Đặc điểm tâm lý giai đoạn xét hỏi tại phiên tòa

19/03/2023
Trong giai đoạn này, hội đồng xét xử tiến hành nghiên cứu và kiểm tra tất cả các chứng cứ của vụ án đã được thu thập và hệ thống trong tài liệu điều tra, kiểm tra, xác minh tất cả các nguồn thông tin và những thông tin do các nguồn này cung cấp trên cơ sở đó khôi phục lại mô hình về vụ án đã xảy ra, về hành động, về thái độ và thuộc tính nhân cách của bị cáo.

Khi xét hỏi, không chỉ hội đồng xét xử thực hiện hoạt động nhận thức mà những người tham gia xét hỏi (kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự và người giám định), những người tham gia phiên toà (bị cáo, người bị hại, người làm chứng, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự,...) cũng thực hiện hoạt động nhận thức trong khuôn khổ quyền và nghĩa vụ của mình. Xuất phát từ vị trí tố tụng khác nhau, lợi ích khác nhau, mỗi người sẽ truyền đạt thông tin khác nhau để trình bày các tình tiết cần thiết. Chính vì vậy, chủ tọa phiên toà phải điều khiển và điều chỉnh quá trình nhận thức của những người tham gia xét hỏi và những người tham gia tố tụng và điều khiển các mối quan hệ giữa họ. Do đó, chủ tọa phiên toà buộc phải quan sát hành vi của bị cáo và của tất cả những người tham gia tố tụng khác.

Trong giai đoạn này dễ xảy ra xung đột trong giao tiếp vì lợi ích, mục đích của họ khác nhau. Một trong những nhiệm vụ của chủ tọa phiên toà là thiết lập mối quan hệ đúng đắn giữa những người tham gia thận thức, đồng thời bảo đảm không khí làm việc nghiêm túc và thoải mái giữa họ, tránh để nảy sinh và phát triển các quan hệ xung đột giữa họ vì nó sẽ cản trở việc xác minh sự thật tại phiên toà. Có thể nói, cách đối xử lịch sự và tinh thần cộng tác có trách nhiệm của những người tham gia xét hỏi phụ thuộc rất nhiều vào hành vi xử sự của chủ tọa phiên toà. Chủ tọa phiên toà cần có thái độ kiên quyết để gạt bỏ những xung đột giữa họ. Quyền của thẩm phán chủ tọa và hoạt động thiết kế của họ đều hướng tới tạo điều kiện cần thiết cho những người tham gia xét hỏi nhận thức sự thật của vụ án được đúng và chính xác.

Trong giai đoạn này, chủ tọa phiên toà là người điều khiển việc xét hỏi, nên nhiệm vụ của họ rất đa dạng: Họ phải tri giác tất cả các tình tiết của vụ án được trình bày và đưa ra trong quá trình xét hỏi, phải tư duy căng thẳng để điều chỉnh và phân tích những thông tin đưa ra, tri giấc và phân tích các nguồn cung cấp thông tin khác nhau, kiểm tra hoạt động nhận thức của những người tham gia xét hỏi. Họ không chỉ tri giác thông tin mà còn phải ghi nhớ thông tin đó (để ghi nhớ tốt, họ có thể sử dụng biện pháp ghi chép, ghi âm, dựng biểu đồ, vẽ sơ đồ...).

Quá trình nhận thức, đánh giá các tình tiết của vụ án tại phiên toà bao giờ cũng diễn ra theo hướng xác định trước, có kế hoạch và dự đoán trước. Vì những người tham gia xét hỏi cũng như hội đồng xét xử đều đã biết trước những tình tiết thu thập được trong giai đoạn điều tra, họ đã hiểu rõ, cân nhắc kĩ lưỡng mọi thông tin, đồng thời họ xác định trước thái độ, xử sự của mình tại phiên toà. Chính những đặc điểm này là cơ sở để hình thành các hoạt động đặc trưng của những người tham gia xét hỏi. Đó là họ đều có kế hoạch nghiên cứu, theo dõi các thông tin và các nguồn cung cấp thông tin về vụ án một cách độc lập tại phiên toà.

Do đặc điểm của giai đoạn này là hầu hết lượng thông tin cần thiết phải nghiên cứu tại phiên toà là lời khai của bị cáo, người làm chứng, người bị hại v.v. cho nên phải tạo điều kiện thuận lợi đảm bảo cho họ trình bày đầy đủ các tình tiết quan trọng của vụ án. Trong giai đoạn này họ phải tham gia vào các mối quan hệ giao tiếp tâm lý phức tạp và rất căng thẳng. Trong các quan hệ giao tiếp này, hình thức giao tiếp ban đầu với người làm chứng có ý nghĩa rất lớn. Đe tạo điều kiện cho hoạt động xét xử đạt kết quả, ngay từ đầu các quan hệ giao tiếp tâm lý với họ trong phiên toà phải thật sự thoải mái, tránh gây ra cho họ trạng thái tâm lý hồi hộp. Mặt khác, hội đồng xét xử phải tập trung chú ý và tri giác khách quan những thông tin họ cung cấp. Do giao tiếp tâm lý trong phiên toà diễn ra với sự có mặt của nhiều người, nên sự chú ý của người làm chứng có thể bị chi phối, bị sao nhãng. Ngoài ra, sự có mặt của nhiều người có thể làm cho người làm chứng lúng túng, mất tự nhiên, do đó người làm chứng tiếp nhận các câu hỏi một cách căng thẳng, khó khăn. Chính vì vậy, các câu hỏi đặt ra cho người làm chứng không được mang tính chất kích động, câu hỏi phải ngắn gọn, dễ hiểu tránh gây cho người làm chứng trạng thái căng thẳng hay khó hiểu, thậm chí khó giải quyết ngay cả những nhiệm vụ tư duy hết sức đơn giản. Trong những trường hợp như vậy, hội đồng xét xử cần tạo điều kiện cho người làm chứng thích nghi với hoàn cảnh hiện tại và tiếp nhận các biện pháp họp lý nhằm hạn chế ảnh hưởng của những kích thích tiêu cực. Điều hết sức cần thiết là chủ tọa phiên toà phải luôn luôn duy trì trật tự phiên toà, không cho phép những người dự phiên toà ồn ào, tự tiện đi lại trong phòng xử án.

 

Xử sự của chủ tọa phiên toà cũng có thể kích thích tính tích cực của những người tham gia xét hỏi tại phiên toà, tạo điều kiện làm sáng tỏ sự thật của vụ án, nhưng cũng có thể cản trở hoạt động này. Chủ tọa phiên toà phải tỏ ra chú ý, quan tâm, lắng nghe người làm chứng, bị cáo trình bày để kích thích họ muốn trình bày đúng, thành khẩn những tình tiết của vụ án. Song những biểu hiện tích cực này sẽ mất đi khi hội đồng xét xử, đặc biệt là chủ tọa phiên toà có thái độ thờ ơ với những thông tin mà họ cung cấp, có thái độ coi thường, xử sự thiếu lịch sự, nóng nảy vô cớ... đối với họ. Những hiện tượng tâm lý tiêu cực này gây khó khăn, cản trở quá trình xác minh sự thật của vụ án.

Hội đồng xét xử phải lường trước phản ứng có thể xảy ra ở những người dự phiên toà trước các câu hỏi đặt ra cho bị cáo, người bị hại, người làm chứng... và trước những câu trả lời của họ. Phản ứng của những người dự phiên toà có thể làm cho người đang được hỏi lo lắng, mất khả năng nhớ lại những sự kiện đã xảy ra, làm thay đổi hẳn trạng thái tâm lý của họ. Vì vậy, hội đồng xét xử và những người tham gia thẩm vấn phải thận trọng và suy nghĩ chín chắn khi đặt câu hỏi cho bị cáo, người làm chứng, tránh đưa ra câu hỏi gây ra sự ồn ào, thiếu nghiêm túc, tránh làm cho họ hiểu lầm câu hỏi đó là diễu cợt họ. Những người tham gia thẩm vấn phải luôn luôn nhớ rằng không được cố ý tạo ra ở người dự phiên toà những phản ứng có lợi cho mình, mà nhiệm vụ chủ yếu của những người tham gia thẩm vấn trước hết là làm sáng tỏ sự thật bằng khả năng và kinh nghiệm xét xử của mình. Phản ứng của những người dự phiên toà chính là thể hiện ý kiến của họ, song nó có thể cản trở việc làm sáng tỏ sự thật. Một mặt phản ứng của họ có thể  làm tăng tác dụng giáo dục của hoạt động xét hỏi tại phiên toà, giáo dục mọi người ý thức tôn trọng pháp lúật. Nhưng mặt khác, phản ứng của họ tại phiên toà có thể gây ra những trạng thái xúc cảm tiêu cực ở người đang được hỏi, đồng thời làm phức tạp thêm quá trình xác minh sự thật. Phản ứng của những người dự phiên toà trong nhiều trường hợp có thể là nguyên nhân làm cho bị cáo, người làm chứng thay đổi lời khai của mình.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 209 Bộ luật tố tụng hình sự thì trước khi xét hỏi bị cáo, hội đồng xét xử phải để bị cáo trình bày ý kiến của họ về bản cáo trạng và những tình tiết của vụ án, sau đó hội đồng xét xử mới hỏi thêm về những điểm mà bị cáo trình bày chưa đầy đủ hoặc còn mâu thuẫn. (Tuy nhiên, theo quy định này thì trong nhiều trường hợp sẽ không phù hợp với thực tiễn xét xử. Vì nếu bị cáo cứ trình bày ý kiến của mình về bản cáo trạng và những tình tiết của vụ án thì có khi mất cả buổi cũng không xong, trong khi hội đồng xét xử lại không có quyền ngắt lời của bị cáo khi bị cáo đang khai, mà hội đồng xét xử chỉ có quyền lưu ý bị cáo cần phải khai đúng sự thực những gì có liên quan đến vụ án và có ý nghĩa đối với vụ án. Vì vậy, vai trò điều khiển của chủ toạ phiên toà rất quan trọng, sao cho để bị cáo chỉ trình bày ý kiến đồng ý hay không đồng ý điểm nào của bản cáo trạng (về tội danh, về điều luật mà Viện kiểm sát truy tố và áp dụng), còn các tình tiết của vụ án thì bị cáo sẽ trình bày trong quá trình xét hỏi). Nếu trong quá trình xét hỏi, bị cáo không trả lời câu hỏi của hội đồng xét xử hoặc lời khai của bị cáo tại phiên toà mâu thuẫn với lời khai của họ tại cơ quan điều tra thì hội đồng xét xử công bố lời khai của họ tại cơ quan điều tra. Nếu lời khai mâu thuẫn thì chủ toạ phiên toà có thể hỏi bị cáo vì sao lại có sự mâu thuẫn đó. Song không bắt buộc bị cáo phải trả lời lý do của sự mâu thuẫn đó (Điều 10; khoản 4 Điều 209 Bộ luật tố tụng hình sự). Việc xét hỏi bị cáo tại phiên toà phải khách quan, vô tư, đòi hỏi hội đồng xét xử không được có thái độ định kiến làm cho bị cáo, những người tham gia phiên toà, những người dự phiên toà biết được ý định của hội đồng xét xử sẽ ra bản án như thế nào đối với bị cáo khi chưa tuyên án. Hội đồng xét xử không được làm thay việc của kiểm sát viên (chỉ tìm các chứng cứ buộc tội bị cáo nếu định kiến là bị cáo có tội) hoặc làm thay việc của luật sư (chỉ tìm các chứng cứ gỡ tội cho bị cáo nếu định kiến là bị cáo không có tội). Sau khi hội đồng xét xử đã hỏi thì theo trình tự xét hỏi kiểm sát viên, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự, người giám định được hỏi về những nội dung đã được quy định tại khoản 3 Điều 209 Bộ luật tố tụng hình sự. Theo quy định tại Điều 210 Bộ luật tố tụng hình sự thì trước khi xét hỏi người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hoặc người đại diện họp pháp của những người đó, hội đồng xét xử phải để họ trình bày về những tình tiết của vụ án có liên quan đến họ. Sau đó hội đồng xét xử, kiểm sát viên, người bào chữa và người bảo vệ quyền lợi của đương sự hỏi thêm về những điểm mà họ trình bày chưa đủ hoặc có mâu thuẫn.

 

Theo quy định tại khoản 2 Điều 211 Bộ luật tố tụng hình sự khi hỏi người làm chứng, hội đồng xét xử phải hỏi rõ về quan hệ giữa họ với bị cáo và các đương sự trong vụ án. Chủ tọa phiên toà yêu cầu họ trình bày rõ những tình tiết vụ án mà họ đã biết. Sau đó, hội đồng xét xử, kiểm sát viên, người bào  chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự có thể hỏi thêm về những điểm mà họ khai chưa đủ hoặc có mâu thuẫn. Khi đặt câu hỏi, hội đồng xét xử phải chú ý tới ảnh hưởng của câu hỏi. Câu hỏi đặt ra có làm cho người làm chứng chán nản không, có làm cho họ cảm thấy căng thẳng không, có kích thích họ tích cực khai báo không...

Việc tiếp nhận thông tin từ người làm chứng tại phiên toà không phải hoàn toàn bị động. Muốn tiếp nhận được lời khai đúng sự thật, hội đồng xét xử có thể sử dụng các phương pháp tác động tâm lý nhất định đến người làm chứng.

Trong giai đoạn xét hỏi, người được xét hỏi có lượng thông tin về vụ án lớn hơn rất nhiều so với ở giai đoạn điều tra. Vì lý do này không thể sử dụng phương pháp đã định đối với những thông tin không đầy đủ như trong quá trình điều tra, cũng không thể sử dụng các phương pháp tác động xúc cảm mạnh mẽ vì ở đây quá nhiều tác nhân kích thích làm người được xét hỏi dễ quên, không nên gây bất ngờ... đối với họ. Những điều đó hoàn toàn không có nghĩa là làm giảm đi khả năng tác động tại phiên toà. Chính không khí phiên toà, điều kiện nghiên cửu công khai trước công chúng tất cả các tình tiết của vụ án, cân nhắc phản ứng của tất cả những người dự phiên toà đối với người được xét hỏi là yếu tố tác động đặc biệt quan trọng.

Trong giai đoạn xét hỏi tại phiên toà, hội đồng xét xử có thể sử dụng một số phương pháp tác động tâm lý đến người bị xét hỏi. Phương pháp thuyết phục là phương pháp tác động chủ yếu trong xét hỏi. Hơn nữa, phương pháp thuyết phục này phải đạt tới mục đích không chỉ tác động đến cá nhân cụ thể, mà còn tác động đến tất cả những người dự phiên toà. Thoạt đầu, chúng ta có cảm tưởng rằng tại phiên toà khả năng tác động bằng phương pháp thuyết phục ít hơn nhiều so với trong điều tra. Nhưng thực ra thuyết phục người được xét hỏi với sự có mặt của tất cả những người dự phiên toà có tác dụng mạnh hơn nhiều. Những người dự phiên toà quan sát điệu bộ, cử chỉ, phản ứng.... của họ, hiểu rõ họ, có những ý kiến và tỏ thái độ đối với họ. Khả năng thuyết phục được tăng lên cùng với dư luận, chính vì dư luận tạo ra hoàn cảnh đặc biệt để quan sát họ. So với giai đoạn điều tra, phương pháp thuyết phục trong xét hỏi cũng khác, vì nó đòi hỏi vai trò tích cực hơn của chính người thuyết phục, nó cân nhắc đến sự có mặt của nhiều người, đến phương pháp thuyết phục được sử dụng, đến những hình thức và lý lẽ đa dạng được trình bày trong quá trình thuyết phục.

Tại phiên toà, phương pháp tác động tiếp theo được sử dụng là phương pháp giao tiếp tâm lý có điều khiển. Chủ tọa phiên toà là người điều khiển việc xét hỏi tại phiên toà, người được xét hỏi tham gia vào nhiều giao tiếp tâm lý, đó là giao tiếp giữa họ với những người có liên quan đến vụ án, với nhửng người đặt câu hỏi cho họ và những người có ảnh hưởng đến họ. Những giao tiếp này không chỉ diễn ra bằng ngôn ngữ nói, mà còn kéo theo sự biểu cảm bằng nét mặt và thái độ. Trong mọi trường hợp tác động bắt đầu có kết quả khi người được xét hỏi bắt đầu tham gia vào giao tiếp tại phiên toà. Vì vậy, nhiều khi đối chất tại phiên toà lại cho kết quả trong khi đó chính sự đối chất này do điều tra viên tiến hành trong điều kiện tác động thuận lợi lại dường như không cho kết quả.

Phương pháp tiếp theo là phương pháp truyền đạt thông tin. Trong đa số các trường hợp người được xét hỏi đã biết những thông tin này (đây không phải là thông tin mới đối với họ). Chính vì vậy tác động ở đây chủ yếu là những người tham gia thẩm vấn trình bày ý kiến về thông tin này, về sự đánh giá thông tin, vạch ra sự lôgic giữa chúng với những chứng cứ, sự kiện, hành động khác. Song trong mọi trường hợp, thông tin vẫn giữ được tính chất vốn có của nó. Truyền đạt thông tin tại phiên toà đặc biệt quan trọng và cần thiết vì khoảng thời gian dài đáng kể từ khi hỏi cung, lấy lời khai, trong giai đoạn điều tra đến khi xét hỏi tại phiên toà nhiều khi làm cho họ quên đi những chứng cứ.

Khi sử dụng các phương pháp tác động trong xét hỏi, cần phải chú ý đến giai đoạn hình thành lời khai ở người được xét hỏi, đó là giai đoạn nhớ lại mô hình vụ án, nó giúp họ khôi phục lại trong tư duy điều mà họ đã khai ở giai đoạn điều tra.

Điều kiện đặc biệt của phiên toà dẫn đến hình thức thẩm vấn đặc biệt đó là thẩm vấn chéo, thẩm vấn bàn cờ. Trong trường hợp thứ nhất, những người tham gia thẩm vấn sẽ thẩm vấn một người, họ sử dụng phương pháp tác động tâm lý trong xét hỏi là phương pháp đặt và thay đổi nhiệm vụ tư duy. Trong trường hợp thứ hai, phương pháp giao tiếp tâm lý có điều khiển được biểu thị dưới hình thức độc đáo.

Điều kiện thẩm vấn đặc biệt dẫn đến hành động xét xử đặc biệt. Ví dụ, khi tiến hành thực nghiệm, hội đồng xét xử nhất thiết phải cân nhắc đến những điều kiện đặc biệt được hình thành trong phiên toà, cân nhắc đến những tác nhân kích thích ảnh hưởng đến những người tham gia thực nghiệm, cân nhắc đến những trạng thái tâm lý đặc biệt cần phải có ở những người này. Đặc biệt cần phải chú ý tạo ra cho họ trạng thái tâm lý mà nhờ đó những kết quả thực nghiệm về những phẩm chất tâm lý nhất định của cá nhân cần nghiên cứu có thể được xác nhận một cách khách quan.

Trong giai đoạn này, chức năng giáo dục của Toà án cũng được thể hiện một cách tích cực. Chính quá trình xét hỏi, tìm kiếm, nghiên cứu tất cả các chứng cứ và quá trình xác định sự thật của vụ án có tác dụng giáo dục đến tất cả những người dự phiên toà. Quá trình xét hỏi phải giúp cho những người dự phiên toà phát hiện được bản chất thật của vụ án một cách dần dần, rõ ràng thông qua các câu hỏi khác nhau về những điểm có mâu thuẫn, có như vậy thì xét hỏi mới có ý nghĩa giáo dục.

Hội đồng xét xử phải vô tư khi nghiên cứu tất cả các chứng cứ trong quá trình xét hỏi. Nếu họ có định kiến xấu thì sẽ không thể đạt được mục đích giáo dục, cũng như không thể xác định được sự thật. Việc tuân thủ nghiêm ngặt các quy phạm pháp luật tố tụng tại phiên toà có ý nghĩa tác dụng giáo dục đến những người dự phiên toà. Cách xử sự, thái độ của thẩm phán - chủ toạ phiên toà có tác dụng giáo dục đối với những người tham gia tố tụng. Chính vì vậy thẩm phán cần hết sức chú ý đặc điểm này khi tiến hành xét hỏi.

Tổng hợp từ Giáo trình Tâm lý học Tư pháp - Đại học Luật Hà Nội và một số nguồn khác.

0 bình luận, đánh giá về Đặc điểm tâm lý giai đoạn xét hỏi tại phiên tòa

TVQuản trị viênQuản trị viên

Xin chào quý khách. Quý khách hãy để lại bình luận, chúng tôi sẽ phản hồi sớm

Trả lời.
Thông tin người gửi
Bình luận
Nhấn vào đây để đánh giá
Thông tin người gửi
Tổng đài tư vấn: 024-66 527 527
Giờ làm việc: Thứ 2 - Thứ 7: 8h30 - 18h00
0.42642 sec| 1002.102 kb