Căn cứ xây dựng pháp luật thuế

09/09/2022
Vũ Thanh Mai
Vũ Thanh Mai
Thuế là gì? Và căn cứ xây dựng pháp luật thuế xoay quanh những vấn đề nào? Để giúp các bạn đọc được có thêm kiến thức về các vấn đề liên quan về những căn cứ trên. Luật Everest xin được thông tin đến mọi người kiến thức pháp lý mới nhất xoay quanh vấn đề trên.

Thuế là gì? Và căn cứ xây dựng pháp luật thuế xoay quanh những vấn đề nào? Để giúp các bạn đọc được có thêm kiến thức về các vấn đề liên quan về những căn cứ đó. Luật Everest xin được thông tin đến mọi người kiến thức pháp lý mới nhất xoay quanh vấn đề trên.

Luật thuế phải được xây dựng trên cơ sở các tiêu chuẩn nhất định và sự liên kết toàn cầu của các tờ khai thuế khác nhau nhưng có liên quan. Có thể nói, yêu cầu đặt ra đối với hệ thống pháp luật thuế nói chung và đối với từng luật thuế nói riêng là cần đảm bảo nguyên tắc trung lập về tài khóa; Đảm bảo nguồn thu, cân đối ngân sách nhà nước; Bảo đảm sự đồng ý của người nộp thuế. Những bảo đảm này giúp nhà nước có được nguồn lực vật chất để thực hiện các chức năng ngân sách thông qua hệ thống thuế theo luật định và hệ thống tổ chức thu. Đồng thời, quốc gia này không tạo ra phản ứng của công chúng đối với thuế. Các yêu cầu đặt ra đối với luật thuế cũng có ảnh hưởng mạnh mẽ đến cấu trúc của luật thuế; người nộp thuế

Thu nộp thuế Mức độ tuân thủ các yêu cầu của hệ thống pháp luật thuế ở mỗi quốc gia trong từng thời kỳ và điều kiện cụ thể là khác nhau, đây cũng là một trong những điểm khác biệt trong hệ thống pháp luật thuế của quốc gia này với quốc gia khác. Việc lựa chọn luật thuế, luật thuế phải dựa trên việc đáp ứng tiêu chí nhất định.

Mặc dù các tiêu chí này không rõ ràng và không cần phải đáp ứng đầy đủ, nhưng chúng thường được lấy làm cơ sở để xây dựng hệ thống luật thuế, một luật thuế cụ thể.

Tìm hiểu thêm về: Dịch vụ pháp chế doanh nghiệp

Căn cứ khi xây dựng hệ thống pháp luật thuế

Xây dựng hệ thống pháp luật thuế, cần phải xem xét và thực hiện theo những căn cứ cơ bản sau đây:
Bảo đảm nguồn lực vật chất cho chi tiêu của chính phủ, mặc dù luật thuế do các nước có chế độ chính trị khác nhau ban hành nhằm nhiều mục đích cùng một lúc, nhưng mục đích đầu tiên và quan trọng nhất là đáp ứng nhu cầu chi tiêu tối đa mà chính phủ được hưởng thuế để nâng cao. Tuy nhiên, cũng cần phải xem xét liệu luật thuế chỉ được thông qua để đáp ứng nhu cầu chi tiêu rất cao của nhà nước hay không. không Trên thực tế, tất cả các quốc gia đều hướng tới công chúng, mặc dù ở các mức độ khác nhau. Các chính phủ có một gánh nặng đặc biệt mà không tác nhân nào khác phải gánh: chi tiêu. Các dịch vụ công như an ninh, quốc phòng, ngoại giao, trợ giúp xã hội, tạo việc làm. Đối tượng được hưởng các khoản chi này là tất cả công dân, vì vậy luật thuế được ban hành nhằm giúp nhà nước có được nguồn thu mà qua đó, với tư cách là đại diện của công dân, có thể phân phối các khoản chi một cách công bằng cho xã hội.
- Điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, về nguyên tắc, việc đánh thuế không được tạo nên sự khánh kiệt của dân chúng. Những yếu tố liên quan đến tình hình phát triển kinh tễ, thu nhập của dân cư, định hướng của nhà nước về phát triển ngành, miền có tác động trực tiếp đến việc ban hành hay thay đổi cơ cấu của hệ thống pháp luật thuế. Bên cạnh đó, những yếu tố về chính trị cũng chi phối tới hệ thống pháp luật thuế một quốc gia. Ở Việt Nam trước năm 1990, hệ thống pháp luật thuế đơn giản, không áp dụng giống nhau cho mọi đối tượng thuộc các thành phần kinh tế khác nhau. Cơ cấu các luật thuế trong hệ thống pháp luật thuế cũng đơn giản, không đa dạng và đầy đủ như hệ thống pháp luật thuế từ những năm 1990 trở lại đây.
- Yêu cầu phải bao quát hết nguồn thu. Bao quát nguồn thu được hiểu: các quy định pháp luật thuế phải đảm bảo không bỏ sót đối tượng nộp thuế, đối tượng nằm trong cũng cần phải điều tiết... Đáp ứng yêu cầu này, pháp luật thuế không chỉ tạo căn cứ pháp lí để có được nguồn thu tối đa mà chính là một trong những yêu cầu quan trọng của nguyên tắc công bằng, bình đẳng.
- Yêu cầu của các quan hệ kinh tế đối ngoại, quan hệ quốc tế trong từng giai đoạn cụ thể. Từ sau Chiến tranh thế giới thứ II trở lại đây, sự liên kết giữa các quốc gia, vùng lãnh thổ đã trở thành trào lưu trong thời đại mới. Sự liên kết, hợp tác được thực hiện trong mọi lĩnh vực, từ chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội. Chính sách hợp tác giữa các quốc gia đã thúc đẩy mạnh mẽ các hoạt động kinh tế quốc tế. Để đảm bảo quyền lợi công dân quốc gia mình, để kinh tế trong nước phát triển, các quốc gia thường phải ban hành hệ thống pháp luật thuế phù hợp với chính sách khuyến khích, chính sách đầu tư của nhà nước trong từng giai đoạn. Chính sự tác động này lí giải vì sao hệ thống pháp luật thuế nói chung, từng luật thuế nói riêng có thể thay đổi trong từng giai đoạn cụ thể.

Tìm hiểu thêm về: Dịch vụ thư kí pháp lý

Căn cứ ban hành luật về một sắc thuế cụ thể

 

Việc ban hành một văn bản luật thuế, ngoài việc tuân thủ những căn cứ của hệ thống pháp luật thuế, cần phải dựa trên những điều kiện cụ thể. Chính điều kiên cụ thể đối với mỗi luật thuế giải thích cho việc các luật thuế có thể được ban hành vào những thời điểm khác nhau, khi các căn cứ ban hành cho luật thuế đó đã đạt được.
- Phải đảm bảo tính thống nhất của đạo luật thuế cụ thể trong cơ cấu hệ thống pháp luật thuế
Luật thuế cụ thể chỉ là bộ phận trong tổng thể hệ thống pháp luật thuế được áp dụng ở một quốc gia trong một thời kì. Luật thuế được ban hành đương nhiên phải tuân thử những nguyên tắc, yêu cầu chung của hệ thống pháp luật thuế. Do sự liên kết nội tại về kinh tế giữa các loại thuế, bất kì sự thay thế, sửa đổi, bổ sung nội dung của một luật thuế sẽ có ảnh hưởng trực tiếp đến các bộ phận còn lại của hệ thống pháp luật thuế nói chung.
-  Sự ổn định nội bộ phải được đảm bảo trong việc áp dụng từng luật thuế và sự ổn định trong luật thuế chung. Bản thân luật đã có yêu cầu về tính ổn định. Luật thuế có tác động trực tiếp. về thu nhập, về lợi ích của người nộp thuế, về nhà nước, nếu không ổn định sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến dân cư và nguồn tài chính của nhà nước. Mặt khác, các nhà kinh tế thị trường cũng chỉ ra. Ngoài ra, “thuế có tính ổn định nội tại” nên văn bản pháp luật ghi nhận loại thuế này cũng phải đảm bảo tính ổn định. Hơn nữa, trước khi thông qua bất kỳ luật thuế nào, cần phải xem xét chi tiết điều kiện bắt buộc để thuế có thể thực thi và có khả năng được áp dụng lâu dài.
-    Đảm bảo tính công bằng trong việc thực hiện nghĩa vụ thuế. Bản thân thuế đã đặt ra yêu cầu công bằng. Tuy vậy, công bằng chỉ có thể được thực hiện khi có những quy định pháp luật về nội dung đó cũng như đủ biện pháp pháp lí buộc các bên có liên quan thực hiện nguyên tắc công bằng.

Xem thêm: Trợ lý pháp lý

 

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest:

Bài viết trong lĩnh vực nêu trên được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.

Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết

Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 024 66 527 527, E-mail: info@everest.org.vn.

 

0 bình luận, đánh giá về Căn cứ xây dựng pháp luật thuế

TVQuản trị viênQuản trị viên

Xin chào quý khách. Quý khách hãy để lại bình luận, chúng tôi sẽ phản hồi sớm

Trả lời.
Thông tin người gửi
Bình luận
Nhấn vào đây để đánh giá
Thông tin người gửi
Tổng đài tư vấn: 024-66 527 527
Giờ làm việc: Thứ 2 - Thứ 7: 8h30 - 18h00
0.04549 sec| 912.648 kb