Luật sư bào chữa đối với pháp nhân thương mại phạm tội

14/06/2021
Nguyễn Thị Huyền Trang
Nguyễn Thị Huyền Trang

Xác định đúng định hướng bào chữa có ý nghĩa rất quan trọng và mang tính chất quyết định đối với hoạt động bào chữa của Luật sư trong các giai đoạn tiếp theo. Bởi lẽ, định hướng sẽ là cơ sở để Luật sư bào chữa lập kế hoạch tham gia xét hỏi, xây dựng bản luận cứ, cũng như chuẩn bị công việc để tham gia phiên tòa.

bào chữa luật sư Công ty Luật TNHH Everest – Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198

Những định hướng Luật sư bào chữa đối với pháp nhân thương mại phạm tội

Tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể, trên cơ sở kết quả nghiên cứu hồ sơ vụ án và những chứng cứ, tài liệu tự mình thu thập được, Luật sư có thể lựa chọn bào chữa theo một trong các hướng sau: Bào chữa theo hướng pháp nhân thương mại không phạm tội hoặc có tội nhưng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự hoặc cho pháp nhân thương mại theo hướng trả hồ sơ điều tra bổ sung. Bài viết này, tác giả sẽ hướng dẫn các đọc giả cách bào chữa của Luật sư theo hướng Pháp nhân thương mại không phạm tội.(xem thêm dịch vụ thành lập công ty)

Luật sư bào chữa đối với pháp nhân thương mại phạm tội theo hướng không phạm tội

Luật sự lựa chọn bào chữa theo hướng này khi có một trong các các khả năng sau:

Thứ nhất: Có hành vi vi phạm pháp luật xảy ra nhưng không đáp ứng đầy đủ các điều kiện mà pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 75 Bộ luật hình sự năm 2015. Trong trường hợp này để chứng minh pháp nhân thương mại không phải chịu trách nhiệm hình sự Luật sư bào chữa cần phải chứng minh hành vi vi phạm của pháp nhân thương mại thuộc một trong các trường hợp sau:

(i) Hành vi vi phạm pháp luật do nhân viên của pháp nhân thương mại thực hiện nhưng không phải nhân danh pháp nhân đó.

(ii) Hành vi vi phạm pháp luật do nhân viên của pháp nhân thương mại thực hiện nhưng không phải vì lợi ích của pháp nhân.

Ví dụ:

Công ty X sao cho Nguyễn Văn A và Nguyễn Văn B vận chuyển một số thiết bị y tế mà Công ty thi của một Công ty Y từ TP. Hồ Chí Minh là Hà Nội, Trong quá trình nhận và vận chuyển số hàng trên, A và B đã bàn với nhau, vận chuyển 3,500 bao thuốc lá điếu ngoại nhập lậu ta là Nội để tiêu thụ, Thành đường vận chuyển thì bị phát hiện và bị bắt giữ. Khi bị bắt, để trốn tránh trách nhiệm A và B khai tốt , hàng trên xe (bao gồm cả 3.500 bao thuốc lá nhập lậu) là của Công X. Để bào chữa cho Công ty X không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi bán hàng cấm, Luật sư phải đưa ra các chứng cứ để chứng minh A thuốc lá điếu ngoại nhập là của cá nhân A và B mua chứ không của Công ty X. Vì vậy, Công ty X không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi buôn bán hàng cấm là thuốc lá điếu ngoại nhập.

(iii) Hành vi vi phạm pháp luật được thực hiện không có sự chỉ đạn. điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại

(iv) Hành vi vi phạm pháp luật được thực hiện không có sự chỉ đạo điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại

Ví dụ:

Cơ quan quản lý thị trường phát hiện và thu giữ một lô hàng gần 10.000 bao thuốc lá điếu ngoại nhập lậu đang được cất giấu tại kho hàng của Công ty X. Quá trình điều tra Nguyễn Văn A (là Trưởng phòng kế hoạch của Công ty X) và Nguyễn Văn B (là Thủ kho) khai báo việc cho gửi lô hàng lậu này đã báo cáo và được Lãnh đạo Công ty X cho phép... Trên thực tế vụ việc này Lãnh đạo Công ty X hoàn toàn không biết và không cho phép, mà do Nguyễn Văn A và Nguyễn Văn B đã bàn bạc, thông đồng với nhau cho Công ty H gửi lô hàng lậu này trong kho để nhận 20.000.000 đồng chia nhau. Như vậy, trong vụ việc này, Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Công ty X phải chứng minh hành vi cho Công ty H gửi lô hàng lậu trong kho là do A và B tự bàn bạc, thông đồng với nhau thực hiện để lấy tiền chia nhau. Công ty X hoàn toàn không có lỗi vì lãnh đạo của Công ty không biết, không chỉ đạo hay cho phép gửi lô hàng lậu này trong kho của Công ty.

Nguyễn Văn A và Nguyễn Văn B đã lợi dụng chức trách nhiệm vụ được giao để thực hiện hành vi phạm tội vì lợi ích cá nhân (chứ không phải vì lợi ích của Công ty). Vì vậy, A và B phải hoàn toàn chịu trách nhiệm hình sự về tội “tàng trữ trái phép hàng cấm” theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 191 Bộ luật hình sự năm 2015.(xem thêm: dịch vụ thay đổi đăng ký kinh doanh)

  • Hành vi vi phạm pháp luật của pháp nhân thương mại đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự, tức là tính từ ngày tội phạm thực hiện đã quá thời hạn được quy định tại Điều 27 Bộ luật hình sự năm 2015.

a) 05 năm đối với tội phạm ít nghiêm trọng;

b) 10 năm đối với tội phạm nghiêm trọng;

c) 15 năm đối với tội phạm rất nghiêm trọng;

d) 20 năm đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

Thứ hai, hành vi xảy ra không cấu thành một trong các tội phạm mà pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 76 Bộ luật hình sự năm 2015. Đây là trường hợp hành vi do pháp nhân thương mại thực hiện nhưng không cấu thành một trong các tội phạm được quy định.

Ví dụ:

Công ty H bị khởi tố, điều tra và truy tố về tội “xâm phạm quyền tác giả” theo khoản 1 Điều 225 Bộ luật hình sự. Kết luận điều tra, và Cáo trạng, đã căn cứ vào kết luận giám định (theo giá ghi trên bìa sách) đối với số lượng sách in lậu và xác định số lượng, hàng hóa vi phạm trị giá là 120,000,000 đồng. Quá trình nghiên cứu hồ sơ, Luật sư thấy rằng, giá ghi trên bìa của sách in lậu cao hơn 200,000 đồng/ quyển 50 với giá ghi trên bìa của sách thật. Theo yêu cầu của Luật sư và Tòa án, có quan giám định đã xác định lại giá trị số lượng sách in lậu (tính theo giá ghi trên bìa của sách thật là 98,000,000 đồng. Như vậy, hành vi in lậu sách của Công ty H chưa cấu thành tội "xâm phạm quyền tác giả vị chưa đủ về định lượng giá trị hàng vi phạm (100,000,000 đồng) theo quy định tại khoản 1 Điều 225 Bộ luật hình sự.

Thứ ba, hành vi của pháp nhân thương mại thuộc trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự. Trong trường hợp này để chứng minh pháp nhân thương mại không phải chịu trách nhiệm hình sự, Luật sư bào chữa phải chứng minh hành vi của pháp nhân thương mại xảy ra là do “Sự kiện bất ngờ” (quy định tại Điều 20 Bộ luật hình sự năm 2015) hoặc do “Tình thế cấp thiết”(quy định Điều 23 của Bộ luật hình sự năm 2015).(tìm hiểu thêm: dịch vụ giải thể doanh nghiệp)

Ví dụ:

Công ty K bị khởi tố, điều tra và truy tố về tội “vi phạm quy định về phòng ngừa sự cố môi trường” theo khoản 1 Điều 237 Bộ luạt hình sự năm 2015 vì đã để xảy ra sự cố vỡ đập chứa chất thải gây ô nhiễm nghiêm trọng môi trường sống của một số xã, phường trên địa bàn xung quanh và làm thiệt hại về tài sản của các hộ dân và các cơ quan, tổ chức đóng trên địa bàn 1.500.000.000 đồng. Quá trình nghiên cứu hồ sơ Luật sư thấy rằng trên thực tế Công ty này đã thực hiện đầy đủ các quy định của Nhà nước về phòng ngừa, ứng phó, khắc phục sự cố môi trường như: Đã lập kế hoạch phòng ngừa và ứng phó sự cố môi trường, lắp đặt các trang bị, thiết bị, dụng cụ, phương tiện để kịp thời ứng phó với sự cố vỡ đập chứa chất thải; đã tổ chức đào tạo, huấn luyện và xây dựng lực lượng tại chỗ để ứng phó, nếu xảy ra sự cố môi trường. Nguyên nhân chính dẫn đến sự cố vỡ đập chứa chất thải gây ô nhiễm nghiêm trọng môi trường và gây thiệt hại về tài sản là do mưa lũ quá lớn bất thường do ảnh hưởng của cơn bão số 5 gây ra chứ không phải do lỗi của Công ty K. Đây là sự kiện bất ngờ”, là sự kiện bất khả kháng đối với con người. Vì vậy, Công ty K không phải chịu trách nhiệm hình sự về vỡ đập chứa chất thải.

0 bình luận, đánh giá về Luật sư bào chữa đối với pháp nhân thương mại phạm tội

TVQuản trị viênQuản trị viên

Xin chào quý khách. Quý khách hãy để lại bình luận, chúng tôi sẽ phản hồi sớm

Trả lời.
Thông tin người gửi
Bình luận
Nhấn vào đây để đánh giá
Thông tin người gửi
Tổng đài tư vấn: 024-66 527 527
Giờ làm việc: Thứ 2 - Thứ 7: 8h30 - 18h00
0.05932 sec| 922.648 kb