Kỹ năng của luật sư: thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ trong vụ án hành chính

"Nếu bạn cho rằng bạn không thể trở thành một Luật sư tử tế, hãy chọn làm Người tử tế, đừng làm Luật sư".

Abraham Lincoln, Tổng thống thứ 16 của Mỹ

Kỹ năng của luật sư: thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ trong vụ án hành chính

Luật sư khi tham gia giải quyết vụ án hành chính có thể với tư cách là người đại diện theo ủy quyền hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các đương sự.

Dù tham gia với với tư cách nào thì Luật sư luôn có quyền và nghĩa vụ tiến hành tất cả các biện pháp mà pháp luật không cấm để tìm ra chứng cứ.

Chỉ khi có đủ chứng cứ, Luật sư mới có thể bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, thực hiện tốt chức năng trợ giúp cho các đương sự trong việc chứng minh quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án.

Liên hệ

I- LUẬT SƯ XÁC ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CẦN CHỨNG MINH TRONG VỤ ÁN HÀNH CHÍNH

Luật tố tụng hành chính quy định người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự có quyền và nghĩa vụ thu thập chứng cứ như sau: "thu thập tài liệu, chứng cứ và cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án, nghiên cứu hồ sơ vụ án và được ghi chép, sao chụp những tài liệu cần thiết có trong hồ sơ vụ án để thực hiện việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự" (Điểm b Khoản 6 Điều 61).

Để thu thập tài liệu, chứng cứ, Luật sư cần phải xác định vấn đề cần chứng minh của vụ án hành chính. Mỗi vụ án hành chính khác nhau thì các vấn đề chứng minh khác nhau. Trước khi xác định vấn đề cần chứng minh của vụ án hành chính, Luật sư cần xem xét trong vụ án đó đâu là những tình tiết không phải chứng minh.

Theo quy định của Luật tố tụng hành chính những tình tiết, sự kiện sau đây không phải chứng minh:

- Những tình tiết, sự kiện rõ ràng mà mọi người đều biết và được Tòa án thừa nhận;

- Những tình tiết, sự kiện đã được xác định trong bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật;

- Những tình tiết, sự kiện đã được ghi trong văn bản và được công chứng, chứng thực hợp pháp;

- Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đưa ra tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản không phải chứng minh;

- Đương sự có người đại diện tham gia tố tụng thì sự thừa nhận hoặc không phản đối của người đại diện được coi là sự thừa nhận của đương sự nếu không vượt quá phạm vi đại diện.

Loại trừ những tình tiết trên thì các tình tiết, sự kiện khác có liên quan đến đối tượng của vụ án đều phải chứng minh trước Tòa án.

Ở phạm vi khái quát nhất, vấn đề cần chứng minh của một vụ án hành chính bao gồm:

- Tính hợp pháp, tính có căn cứ của yêu cầu khởi kiện;

- Tính hợp pháp, tính có căn cứ của đối tượng khiếu kiện (quyết định hành chính, hành vi hành chính hoặc một số đối tượng khiếu kiện khác theo quy định của Luật tố tụng hành chính);

- Vấn đề bồi thường phát sinh từ việc thực hiện quyết định hành chính, hành vi hành chính (thiệt hại về vật chất và tinh thần) và các vấn đề khác liên quan.

Ví dụ:

Ông Nguyễn Văn A khởi kiện yêu cầu hủy Quyết định số 975/QĐ-UB của Ủy ban nhân dân huyện  về việc thu hồi 650m2 đất nông nghiệp của ông Nguyễn Minh N. Khi ông A khởi kiện đúng Tòa án có thẩm quyền, ông A phải chứng minh về quyền khởi kiện đối với Quyết định số 975/QĐ-UB, tức là chứng minh có quyền và lợi ích bị xâm phạm trực tiếp từ Quyết định thu hồi đất số 975/QĐ-UB thu hồi đất đối với ông N. Để chứng minh về quyền khởi kiện của mình, ông A phải có tài liệu, chứng cứ chứng minh trước Tòa án. Nếu đơn khởi kiện của ông A được thụ lý, Tòa án có thể bắt đầu xem xét yêu cầu khởi kiện về mặt nội dung. Vì vậy, vấn đề tính hợp pháp về hình thức và nội dung của Quyết định thu hồi đất số 975/QĐ-UB của Ủy ban nhân dân huyện là vấn đề cần chứng minh tiếp theo của vụ án.

Ông A phải chứng minh về tính bất hợp pháp của Quyết định thu hồi đất số 975/QĐ-UB. Để chứng minh cho các căn cứ nêu trên, ông A phải đưa ra các tình tiết, sự kiện hoặc viện dẫn các quy định của pháp luật đất đai về căn cứ thu hồi đất là không hợp pháp, diện tích đất bị thu hồi không đúng với thực trạng sử dụng đất trên cơ sở xuất trình tài liệu, chứng cứ đã thu thập được cho Tòa án.

Ủy ban nhân dân huyện  phải chứng minh về tính hợp pháp cả về hình thức và nội dung của Quyết định thu hồi đất số 975/QĐ-UB.

Tòa án đánh giá chứng cứ của các bên đương sự dựa trên hệ thống pháp luật nội dung. Do đối tượng khiếu kiện là quyết định thu hồi đất nên Luật Đất đai với các quy định liên quan đến thẩm quyền; trình tự, thủ tục cũng như lý do thu hồi đất là căn cứ pháp lý để kết luận về tính hợp pháp của Quyết định số 975/QĐ-UB.

Tính hợp pháp của quyết định hành chính, hành vi hành chính được đánh giá bởi các yêu cầu sau:

1- Hợp pháp về thẩm quyền

Tính hợp pháp về thẩm quyền cần phải làm rõ để trả lời cho các câu hỏi như: Ai ban hành? ban hành như thế nào? bằng hình thức nào?

Thẩm quyền ban hành các quyết định hành chính thuộc về cơ quan nhà nước hoặc người có thẩm quyền trong các cơ quan nhà nước. Ví dụ, trong xử phạt vi phạm hành chính, việc ban hành các quyết định xử phạt luôn thuộc về các chức danh được liệt kê tù’ Điều 38 đến Điều 51 Luật XLVPHC năm 2012; thẩm quyền xử phạt của các chức danh được phân định theo từng ngành, từng lĩnh vực quản lý nhà nước. Trong lĩnh vực đât đai, có loại quyết định thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân, có loại quyết định thuộc thẩm quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân.

Vì vậy, tính hợp pháp về thẩm quyền cần được đánh giá ở các nội dung như:

- Thẩm quyền theo lĩnh vực: phân biệt thẩm quyền giữa hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước với nhau. Ví dụ, thẩm quyền xử phạt trong lĩnh vực đất đai và thẩm quyền xử phạt trong lĩnh vực thuê...

- Thẩm quyền theo lãnh thổ: Thẩm quyền của các cơ quan nhà nước trong phạm vi địa lý xác định. Ví dụ, thẩm quyền xử phạt của Chi cục trưởng Chi cục thuế huyện T với thẩm quyền của Chi cục trưởng Chi cục thuế huyện H...

- Thẩm quyền theo ủy quyền hoặc giao quyền: Trong một số trường hợp người có thẩm quyền ban hành quyết định hành chính có thể giao quyền cho cấp phó ban hành quyết định thay mình và nhân danh mình. Hoặc thẩm quyền ban hành của cơ quan nhà nước có thể ủy quyền cho một cơ quan nhà nước khác thực hiện. Việc ủy quyền ban hành văn bản hành chính của cơ quan nhà nước hoặc của người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước chỉ được thực hiện khi có quy định của pháp luật.

Ví dụ:

Khoản 1 Điều 105 Luật Đất đai năm 2013 quy định: Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được ủy quyền cho cơ quan tài nguyên và môi trường cung cấp cấp giấy chứng nhận.

2- Hợp pháp về thủ tục

quyết định hành chính phải tuân thủ các trình tự, thủ tục chung do pháp luật quy định. Yêu câu vê thủ tục khi ban hành một quyết định hành chính nói chung gồm các nội dung như: thủ tục hồ sơ, giấy tờ; trình tự các bước; thời hiệu; thời hạn; phí, lệ phí...

Ví dụ:

Quyết định xử phạt phải bảo đảm các yêu cầu chung về thủ tục như: thủ tục đình chỉ vi phạm hành chính; thủ tục khám, tạm giữ phương tiện, đồ vật vi phạm hành chính; thủ tục lập biên bản vi phạm hành chính; xác minh sự việc; xác định giá trị tang vật; thủ tục giải trình; thủ tục công bố công khai quyết định xử phạt vi phạm hành chính.

Ngoài yêu cầu hợp pháp về thủ tục chung, khi ban hành quyết định hành chính cần chú ý không được vi phạm những thủ tục cụ thể theo quy định của các văn bản pháp luật chuyên ngành. Ví dụ, các thủ tục quy định trong Luật Quản lý thuế khi ban hành quyết định hành chính về thuế hoặc xử phạt vi phạm hành chính về thuế.

3- Hợp pháp về nội dung

- Yêu cầu hợp pháp về căn cứ pháp lý áp dụng của quyết định hành chính: Việc áp dụng các quy định của pháp luật khi ban hành quyết định hành chính phải bảo đảm nguyên tắc pháp chế, quyết định hành chính không được căn cứ vào một quy phạm pháp luật đã hết hiệu lực hoặc quy phạm pháp luật đó nhằm áp dụng vào những tình huống khác; không được áp dụng tuỳ tiện.

Ví dụ:

Khi ban hành quyết định xử phạt, để đánh giá về hành vi vi phạm xây dựng trên đất không hợp pháp (đất lấn, chiếm) người có thẩm quyền xử phạt đã áp dụng cả nghị định xử phạt trong lĩnh vực đất đai và nghị định xử phạt trong hoạt động xây dựng, hoặc có người áp dụng chỉ một trong hai nghị định đó.

- Yêu cầu hợp pháp về căn cứ thực tế: các tình tiết thực tế phải bảo đảm tính chính xác, khách quan. Khi áp dụng các biện pháp hành chính trong nội dung của một quyết định phải phù hợp, có tính khả thi, không vượt quyền, lạm quyền pháp luật quy định.

Ví dụ:

- Thẩm quyền xử phạt của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã không vượt quá 5 triệu đồng đối với hành vi vi phạm của cá nhân. Thẩm quyền này căn cứ mức tối đa của khung tiền phạt quy định đối với từng hành vi vi phạm cụ thể. Vì vậy, khi xử phạt về hành vi lấn, chiếm đất mà hành vi đó quy định khung tiền phạt là từ 5 triệu đồng đến 10 triệu đồng, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã đã áp dụng với mức tiền phạt 5 triệu đồng - mức tối thiểu của khung phạt - là trường hợp vượt thẩm quyền theo quy định của pháp luật.

- Trong vụ án hành chính, người khởi kiện khẳng định đã có hành vi cưỡng chế phá dỡ công trình xây dựng của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã A và trước khi tiến hành cưỡng chế không lập biên bản vi phạm hành chính, không ban hành quyết định xử phạt; việc tổ chức cưỡng chế không có mặt người vi phạm. Khi khẳng định về hành vi cưỡng chế của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã A như nêu trên, người khởi kiện phải có trách nhiệm chứng minh sự khẳng định đó. Người bị kiện có thể đưa ra quan điểm cho rằng thực tế không có việc cưỡng chế nào của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã A, hoặc có thể khẳng định việc cưỡng chế đó đã diễn ra hoàn toàn khác với những điều mà người khởi kiện đã khẳng định.

Như vậy, để đánh giá tính hợp pháp của đối tượng khiếu kiện hành chính thì phải dựa vào các quy định của pháp luật nội dung trong từng lĩnh vực quản lý nhà nước được áp dụng để ban hành quyết định hành chính, hay thực hiện hành vi hành chính. Trên cơ sở đánh giá về tính hợp pháp của quyết định hành chính, hành vi hành chính theo quy định của pháp luật nội dung, Luật sư mới có thể xác định được các căn cứ để đưa ra yêu cầu khởi kiện hoặc phản đối yêu cầu khởi kiện. Từ đó, mới xác định được những tình tiết, sự kiện nào cần phải chứng minh và tài liệu, chứng cứ nào cần phải có để chứng minh cho tình tiết, sự kiện đó. Tài liệu, chứng cứ đó hiện đang ở đâu? Thu thập chúng bằng những biện pháp nào?

Xem thêm: Dịch vụ pháp lý trong lĩnh vực hành chính của Công ty Luật TNHH Everest

II- LUẬT SƯ ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP THU THẬP TÀI LIỆU, CHỨNG CỨ THEO QUY ĐỊNH CỦA LUẬT TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH

Trước khi thực hiện các biện pháp thu thập chứng cứ của mình, Luật sư cần phải kiểm tra lại các tài liệu, chứng cứ do khách hàng cung cấp. Việc làm này sẽ giúp cho Luật sư phát hiện được những tài liệu còn thiếu cần phải tiếp tục tiến hành thu thập.

Trên cơ sở phân tích các vấn đề cần chứng minh của vụ việc, Luật sư áp dụng các biện pháp thu thập chứng cứ quy định tại Khoản 1 Điều 84 Luật tố tụng hành chính để tìm ra các tài liệu, chứng cứ. Các biện pháp thu thập chứng cứ Luật sư được áp dụng gồm:

1- Luật sư thu thập tài liệu

Tài liệu được hiểu là bất cứ tài liệu bằng văn bản nào được ghi trên giấy hoặc các phương tiện điện tử, bằng tiếng hoặc băng hình hoặc bất kỳ phương tiện cơ học hay điện tử nào có thể tích trữ hoặc ghi lại thông tin (tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được; thông điệp dữ liệu điện tử).

Tài liệu có thể là hợp đồng văn bản, thư điện tử; hoá đơn; các ghi chép bằng văn bản như sổ kế toán, thông báo; tài liệu trong quá trình kiểm tra, thanh tra hoặc xử lý; hồ sơ, giấy tờ liên quan đến một thủ tục hành chính cụ thể...

Thông thường, các tài liệu đó đã có sẵn đối với mỗi bên đương sự của vụ án. Các tài liệu ban đầu đối với mỗi vụ án mà mỗi bên đưa ra dùng làm căn cứ để biện hộ cho yêu cầu của mình trước Tòa án có thê rất khác nhau, phụ thuộc vào vấn đề và tính chất phức tạp của vấn đề.

Tài liệu thu thập được phải là văn bản gốc.

Ví dụ: Trong vụ án ông A khiếu kiện hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà B, lý do ông A đưa ra yêu cầu hủy giấy chứng nhận gồm hai căn cứ như sau:

- Nguồn gốc đất đã cấp giấy chứng nhận cho bà B là của bố mẹ ông A và bà B;

- Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà B khi đất đang có tranh chấp giữa ông A với bà B.

Để đưa ra được hai căn cứ trên đương nhiên ông A và Luật sư của ông A phải có tài liệu ban đầu chứng minh về nguồn gốc đất là của bố mẹ ông A và bà B. Tài liệu chứng minh về nguồn gốc đất có thể là một trong các giấy tờ được liệt kê tại Điều 100 Luật Đất đai năm 2013 hoặc các giấy tờ khác được xác lập trước ngày 15/10/1993 quy định tại Điều 18 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai.

Đồng thời phải có tài liệu chứng minh trước hoặc tại thời điểm khi bà B làm thủ tục để được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì giữa ông A và bà B đã phát sinh tranh chấp.

Với tình huống trên cho thấy, nếu ông A - khách hàng của Luật sư không có săn hai tài liệu về các căn cứ trên thì Luật sư phải tiến hành thu thập chúng.

2- Luật sư thu thập vật chứng

Vật chứng là vật được dùng làm công cụ, phương tiện hoặc vật mang dấu vết của vụ việc; vật là đối tượng có giá trị chứng minh về hành vi của người trong vụ án. Vật chứng thu được phải là hiện vật gốc. Vật chứng cần phải được niêm phong thi phải niêm phong ngay sau khi thu thập và phải được lập biên bản, đưa vào hồ sơ vụ án cũng như bảo quản nguyên vẹn đúng quy định của pháp luật tố tụng hành chính.

Ví dụ: Bao gói sản phẩm một loại hàng hoá bị thu giữ dùng làm vật chứng trong vụ vi phạm nhãn hiệu hàng hoá khi tiên hành xử lý vi phạm hành chính về quyền sở hữu công nghiệp.

3- Luật sư xác định người làm chứng và lấy xác nhận của người làm chứng

Trong tố tụng hành chính, tài liệu chứa đựng chứng cứ chiếm ưu thế hơn là việc thiết lập các sự kiện thông qua người làm chứng - người biết được những tình tiết liên quan đến vụ án. Tuy nhiên, đây không phải là biện pháp thu thập chứng cứ hiếm gặp đối với Luật sư trong giải quyết vụ án hành chính, bởi những sự kiện do các bên đưa ra luôn bị bên đương sự kia phủ nhận. Ví dụ, người khởi kiện khẳng định khi người có thẩm quyền tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính tại khu N vào lúc 18 giờ về hành vi vận chuyển gỗ trái phép, người khởi kiện không có mặt tại đó nên không ký vào biên bản vi phạm hành chính. Những sự kiện do người khởi kiện trình bày như trên không được bên bị kiện thừa nhận. Đe chứng minh cho việc ngoại phạm của mình, người khởi kiện có thể xác định người làm chứng trong thời gian đó họ đang có mặt tại một địa điểm khác. Phía bị kiện cũng có thể xác định người làm chứng cho những lời khai mà bên mình dựa vào để khẳng định sự có mặt của người khởi kiện.

Vì vậy, khi xác định người làm chứng, Luật sư cần chú ý: chứng cứ do người làm chứng thường ít được tin tưởng hơn, bởi người làm chứng đôi khi không trung thực, có thể có chủ ý hoặc vô tình đưa ra thông tin, lời chứng thiên vị hoặc do nhận thức mà đưa ra những thông tin không chính xác.

Cũng có trường hợp người làm chứng đưa ra chứng cứ một cách khách quan nhưng đôi khi có thể bị suy luận từ mối quan hệ của họ với bên đương sự mà họ đứng về bên đó. Thực tế cho thấy, người làm chứng có thể là người có mối quan hệ họ hàng, thân thích với bên đương sự hoặc có quan hệ lệ thuộc với bên đương sự như lãnh đạo phòng, ban hoặc công chức của cơ quan, tổ chức đó. Những người làm chứng này có thể bị Luật sư bên đối phương phủ nhận trước Tòa rằng lời khai của họ có thê thiên vị, không vô tư khách quan và trong thực tế cũng đã xảy ra hiện tượng “mua” nhân chứng.

Ngoài việc xác định người làm chứng, Luật sư còn có thể lấy bản khai của người làm chứng. Bản khai phải:

- Ghi đầy đủ họ tên, địa chỉ; mối quan hệ hiện nay và trước kia (nếu có).

- Ghi cụ thể về tiểu sử, bằng cấp, trình độ và kinh nghiệm của người làm chứng nếu như miêu tả như vậy có liên quan và cần thiết cho việc giải quyết vụ án hay nội dung của bản khai.

- Miêu tả chi tiết, đầy đủ các sự kiện và nguồn thông tin của người làm chứng đối với sự kiện đó đủ để coi là bằng chứng của người làm chứng trong vụ án. Khẳng định tính trung thực của lời khai.

- Chữ ký của người làm chứng, ngày, địa điểm ký và có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã.

Văn bản xác nhận của người làm chúng có thể được Tòa án yêu cầu mỗi bên Luật sư trong khoảng thời gian nhất định nộp lại cho Tòa án.

4- Yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu, chứng cứ

Đây là một trong những biện pháp thu thập chứng cứ mà Luật sư có thể sử dụng để thu thập tài liệu từ một người hay một tổ chức không phải là một bên trong tố tụng tại Tòa án. Khi thực hiện biện pháp này, Luật sư có thể thực hiện bất kỳ hoạt động nào hợp pháp để lấy được tài liệu trong khoảng thời gian Tòa án yêu cầu. Cụ thể, Luật sư phải phát hiện và làm văn bản yêu cầu cung cấp tài liệu cần được thu thập dạng thuộc sở hữu, kiểm soát của một người hay tổ chức.

Nội dung của văn bản yêu cầu cung cấp tài liệu hoặc các tài liệu phải được miêu tả chi tiết, trong đó nêu rõ tại sao tài liệu này có liên quan và cần thiết đối với kết quả của vụ kiện. Sự mô tả chi tiết, đầy đủ tài liệu cần cung cấp sẽ làm cho việc nhận dạng tài liệu trở nên dễ dàng hơn .Ngoài ra, văn bản yêu cầu cùng phải trình bày lý do tại sao Luật sư lại cho rằng tài liệu đó đang thuộc sở hữu của người hay tổ chức đó, đồng thời yêu cầu bên cung cấp nêu rõ lý do sự phản đối về một số hoặc tất cả các tài liệu được yêu cầu và thời hạn chính xác sẽ chấp thuận yêu cầu đó. Văn bản yêu cầu cung cấp tài liệu sẽ giúp cho Luật sư dùng làm căn cứ để tiếp tục yêu cầu Tòa án thực hiện biện pháp thu thập chứng cứ này trong trường hợp Luật sư tự mình thực hiện nhưng phía cá nhân, tổ chức, cơ quan đó từ chối không cung cấp.

5- Luật sư yêu cầu giám định

Giám định là một biện pháp thu thập chứng cứ khá thông dụng, được áp dụng theo một thủ tục chặt chẽ để hỗ trợ Luật sư và Tòa án phát hiện các tình tiết có liên quan đến chuyên môn khi cần quyết định một vấn đề cụ thể. Đây là trường hợp khi một thông tin cụ thể như các chứng cử có liên quan đến đo đạc, kỹ thuật, kế toán... hoặc chứng cứ khoa học cần thiết để làm rõ những vấn đề kỹ thuật cao liên quan của vụ án.

Theo quy định của Luật Giám định tư pháp năm 2012, đương sự trong vụ việc dân sự, vụ án hành chính, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ưong vụ án hình sự hoặc người đại diện hợp pháp của họ có quyền tự mình yêu cầu giám định sau khi đã đề nghị cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trưng cầu giám định mà không được chấp nhận.

Luật sư và đương sự trong vụ án hành chính (người yêu cầu giám định) có quyền gửi văn bản yêu cầu Tòa án trưng cầu giám định. Trường hợp Tòa án không chấp nhận yêu cầu thì trong thời hạn 07 ngày phải thông báo cho Luật sư bằng văn bản. Hết thời hạn nói trên hoặc kể từ ngày nhận được thông báo từ chối trưng cầu giám định, Luật sư có quyền tự mình yêu cầu giám định.

Luật sư - người yêu cầu giám định có quyền: yêu cầu cá nhân, tổ chức thực hiện giám định tư pháp trả kết luận giám định, triệu tập người giám định tư pháp đã thực hiện giám định tham gia phiên tòa để giải thích, trình bày về kết luận giám định; yêu cầu cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trưng cầu giám định lại; yêu cầu giám định bổ sung theo quy định của Luật Giám định tư pháp năm 2012.

Khi tiến hành yêu cầu giám định, Luật sư có nghĩa vụ cung cấp thông tin, tài liệu có liên quan đến đối tượng giám định theo yêu cầu của mình và chịu trách nhiệm về tính chính xác của thông tin, tài liệu do mình cung cấp; nộp tạm ứng chi phí giám định tư pháp khi yêu cầu giám định; thanh toán kịp thời, đầy đủ chi phí giám định cho cá nhân, tổ chức thực hiện giám định khi nhận kết luận giám định.

Luật sư yêu cầu giám định chỉ được thực hiện quyền tự yêu cầu giám định trước khi Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm.

Luật sư phải gửi văn bản yêu cầu giám định kèm theo đối tượng giám định, các tài liệu, đồ vật có liên quan (nếu có) và bản sao giấy tờ chứng minh đương sự trong vụ án hành chính đến cá nhân, tổ chức thực hiện giám định. Văn bản yêu cầu giám định tư pháp phải có các nội dung sau đây:

- Tên tổ chức hoặc họ, tên người yêu cầu giám định;

- Nội dung yêu cầu giám định;

- Tên và đặc điểm của đối tượng giám định;

- Tên tài liệu có liên quan hoặc mẫu so sánh gửi kèm theo (nếu có);

- Ngày, tháng, năm yêu cầu giám định và thời hạn của kết luận giám định;

- Chữ ký, họ, tên người yêu cầu giám định.

Văn bản yêu cầu giám định và các tài liệu có thể được Luật sư giao trực tiếp hoặc gửi qua đường bưu điện.

Trong trường hợp nội dung kết luận giám định chưa rõ, chưa đầy đủ hoặc khi phát sinh vấn đề mới liên quan đến tình tiết của vụ án đã được kết luận giám định trước đó thì Luật sư có quyền yêu cầu giám định bổ sung. Việc yêu cầu giám định bổ sung được thực hiện như giám định lần đầu.

Việc giám định lại được thực hiện trong trường hợp có căn cứ cho rằng kết luận giám định lần đầu không chính xác, có vi phạm pháp luật hoặc trong trường hợp đặc biệt theo quyết định của Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân tối cao. Chánh án Tòa án nhân dân tối cao theo quy định của Luật Giám định tư pháp. Luật sư tự mình hoặc đề nghị Tòa án quyết định việc trưng cầu giám định lại. Trường hợp Tòa án không chấp nhận yêu cầu giám định lại thì phải thông báo cho Luật sư bằng văn bản và phải nêu rõ lý do.

III- LUẬT SƯ GIAO NỘP, TRAO ĐỔI TÀI LIỆU, CHỨNG CỨ CHO TÒA ÁN, CÁC ĐƯƠNG SỰ KHÁC 

Về nguyên tắc, mỗi bên đương sự sẽ phải xuất trình cho Tòa án những tài liệu hiện có sẵn và những tài liệu mà họ cho răng là chứng cứ. Do vậy, để thực hiện nghĩa vụ này của khách hàng, Luật sư cần phải kiểm tra xem khách hàng đã có những tài liệu gì, giá trị chứng minh và tính hợp pháp của những tài liệu đó trước khi thực hiện nghĩa vụ giao nộp chứng cứ cho Tòa án.

Việc giao nộp tài liệu, chứng cứ ban đầu của Luật sư hoàn toàn phụ thuộc vào việc đưa ra yêu cầu cũng như các căn cứ phản đối về yêu cầu đó. Thời hạn của việc giao nộp tài liệu ban đầu theo quy định của Luật tố tụng hành chính được xác định từ khi Tòa án tiếp nhận đơn khởi kiện cho đến hết thời hạn thông báo thụ lý vụ án của Tòa án. Trong thời hạn đó, các bên phải trình bày sự việc để chứng minh về yêu cầu khởi kiện, về đối tượng của yêu cầu. Ngoài ra, phía người bị kiện còn phải giải trình các căn cứ do phía người khởi kiện đã nêu ra.

Luật tố tụng hành chính quy định về nghĩa vụ và các tài liệu các đương sự trong vụ án hành chính phải giao nộp như sau:

. Người khởi kiện có nghĩa vụ giao nộp bản sao đối tượng khiếu kiện như: quyết định hành chính hoặc quyết định ký buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, quyết định giải quyết khiếu nại trong hoạt động kiểm toán nhà nước, bản sao quyết định giải quyết khiếu nại ( nếu có), cung cấp các tài liệu , chứng cứ khác để bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của mình; trường hợp không cung cấp được thì phải nêu rõ lý do (khoản 1 Điều 78).

- Người bị kiện có nghĩa vụ giao nộp cho Tòa án bán sao các văn bản, tài liệu mà căn cứ vào đó để ra quyết định hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc, quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, quyết định giải quyết khiếu nại trong hoạt động kiểm toán nhà nước hoặc thực hiện hành vi hành chính; hồ sơ giải quyết khiếu nại, nếu có (Khoản 2 Điều 78).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có nghĩa vụ giao nộp chứng cứ để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình (Khoản 3 Điều 78)

Với đặc thù của vụ án hành chính, một số tài liệu được giao nộp cho Tòa án có thể phải nộp hai lần như một số tài liệu liên quan đến việc ban hành quyết định hành chính hoặc thực hiện hành vi hành chính mà các bên đương sự đều có nghĩa vụ cung cấp cho Tòa án, do vậy Luật sư của các bên có thể đối chứng, kiêm tra thống nhất với Tòa án nên chọn lọc một số tài liệu cần thiết và lập một bộ tài liệu để sử dụng.

Luật sư nên sắp xếp bộ tài liệu này theo thứ tự thời gian và chủ đề, mục lục, trong đó nêu ngắn gọn tên tài liệu, ngày, tháng, năm ban hành để các bên có thể dẫn chiếu.

Dựa trên tài liệu, chứng cứ ban đầu được các bên xuất trình cho Tòa án, Luật sư sẽ phải chuẩn bị thu thập tài liệu bổ sung để giao nộp theo yêu cầu của Tòa án. Đây là những tài liệu, chứng cứ cần thiết để bác bỏ các căn cứ xuất hiện trong quá trình giao nộp tài liệu ban đầu như: lời trình bày; lời khai, báo cáo của giám định viên hay các vấn đề cần được làm rõ từ các tài liệu khác của môi bên đã được giao nộp cho Toà Án.

Ví dụ: Chứng minh tính bất hợp pháp về thủ tục lập biên bản vi phạm hành chính, đương sự khẳng định rằng không có mặt và chữ ký trong biên bản là giả mạo. Luật sư cần phải có lời khai của người làm chứng hay kết quả báo cáo giám định của chuyên gia về chữ ký được xác định trên biên bản vi phạm hành chính đã xuất trình cho Tòa án.

Khi xuất trình tài liệu, Luật sư cần lập thành văn bản, trong văn bản phải miêu tả danh sách những tài liệu xuất trình một cách đầy đủ, chi tiết và nêu rõ nguồn gốc xuất xứ của tài liệu. Đồng thời, các tài liệu xuất trình phải bảo đảm tính pháp lý, nếu là bản photocopy được nộp thì bản này phải hoàn toàn giống với bản gốc và bản gốc có thể phải xuất trình để Tòa án kiểm tra bất kỳ khui nào nếu như một bên đương sự cho rằng bản sao tài liệu đó không hoàn toàn giống với bản gốc.

Các tài liệu xuất trình được giữ bí mật bởi Tòa án, các bên trong vụ án và chúng chỉ được sử dụng trong trường hợp có liên quan đến vụ án theo quy định của Luật tố tụng hành chính. Luật sư cần hiểu rằng bất kỳ tài liệu nào được xuất trình cũng tự động trở thành một phần của hồ sơ vụ án. Vì vậy, khi xuất trình tài liệu, Luật sư cần đánh giá sự liên quan và giá trị, sự cần thiết của những tài liệu đó, tránh việc xuất trình những tài liệu trùng lặp, vì nếu trùng lặp sẽ là gánh nặng về thời gian cũng như chi phí không cần thiết cho việc đánh giá các tài liệu đó, không chỉ đối với Luật sư mà cả với Tòa án.

Luật tố tụng hành chính quy định thời hạn giao nộp tài liệu, chứng cứ do Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án ấn định nhưng không được quá thời hạn chuẩn bị xét xử theo thủ tục sơ thẩm quy định tại Điều 130 Luật tố tụng hành chính năm 2015. Tuy nhiên, giới hạn cụ thể về thời điểm xuất trình chứng cứ bổ sung, tùy thuộc vào tính chất của vụ việc và khả năng cũng như điều kiện thu thập chứng cứ mà Luật sư có thể lựa chọn thời điểm cho thích hợp và có hiệu quả, tránh những chi phí không cần thiết. Ngoài ra, Luật sư cần lưu ý do xuất trình tài liệu, chứng cứ là nghĩa vụ chứng minh của khách hàng cũng như của Luật sư, nên khi có yêu cầu xuất trình tài liệu bổ sung của Tòa án, nếu Luật sư và đương sự không tuân thủ thì hậu quả là, Tòa án có thể suy luận nội dung của tài liệu đó ngược lại với quyền lợi của bên đương sự đó. Sự suy luận này cũng được áp dụng khi Luật sư bên đối lập không đưa ra một sự phản đối thích hợp đối với yêu cầu xuất trình tài liệu, chứng cứ trong thời hạn giới hạn được Tòa án quy định, nhưng không xuất trình tài liệu được yêu cầu.

Khi xuất trình tài liệu, chứng cứ, Luật sư không được đưa ra tài liệu, chứng cứ giả mạo.

Xem thêm: Dịch vụ luật sư thu hồi đất của Công ty Luật TNHH Everest

IV- LUẬT SƯ ĐỀ NGHỊ TÒA ÁN ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP THU THẬP TÀI LIỆU, CHỨNG CỨ

Trong trường hợp không thể tự mình thu thập được tài liệu, chứng cứ, Luật sư có quyền yêu cầu Tòa án áp dụng các biện pháp thu thập tài liệu, chứng cứ theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

Luật tố tụng hành chính quy định Thẩm phán có thể áp dụng tám biện pháp thu thập tài liệu, chứng cứ sau: lấy lời khai của đương sự, người làm chứng; đối chất; xem xét, thẩm định tại chỗ; trưng cầu giám định; định giá tài sản, ủy thác thu thập, xác minh tài liệu, chứng cứ; yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được hoặc hiện vật khác liên quan đến việc giải quyết vụ án; biện pháp khác theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

Đồng thời, Luật tố tụng hành chính cũng đã quy định đầy đủ hơn về căn cứ, thẩm quyền, trình tự, thủ tục thực hiện các biện pháp thu thập tài liệu, chứng cứ. Việc quy định chi tiết, rõ ràng, chặt chẽ, minh bạch thủ tục thực hiện các biện pháp thu thập tài liệu, chứng cứ tạo thuận lợi nhiều hơn cho Luật sư giám sát việc áp dụng các biện pháp này của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án hành chính, tránh được tình trạng tuỳ tiện, lạm quyền, vi phạm thủ tục trong hoạt động thu thập tài liệu, chứng cứ của Tòa án.

Luật sư có thể đề nghị Tòa án áp dụng các biện pháp thu thập chứng cứ bổ sung sau:

1- Đề nghị Tòa án triệu tập và lấy lời khai người làm chứng

Trong trường hợp Luật sư muốn xuất trình chứng cứ từ một người làm chứng không tự nguyện theo yêu cầu của mình trước Tòa án, thì Luật sư có thể yêu cầu Tòa án triệu tập người làm chứng để lấy lời khai. Hoặc Tòa án xét thấy cần thiết có thể tự mình triệu tập người làm chứng để lấy lời khai nhằm góp phần tìm ra sự thật của vụ án.

Tại Tòa án, người làm chứng có thể trình bày bằng miệng hoặc có thể trình bày bằng văn bản. Nội dung trình bày của người làm chứng, lời khai cam đoan của họ có thể được Tòa án dùng làm căn cứ giải quyết vụ án và kết quả của vụ án tuỳ thuộc ở sự chân thực của các lời khai đó.

Luật tố tụng hành chính đã quy định việc điều tra người làm chứng được tiến hành ra sao, đòi hỏi người làm chúng như thế nào, nghĩa vụ và cách thức khai báo, giá trị của biên bản... Tuy nhiên, để chuẩn bị cho việc trình bày tại Tòa án của người làm chứng, Luật sư cần phải có mối liên hệ trước với người làm chứng mà Luật sư đã đề xuất. Luật sư có thể thảo luận với người làm chứng về các sự kiện mà họ sẽ phải khai báo trước Tòa án. Phạm vi trao đổi có thể mở rộng các câu trả lời của các câu hỏi có thể được hỏi và phải dự kiến cả những câu hỏi hay trả lời của phía đương sự, Luật sư đối phương.

2- Đề nghị Tòa án tiến hành đối chất

Trong quá trình giải quyết vụ án, khi trình bày các sự kiện để chứng minh, bảo vệ cho quyền lợi của mình, các bên đương sự có thể đưa ra những tình tiết, sự kiện, lập luận khác nhau hoặc trường hợp lời khai của người làm chứng có thể bị phản đối bởi Luật sư đối phương, hoặc có mâu thuẫn với lời khai của đương sự và các nhân chứng khác, hoặc ý kiến chuyên gia. Trong trường hợp này, Luật sư có thể đề xuất Tòa án tiến hành đối chất và Tòa án có thể sử dụng biện pháp đối chất nhằm đặt câu hỏi cùng một lúc cho nhiều người làm chứng, chuyên gia, đương sự để tìm ra chân lý, sự thật khách quan của vụ án. Thủ tục đối chất phải được lập thành văn bản, có chữ ký hoặc điểm chỉ của những người tham gia đối chất và có thể thực hiện trước cũng như tại phiên xét xử.

3- Đề nghị Tòa án ra quyết định trưng cầu giám định

Tòa án có thẩm quyền ra quyết định trưng cầu giám định; yêu cầu cá nhân, tổ chức giám định trả kết luận giám định đúng nội dung và thời hạn đã yêu cầu; yêu cầu cá nhân, tổ chức đã thực hiện giám định tư pháp giải thích kết luận giám định của mình.

Tòa án trưng cầu giám định có nghĩa vụ lựa chọn tổ chức hoặc cá nhân thực hiện giám định phù hợp với tính chất, yêu cầu của vụ việc cần giám định; ra quyết định trưng cầu giám định bằng văn bản; cung cấp thông tin, tài liệu có liên quan đến đối tượng giám định theo yêu cầu của cá nhân, tổ chức thực hiện giám định tư pháp; tạm ứng chi phí giám định tư pháp khi trưng cầu giám định; thanh toán kịp thời, đầy đủ chi phí giám định cho cá nhân, tổ chức thực hiện giám định khi nhận kết luận giám định.

Quyết định trưng cầu giám định của Tòa án phải có các nội dung sau đây: Tên cơ quan Tòa án trưng cầu giám định; họ, tên người có thẩm quyền trưng cầu giám định; tên tổ chức; họ, tên người được trưng cầu giám định; tên và đặc điểm của đối tượng cần giám định; tên tài liệu có liên quan hoặc mẫu so sánh gửi kèm theo (nếu có); nội dung yêu cầu giám định; ngày, tháng, năm trung câu giám định và thời hạn trả kết luận giám định.

Trường hợp trưng cầu giám định bổ sung hoặc giám định lại thì quyết định trưng cầu giám định phải ghi rõ là trưng cầu giám định bổ sung hoặc trưng cầu giám định lại. Tòa án phải bảo đảm an toàn cho người giám định trong quá trình thực hiện giám định hoặc khi tham gia tố tụng với tư cách là người giám định tư pháp.

Kết luận giám định tư pháp là nhận xét, đánh giá bằng văn bản của người giám định tư pháp về đối tượng giám định theo nội dung trưng cầu, giám định. Kết luận giám định tư pháp phải có các nội dung sau đây: Họ, tên người thực hiện giám định; tổ chức thực hiện giám định; tên cơ quan Tòa án; họ, tên người tiến hành tố tụng trưng cầu giám định; số văn bản trưng cầu giám định hoặc họ, tên người yêu cầu giám định; thông tin xác định đối tượng giám định; thời gian nhận văn bản trưng cầu, yêu cầu giám định; nội dung yêu cầu giám định; phương pháp thực hiện giám định; kết luận về đối tượng giám định; thời gian, địa điểm thực hiện, hoàn thành việc giám định (Khoản 1 Điều 32 Luật Giám định tư pháp năm 2012).

4- Đề nghị Tòa án xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản

Luật sư và các bên đương sự có thể trình bày về các vấn đề có liên quan đến địa điểm, công trình xây dựng (vị trí kiến trúc, đo đạc diện tích), tài sản, máy móc hay bất kỳ hàng hoá, hay quá trình thực hiện, tài liệu... Việc trình bày này có khi chưa đủ để Tòa án và Luật sư đối phương hiểu rõ tường tận về các vấn đề trên nên có thể theo yêu cầu của một bên Luật sư hoặc do Tòa án quyết định để đến tận nơi xem xét. Sau khi thống nhất với đương sự và Luật sư của hai bên, Tòa án sẽ quyết định thời gian và sắp xếp việc thẩm định tại chỗ.

Luật sư và đương sự phải có mặt vào thời gian (ngày, giờ), địa điểm Tòa án tiến hành thẩm định tại chỗ, bởi Tòa án tới nơi cần thẩm định không chỉ để xem xét mà còn nghe các bên Luật sư và đương sự giải trình, chứng kiến cuộc điều tra của mình.

Việc điều tra tại chỗ sẽ được lập thành biên bản có đủ chữ ký của Tòa án và các bên đương sự cũng như Luật sư. Kết quả thẩm định tại chỗ sẽ giúp cho Luật sư và Tòa án đưa ra quyết định đúng đắn của mình.

Trong trường hợp cần tiến hành xác định giá trị tài sản theo ý kiến của chuyên gia tài chính, của Hội đồng định giá, Luật sư có thể yêu cầu Tòa án thẩm định lại giá hoặc tiến hành định giá tài sản liên quan trong vụ án.

5- Đề nghị Tòa án ủy thác thu thập, xác minh tài liệu, chứng cứ

Là một biện pháp thu thập chứng cứ thuộc thẩm quyền của Tòa án. Tòa án có thể ra quyết định ủy thác để Tòa án khác hoặc cơ quan có thẩm quyền Việt Nam ở nước ngoài, hoặc các cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài theo điều ước quốc tế mà nước đó và Việt Nam là thành viên có quy định về vấn đề này hoặc thực hiện trên nguyên tắc có đi có lại nhưng không trái với pháp luật Việt Nam, phù hợp với pháp luật và tập quán quốc tế để lấy lời khai của đương sự, của người làm chứng, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản hoặc các biện pháp khác để thu thập tài liệu, chứng cứ, xác minh các tình tiết của vụ án hành chính. Quyết định ủy thác phải ghi rõ tên, địa chỉ của người khởi kiện, người bị kiện và những công việc cụ thể ủy thác để thu thập tài liệu, chứng cứ.

Tòa án nhận được quyết định ủy thác có trách nhiệm thực hiện công việc cụ thể được ủy thác trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được quyết định ủy thác và thông báo kết quả bằng văn bản cho Tòa án đã ra quyết định ủy thác; trường hợp không thực hiện được việc ủy thác thì phải thông báo bằng văn bản cho Tòa án đã ra quyết định ủy thác và nêu rõ lý do.

6- Đề nghị Tòa án yêu cầu cá nhân, tổ chức, cơ quan cung cấp tài liệu, chứng cứ

Trong trường hợp đương sự, Luật sư đã áp dụng các biện pháp cần thiết để thu thập tài liệu, chứng cứ mà vẫn không thể tự mình thu thập được thì có thể yêu cầu Tòa án tiến hành thu thập tài liệu, chứng cứ nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ án hành chính.

Đương sự, Luật sư yêu cầu Tòa án tiến hành thu thập tài liệu, chứng cứ phải làm đơn ghi rõ vấn đề cần chứng minh; chứng cứ cần thu thập; lý do vì sao tự mình không thu thập được; họ, tên, địa chỉ của cá nhân, tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức đang quản lý, lưu giữ tài liệu, chứng cứ cần thu thập.

Tòa án có thể yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức đang quản lý, lưu giữ cung cấp cho mình tài liệu, chứng cứ của vụ án.

Cá nhân, cơ quan, tổ chức đang quản lý, lưu giữ tài liệu, chứng cứ có trách nhiệm cung cấp đầy đủ, kịp thời tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu; trường hợp hết thời hạn này mà không cung cấp đầy đủ tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án thì cơ quan, tổ chức, cá nhân được yêu cầu phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do cho Tòa án. Trường hợp không cung cấp đầy đủ, kịp thời tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án thì tùy theo mức độ vi phạm có thể bị xử lý theo quy định của pháp luật.

Xem thêm: Dịch vụ luật sư giải quyết tranh chấp nhà đất (luật sư đất đai) của Công ty Luật TNHH Everest

V- LUẬT SƯ TIẾN HÀNH SAO CHÉP, SAO CHỤP, TRAO ĐỔI TÀI LIỆU, CHỨNG CỨ CỦA TÒA ÁN, CỦA ĐƯƠNG SỰ KHÁC

Trong vụ án hành chính, cơ hội để thu được và sau đó xuât trinh tài liệu, chứng cứ cần thiết giữa các bên đương sự không cân bằng. Người bị kiện trong vụ án hành chính luôn là cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước. Họ là bên đương sự nắm quyền lưu giữ các tài liệu được xác lập trong hoạt động quản lý và trở thành một phần của hồ sơ vụ án hành chính, có nhiều điều kiện hơn để thu thập và xuất trình tài liệu, chứng cứ cho Tòa án. Do vậy, ngoài các tài liệu có săn của khách hàng, Luật sư cần phải thu thập thêm các tài liệu khác, trong đó có tài liệu thuộc sở hữu của bên đương sự đối phương đã được giao nộp cho Tòa án cũng như tài liệu do chính Tòa án tiến hành thu thập.

Luật tố tụng hành chính quy định Luật sư có quyền được biết, ghi chép, sao chụp, trao đổi tài liệu, chứng cứ do đương sự khác giao nộp cho Tòa án, hoặc do Tòa án thu thập được, trừ tài liệu, chứng cứ có nội dung liên quan đến bí mật nhà nước, thuần phong mỹ tục của dân tộc, bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật cá nhân theo yêu cầu chính đáng của đương sự.

Điều 98 Luật tố tụng hành chính năm 2015 quy định quyền tiếp cận, trao đổi tài liệu, chứng cứ. Cụ thể, khi giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án trong thời hạn 05 ngày làm việc, Luật sư của các bên đương sự phải thực hiện việc thông báo cho đương sự, Luật sư bên khác biết về việc đã giao nộp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án để họ liên hệ với Tòa án thực hiện quyền tiếp cận tài liệu, chứng cứ.

Trong thời hạn 05 ngày làm việc kế từ ngày Tòa án thu thập được tài liệu, chứng cứ thì Tòa án phải thông báo cho Luật sư, đương sự trong vụ án biết để Luật sư thực hiện quyền tiếp cận tài liệu, chứng cứ. Mọi chứng cứ, tài liệu phải được công bố và sử dụng công khai như nhau.

Quy định này nhằm cung cấp cho mỗi bên cơ hội thu được những chứng cứ cần thiết, cơ hội được biết tài liệu, chứng cứ của nhau và cơ hội được cung cấp tài liệu, chứng cứ trả lời lại tài liệu, chứng cứ của bên đương sự đôi phương, bảo đảm nguyên tắc tranh tụng trong giải quyết vụ án hành chính, góp phần vào việc giải quyết tranh chấp đúng pháp luật và có hiệu quả về kinh tế.

Để quyền này được thực hiện trên thực tế, Luật tố tụng hành chính quy định trình tự, thủ tục liên quan đến việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ. Trong đó, Tòa án đóng vai trò quan trọng trong việc tìm kiếm tài liệu, chứng cứ liên quan có ý nghĩa quyết định đối với kết quả giải quyết của vụ án. Đồng thời Tòa án được quyền chủ động đốc thúc vụ kiện, thiết lập các sự kiện của vụ án bằng tất cả các biện pháp thích hợp và hữu hiệu của mình. Vì vậy, các tài liệu do Tòa án tiến hành thu thập, bổ sung có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá chứng cứ để giải quyết vụ <

Liên hệ tư vấn
Liên hệ tư vấn

Chuyên viên tư vấn sẵn sàng hỗ trợ!

Tư vấn sử dụng dịch vụ miễn phí

Hoặc
Đăng ký tư vấn
Công ty luật TNHH Everest - Công ty Luật uy tín tại Việt Nam

Everest
Thương hiệu tư vấn pháp lý hàng đầu
Thương hiệu tư vấn pháp lý hàng đầu

Top 20 thương hiệu vàng Việt Nam

Tự hào là đối tác thương hiệu lớn
Video
Everest - Hành trình vượt khó cùng đối tác
Hợp đồng góp vốn thành lập doanh nghiệp
Gặp các chuyên gia Đội ngũ Luật sư giàu kinh nghiệm
Để làm được những điều đó, mỗi một luật sư thành viên thuộc Hãng luật của chúng tôi đều phải rèn luyện không ngừng để có kiến thức Uyên thâm về chuyên môn, luôn đặt Tình yêu và Trách nhiệm vào công việc
3.8 5 (1 đánh giá)
0 bình luận, đánh giá về Kỹ năng của luật sư: thu thập, đánh giá, sử dụng chứng cứ trong vụ án hành chính

Xin chào quý khách. Quý khách hãy để lại bình luận, chúng tôi sẽ phản hồi sớm

Trả lời.
Thông tin người gửi
Bình luận sản phẩm
Nhấn vào đây để đánh giá
Thông tin người gửi
Tổng đài tư vấn: 024-66 527 527
Giờ làm việc: Thứ 2 - Thứ 7: 8h30 - 18h00
0.47391 sec| 1262.813 kb