng nghị có căn cứ, bản án, quyết định của toà án cấp dưới đã bị huỷ hoặc sửa không đúng thì hội đồng giám đốc thẩm ra quyết định huỷ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị và giữ nguyên bản án, quyết định của toà án cấp dưới xét xử đúng pháp luật nhưng đã bị bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị huỷ bỏ hoặc sửa đổi một phần hay toàn bộ. Ví dụ: Khi xét xử theo thủ tục giám đốc thẩm, hội đồng giám đốc thẩm của toà án nhân dân cấp cao có thể huỷ bản án, quyết định phúc thẩm của toà án nhân dân cấp tỉnh và giữ nguyên bản án, quyết định của toà án nhân dân cấp huyện đã bị bản án, quyết định phúc thẩm của toà án nhân dân cấp tỉnh sửa hoặc bị huỷ.

Ba là huỷ một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật để xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm lại. Hội đồng xét xử giám đốc thẩm ra quyết định huỷ một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị để xét xử sơ thẩm lại hoặc xét xử phúc thẩm lại nếu việc kháng nghị có căn cứ. Theo quy định tại Điều 345 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015, hội đồng xét xử giám đốc thẩm có quyền ra quyết định huỷ một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật. bị kháng nghị để xét xử sơ thẩm lại hoặc xét xử phúc thẩm lại trong các trường hợp sau:
- Việc thu thập chứng cứ và chứng minh chưa thực hiện đầy đủ hoặc không theo đúng quy định tại Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Kết luận trong bản án, quyết định không phù họp với những tình tiết khách quan của vụ án hoặc có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật;
- Thành phần của hội đồng xét xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm không đúng quy định Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015 hoặc có vi phạm nghiêm trọng khác về thủ tục tố tụng ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.

Khi xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật theo thủ tục giám đốc thẩm, hội đồng xét xử giám đốc thẩm có thể huỷ một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị giao cho toà án cấp mình hoặc cấp dưới xử sơ thẩm hoặc phúc thẩm lại vụ án. Đồng thời hội đồng giám đốc thẩm có thể hướng dẫn toà án xử lại vụ án những vấn đề cần thiết như việc đánh giá chứng cứ,.việc vận dụng pháp luật đế giải quyết vụ án v.v... Nhưng hội đồng xét xử giám đốc thẩm không được chỉ rõ phải quyết định giải quyết vụ án như thế nào khi vụ án được xét lại. Toà án giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm hoặc phúc thẩm quyết định giải quyết vụ án căn cứ vào diễn biến của vụ án và pháp luật áp dụng giải quyết vụ án mà không bị ràng buộc vào ý kiến hướng dẫn của toà án cẩp giám đốc thẩm.

Bốn là huỷ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ giải quyết vụ án. Khi xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, theo Điều 346 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015, nếu có một trong các căn cử quy định tại Điều 217 của Bộ luật này thì hội đồng xét xử giám đổc thẩm quyết định huỷ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và đình chì giải quyết vụ án. Trường hợp quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đối với trường hợp sự việc không thuộc thẩm quyền của toà án thì toà án cần hướng dẫn đương sự yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết. Trường hợp bản án, quyết định của toà án đã thi hành được một phần hoặc toàn bộ thì bên cạnh việc huỷ bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật và đình chỉ giải quyết vụ án, hội đồng xét xử giám đốc thẩm phải quyết định giải quyết hậu quả của việc thi hành án.

Năm là sửa một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định của toà án đã có hiệu lực pháp luật.
 
Theo Điều Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015, hội đồng xét xử giám đốc thẩm ra quyết định sửa một phần hoặc toàn bộ bản án, quyết định của toà án đã có hiệu lực pháp luật khi có đủ các điều kiện sau đây:
- Tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã đầy đủ, rõ ràng; có đủ căn cứ để làm rõ các tình tiết trong vụ án;
- Việc sửa bản án, quyết định bị kháng nghị không làm ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác.
Trường hợp bản án, quyết định của toà án đã thi hành được một phần hoặc toàn bộ thì bên cạnh việc sửa bản án, quyết định hội đồng xét xử giám đốc thẩm phải quyết định giải quyết hậu quả của việc thi hành án.

8- Quyết định giám đốc thẩm

Khi xét lại bản án, quyết định theo thủ tục giám đốc thẩm, toà án ra quyết định giám đốc thẩm. Quyết định giám đốc thẩm phải có các nội dung theo quy định tại khoản 2 Điều 348 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015. Quyết định giám đốc thẩm có hiệu lực thi hành ngay.

Sau khi ra quyết định giám đốc thẩm, theo quy định tại Điều 350 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015, trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định, hội đồng xét xử giám đốc thẩm phải gửi quyết định giám đốc thẩm cho đương sự và những người khác có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quyét định giám đốc thẩm; toà án ra bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị; viện kiểm sát cùng cấp và cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền. Ngoài ra, quyết định giám đốc thẩm phải được toà án có thẩm quyền giám đốc thẩm công bố trên cổng thông tin điện tử của toà án (nếu có), trừ quyết định có chứa thông tin liên quan đến bí mật nhà nước, thuần phong mĩ tục của dân tộc, bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật cá nhân, bí mật gia đình theo yêu cầu chính đáng của đương sự.

 

0 bình luận, đánh giá về Xét xử giám đốc thẩm vụ án dân sự

TVQuản trị viênQuản trị viên

Xin chào quý khách. Quý khách hãy để lại bình luận, chúng tôi sẽ phản hồi sớm

Trả lời.
Thông tin người gửi
Bình luận
Nhấn vào đây để đánh giá
Thông tin người gửi
Tổng đài tư vấn: 024-66 527 527
Giờ làm việc: Thứ 2 - Thứ 7: 8h30 - 18h00
0.49078 sec| 1017.883 kb