Hôn nhân, kết hôn và ly hôn

11/05/2024
Lý Thông
Lý Thông
Hôn nhân trong xã hội Việt Nam hiện đại là sự liên kết tự nguyện, bình đẳng, sự liên kết bền vững trên cơ sở yêu thương, tôn trọng lẫn nhau.
-

Nội dung bài viết

1- Hôn nhân

Theo quan niệm của chế độ xã hội chủ nghĩa thì hôn nhân là sự liên kết giữa người đàn ông và người đàn bà được pháp luật thừa nhận nhằm xây dựng gia đình và chung sống với nhau suốt đời. Sự liên kết đỏ phát sình và hình thành do việc kết hôn và được biểu hiện ở một quan hệ xã hội gắn liền với nhân thần, đó là quan hệ vợ chồng.

Theo khoản 1 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn”.

Như vậy, có thể hiểu hôn nhân là sự liên kết giữa vợ và chồng trên cơ sở kết hôn hay có thể nói là trên cơ sở nam nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn.

Xem thêm: Dịch vụ pháp lý về hợp đồng hôn nhân của Công ty Luật TNHH Everest

Căn cứ vào những quan điểm của Đảng về xây dựng chế độ hôn nhân tự do, tiến bộ, bình đẳng, được thể hiện trong Hiến pháp năm 2013 (Điều 36) và trong các văn bản pháp luật hiện hành về hôn nhân và gia đình ở Việt Nam, có thể nêu một số đặc trưng của quan hệ hôn nhân như sau:

Thứ nhất, hôn nhân là sự liên kết một vợ một chồng giữa một người đàn ông và một người đàn bà (Điều 2, Điều 5 và Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014). Đặc điểm này nói lên sự khác nhau cơ bản giữa hôn nhân trong xã hội Việt Nam xã hội chủ nghĩa với hôn nhân đa thê trong xã hội phong kiến.

Thứ hai, hôn nhân là sự liên kết giữa một người đàn ông và một người đàn bà trên nguyên tắc hoàn toàn tự nguyện. Việc xác lập quan hệ hôn nhân là do hai bên nam nữ hoàn toàn tự nguyện quyết định, không ai được ép buộc hoặc cản trở (Điều 2, Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014). Cơ sở tự nguyện trong hôn nhân là tình yêu chân chính giữa nam và nữ, không bị những tính toán về kinh tế chi phối, không bị cưỡng ép hoặc bị cản trở.

Thứ ba, hôn nhân là sự liên kết bình đẳng giữa một người đàn ông và một người đàn bà (Điều 2, Điều 5 và Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014). Tính hiện thực của sự bình đẳng giữa nam và nữ, giữa vợ và chồng gắn liền với tính hiện thực của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, sự bình đẳng về hình thức pháp lý trong pháp luật Việt Nam xã hội chủ nghĩa cũng đã là một bước phát triển so với hôn nhân bất bình đẳng trong xã hội phong kiến và sự bình đẳng giữa vợ và chồng theo pháp luật tư sản. Mặt khác, chừng nào trong xã hội, các quan hệ hôn nhân còn bị ràng buộc bởi những tính toán về kinh tế, về địa vị giai cấp thì chưa thể có tự do và bình đẳng thực sự.

Xem thêm: Dịch vụ pháp lý trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình của Công ty Luật TNHH Everest

Thứ tư, hôn nhân là sự liên kết giữa một người đàn ông và một người đàn bà nhằm chung song với nhau suốt đời và xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững (Điều 2 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014). Hôn nhân dựa trên cơ sở tình yêu giữa nam và nữ, giữa vợ và chồng là điều kiện đảm bảo cho sự liên kết đó hạnh phúc, bền vững. Tính chất bền vững “suốt đời” là đặc trưng của hôn nhân xã hội chủ nghĩa. Khi yêu nhau, vợ chồng đều mong muốn được chung sống, gắn bó bên nhau suốt đời, hạnh phúc và hòa thuận. Tình yêu, sự tôn trọng và tình nghĩa giữa nam và nữ, giữa vợ và chồng là chất keo gắn kết hai bên nam nữ, là yếu tố quyết định sự tồn tại của hôn nhân. Những thỏa thuận, hay khế ước về tài sản giữa họ với nhau chỉ là những điều kiện bổ sung cho cuộc sống gia đình (vợ chồng, con cái).

Thứ năm, hôn nhân là sự liên kết giữa một người đàn ông và một người đàn bà theo quy định của pháp luật. Theo quy định tại các điều từ Điều 3 đến Điều 16 và các điều khoản khác của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, việc kết hôn và ly hôn được tiến hành theo trình tự pháp luật. Các nghi lễ mang tính chất tôn giáo và phong tục, tập quán không bị cấm đoán nhưng chỉ có tính chất riêng tư. Để được công nhận hôn nhân hợp pháp, việc đăng ký kết hôn phải tuân theo các quy định của pháp luật.

Như vậy, hôn nhân trong xã hội Việt Nam hiện đại là sự liên kết tự nguyện, bình đẳng, sự liên kết bền vững trên cơ sở yêu thương, tôn trọng lẫn nhau. Sự liên kết đó không bị phụ thuộc vào các tính toán vật chất.

Xem thêm: Mẫu hợp đồng hôn nhân chi tiết

2- Kết hôn

Căn cứ vào khoản 5 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng với nhau theo quy định của Luật này về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn. Như vậy, theo quy định của pháp luật hôn nhân hiện hành thì có hai tiêu chí để xác lập quan hệ hôn nhân hay xác lập quan hệ vợ chồng, đó là:

Một là về điều kiện kết hôn. Xét theo Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, nam và nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây: [1] Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên; [2]  Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định; [3] Không bị mất năng lực hành vi dân sự; [4] Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 2 Điều 5 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Đặc biệt là khác với các nước đang phát triển và phát triển khác thì hiện nay Nhà nước Việt Nam không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính.

Hai là về đăng ký kết hôn. Xét theo Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và pháp luật về hộ tịch. Việc kết hôn không được đăng ký theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì không có giá trị pháp lý. Một điểm đáng lưu ý nữa là khi vợ chồng đã ly hôn muốn xác lập lại quan hệ vợ chồng thì vẫn phải đăng ký kết hôn.

Xem thêm: Điều kiện có hiệu lực của Hợp đồng hôn nhân

3- Ly hôn

Tại khoản 14 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ vợ chồng theo bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án”. Theo đó, tại Điều 57 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 khẳng định thời điểm chấm dứt hôn nhân là kể từ ngày bản án, quyết định ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

Trách nhiệm gửi bản án, quyết định ly hôn thuộc về Tòa án có thẩm quyền giải quyết ly hôn. Tòa án phải gửi bản án, quyết định ly hôn đã có hiệu lực pháp luật cho cơ quan đã thực hiện việc đăng ký kết hôn để ghi vào sổ hộ tịch công nhận hai bên đã ly hôn.

Xem thêm: Dịch vụ luật sư ly hôn của Công ty Luật TNHH Everest

4- Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest

[a] Bài viết Hôn nhân, kết hôn và ly hôn được chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.

[b] Bài viết Hôn nhân, kết hôn và ly hôn có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.

[c] Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý, hoặc thuê luật sư tư vấn cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: (024) 66 527 527, E-mail: info@everest.org.vn.

0 bình luận, đánh giá về Hôn nhân, kết hôn và ly hôn

TVQuản trị viênQuản trị viên

Xin chào quý khách. Quý khách hãy để lại bình luận, chúng tôi sẽ phản hồi sớm

Trả lời.
Thông tin người gửi
Bình luận
Nhấn vào đây để đánh giá
Thông tin người gửi
Tổng đài tư vấn: 024-66 527 527
Giờ làm việc: Thứ 2 - Thứ 7: 8h30 - 18h00
0.19466 sec| 959.852 kb