Thủ tục tranh tụng tại phiên toà sơ thẩm vụ án dân sự

13/03/2023
Để cải cách tư pháp đi vào cuộc sống, Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015 đã quy định theo hướng kết hợp giữa tố tụng thẩm vấn và tố tụng tranh tụng nhằm nâng cao giá trị dân chủ, bình đẳng và tính công khai, minh bạch trong hoạt động tư pháp. Tranh tụng phải được thể hiện ngay từ khi thụ lí cho đến khi kết thúc quá trình tố tụng.

1- Thủ tục tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm vụ án dân sự

Bảo đảm tranh tụng trong hoạt động tư pháp là chủ trương lớn của Đảng đã thể hiện trong Nghị quyết số 49-NQ-TW ngày 02/6/2005 của Bộ chính trị về cải cách tư pháp. Để cải cách tư pháp đi vào cuộc sống, Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015 đã quy định theo hướng kết hợp giữa tố tụng thẩm vấn và tố tụng tranh tụng nhằm nâng cao giá trị dân chủ, bình đẳng và tính công khai, minh bạch trong hoạt động tư pháp. Tranh tụng phải được thể hiện ngay từ khi thụ lí cho đến khi kết thúc quá trình tố tụng. Điều 247 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định vềnội dung và phương thức tranh tụng tại phiên toà. Theo đó, tranh tụng bao gồm việc trình bày chứng cứ, hỏi, đối đáp, trả lời và phát biểu quan điểm, lập luận về đánh giá chứng cứ, mọi tình tiết của vụ án, quan hệ pháp luật đang tranh chấp và áp dụng pháp luật đế giải quyết. Việc tranh tụng được tiến hành theo sự điều khiến của thấm phán chủ tọa phiên toà. Chủ tọa không được hạn chế thời gian tranh tụng mà phải tạo điều kiện cho những người tham gia tranh tụng trình bày hết ý kiến nhưng cũng có quyền yêu cầu họ dừng trình bày những ý kiến không liên quan. Phán quyết của toà án phải căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà. Hội đồng xét xử trước khi ra bản án, quyết định phải căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét, tranh tụng tại toà.

Theo quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015, tranh tụng tại phiên toàđược tiến hành theo các bước sau đây:
- Trình bày của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.
- Nghe đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trình bày về vụ án.

Sau khi chủ tọa đã thực hiện các hoạt động nghiệp vụ cần thiết như quy định tại các điều 243, 244 và 246 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015 nhưng có đương sự vẫn giữ nguyên yêu cầu của họ và các bên trong vụ án cũng không tự thoả thuận được với nhau về việc giải quyết tranh chấp thì hội đồng xét xử bắt đầu xét xử vụ án bằng việc nghe cấc bên đương sự trình bày về các yêu cầu và các tài liệu, chứng cứ liên quan đến vụ tranh chấp. Hội đồng xét xử phải xác định đầy đủ các tình tiết của vụ án cũng như tất cả các tài liệu, chứng cứ của vụ án do các bên đương sự cung cấp, giao nộp. Điều 248 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định trình tự các bên đương sự được trình bày việc kiện tại phiên toà như sau:
+ Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày yêu cầu của nguyên đơn và chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp. Nguyên đơn có quyền bổ sung ý kiến. Trong trường hợp cơ quan, tổ chức khởi kiện vụ án thì đại diện cơ quan, tổ chức trình bày về yêu cầu khởi kiện và chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện là có cán cứ và hợp pháp.
+ Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày ý kiến của bị đơn đối với yêu cầu của nguyên đơn; yêu cầu phản tố, đề nghị của bị đơn và chứng cứ để chứng minh cho đề nghị đó là có căn cử và hợp pháp. Bị đơn có quyền bổ sung ý kiến.
+ Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày ý kiến của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đối với yêu cầu, đề nghị của nguyên đơn, bị đơn; yêu cầu độc lập, đề nghị của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và chứng cứ để chứng minh cho đề nghị đó là có căn cứ và hợp pháp. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền bổ sung ý kiến.
Trong trường hợp nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình thì họ tự trình bày về yêu cầu, đề nghị của mình và chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu, đề nghị đó là có căn cứ và hợp pháp.

Tại phiên toà, đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự cùng song hành tham gia tố tụng, cả hai người cùng có quyền bổ sung chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu, đề nghị của đương sự nhưng phải tuân thủ quy định tại khoản 4 Điều 96 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015. Những quy định này cho thấy chủ trương đổi mới hoạt động tư pháp của Đảng và Nhà nước đã được thể chế hoá. Đó là kết quả của việc mở rộng quyền dân chủ trong hoạt động tư pháp và vai trò của đương sự, của những người tham gia tố tụng khác trong việc cung cấp chứng cứ cho toà án, thực hiện nghĩa vụ chứng minh đế bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình nhưng không được vượt quá thời hạn giao nộp tài liệu, chứng cứ do thẩm phán và Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định và không làm ảnh hưởng xấu đến quyền tranh tụng của đương sự khác.

2- Trình tự và nguyên tắc hỏi tại phiên toà

Sau khi hội đồng xét xử nghe xong lời trình bày của các bên đương sự, việc hỏi từng người về từng vấn đề của vụ án được tiến hành ngay. Theo quy định tại Điều 249 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015, các chủ thể có quyền tham gia vào quá trình hỏi tại phiên toà gồm có: các thành viên của hội đồng xét xử, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, đương sự, những người tham gia tố tụng khác và kiểm sát viên nếu có. Trình tự hỏi từng người về từng vấn đề của vụ án được tiến hành theo thứ tự:

+ Nguyên đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn hỏi trước, tiếp theo đến bị đơn, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bịđơn. Sau đó là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người bảo vệ quyền và lợi ích cho người liên quan;
+ Người tham gia tố tụng khác;
+ Chủ tọa phiên toà;
+ Kiểm sát viên tham gia phiên toà.

Việc hỏi được tiến hành riêng cho từng người, xong người này mới đến người khác (các điều 250, 251, 252 và 253 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015). Các câu hỏi được đặt ra phải liên quan đến vụ án và về những vẩn đề đương sự, người bảo vệ của đương sự trình bày chưa rõ. Đương sự được hỏi có thể tự trả lời hoặc người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trả lời thay, sau đó đương sự bổ sung. Mục đích của tố tụng hỏi ở phiên toà là để xem xét, thẩm tra các tài liệu, chứng cứ của vụ án, thông qua đó làm sáng tỏ các tình tiết của vụ án, nhất là về những vẩn đề của vụ án mà các bên đương sự cồn có các ý kiến khác nhau. Các điều 250, 251, 252, 253 và 257 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định việc hỏi tại phiên toà như sau:

+ Đối với nguyên đơn, chỉ hỏi nguyên đơn về những vấn đề mà người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, nguyên đơn trình bày chưa rõ, có mâu thuẫn với nhau hoặc mâu thuẫn với lời trình bày của bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của những người này (khoản 2 Điều 250 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015).
+ Đối với bị đơn chỉ hỏi bị đơn về những vấn đề mà người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn, bị đơn trình bày chưa rõ, có mâu thuẫn với nhau hoặc mâu thuẫn với những lời khai của họ trước đó, mâu thuẫn với yêu cầu của nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người bảo vệ quyền và lợi ích họp pháp của những người này (khoản 2 Điều 251 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015).
+ Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, chỉ hỏi người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về những vấn đề mà họ, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ trình bày chưa rõ, có mâu thuẫn với nhau hoặc mâu thuẫn với những lời khai của họ trước đó, mâu thuẫn với yêu cầu của nguyên đơn, đề nghị của bị đơn và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của những người này (Điều 252 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015).
+ Đối với người làm chứng, trước tiên chủ tọa phiên toà phải hỏi rõ về quan hệ giữa họ với các đương sự trong vụ án; nếu người làm chứng là người chưa thành niên thì chủ tọa phiên toà có thể yêu cầu cha, mẹ, người giám hộ hoặc thầy giáo, cô giáo giúp đỡ để hỏi. Sau đó, chủ tọa phiên toà yêu cầu người làm chứng trình bày rõ những tình tiết của vụ án mà họ biết. Sau khi người làm chứng trình bày xong thì chỉ hỏi thêm người làm chứng về những điểm mà họ trình bày chưa rõ, chưa đầy đủ hoặc có mâu thuẫn với nhau, mâu thuẫn với lời khai của họ trước đó, mâu thuẫn với lời trình bày của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích họp pháp của đương sự (Điều 253 Bộ Luật tố tụng dân sự nărn 2015). Sau khi đã trình bày xong, người làm chứng ở lại phòng xử án để có thể được hỏi thêm. Trong trường hợp cần thiết phải bảo đảm an toàn cho người làm chứng và những người thân thích của họ, hội đồng xét xử quyết định không tiết lộ những thông tin về nhân thân của người làm chứng và không để những người trong phiên toà nhìn thấy họ. 
+ Đối với người giám định, trước tiên chủ tọa phiên toà yêu cầu người giám định trình bày kết luận của mình về vấn đề được giao giám định. Khi trình bày, người giám định có quyền giải thích bổ sung về kết luận giám định, các căn cứ để đưa ra kết luận giám định. Kiểm sát viên, những người tham gia tố tụng có mặt tại phiên toà có quyền nhận xét về kết luận giám định, được hỏi những vấn đề còn chưa rõ hoặc có mâu thuẫn trong kết luận giám định hoặc có mâu thuẫn với những tình tiết khác của vụ án. Trong trường hợp người giám định không có mặt tại phiên toà thì chủ tọa phiên toà công bố kết luận giám định. Khi có người tham gia tố tụng không đồng ý với kểt luận giám định được công bổ tại phiên toà và có yêu cầu giám định bổ sung hoặc giám định lại; nếu thấy việc giám định bổ sung, giám định lại là cần thiết cho việc giải quyết vụ án thì hội đồng xét xử quyết định giám định bổ sung, giám định lại; trong trường hợp này hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên toà (Điều 257 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015).

3- Công bố các tài liệu của vụ án dân sự

Trong quá trình diễn ra việc hỏi tại phiên toà, vật chứng, ảnh hoặc biên bản xác nhận vật chửng được đưa ra để xem xét như quy định tại các điều 254, 255, 256 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015. Việc xem xét các vật chứng, ảnh có liên quan đến vụ án sẽ giúp cho hội đồng xét xử xem xét các chứng cứ một cách đầy đủ, khách quan và cũng là giúp cho các đương sự thực hiện đầy đủ nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, chứng minh cùng với việc thực hiện quyền bảo vệ của mình trên cơ sở các chứng cứ được đưa ra trình trước toà án. Để bảo đảm cho việc xem xét chứng cứ một cách đầy đủ, toàn diện và phán quyết của toà án là có căn cứ thì khi cần thiết, hội đồng xét xử có thể cùng với các đương sự đến xem xét tại chỗ những vật chứng không thể đưa đến phiên toà được. Theo yêu cầu của kiểm sát viên, người tham gia tố tụng hay nếu thấy cần thiết, hội đồng xét xử sẽ cho nghe băng ghi âm, đĩa ghi âm, xem băng ghi hình, đĩa ghi hình ngay tại phiên toà, trừ trường hợp cần giữ bí mật nhà nước, giữ gìn thuần phong mĩtục của dân tộc, giữ bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật đời tư của cá nhân theo yêu cầu của đương sự.
 
Ngoài các hoạt động nêu trên, để giúp cho việc xem xét vụ án một cách toàn diện, đầy đủ, hội đồng xét xử khi thấy cần thiết có thể công bố các tài liệu của vụ án. Theo Điều 254 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015, hội đồng xét xử công bố các tài liệu của vụ án trong các trường hợp sau đây:
+ Người tham gia tố tụng không có mặt tại phiên toà mà trong giai đoạn chuẩn bị xét xử đã có lời khai;
+ Những lời khai của người tham gia tố tụng tại phiên toà mâu thuẫn với những lời khai trước đó;
+ Trong các trường hợp khác mà toà án thấy cần thiết hoặc có yêu cầu của kiểm sát viên, người tham gia tố tụng.
Đối với những trường hợp phải giữ bí mật nhà nước, bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật đời tư v.v... thì hội đồng xét xử không phải công bố các tài liệu này.
Sau khi đã thực hiện đầy đủ các hoạt động nghiệp vụ trong thủ tục hỏi ở phiên toà, hội đồng xét xử nhận thấy các tình tiết của vụ án đã được xem xét đầy đủ thì chủ tọa phiên toà hỏi kiểm sát viên, đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự và những người tham gia tố tụng khác xem họ có yêu cầu hỏi vấn đề gì nữa không. Trường hợp có người yêu cầu và toà án xét thấy yêu cầu đó là có căn cứ thì chủ tọa phiên toà quyết định tiếp tục cho họ đặt câu hỏi về những vấn đề mà họ chưa rõ liên quan đến vụ án. Nếu không có ai nêu ra vấn đề gì nữa thì chủ tọa phiên toà tuyên bố kết thúc việc hỏi và chuyển sang phần tranh luận tại phiên toà.

4- Tranh luận tại phiên toà sơ thẩm vụ án dân sự

Tranh luận tại phiên toà là hoạt động trung tâm của phiên toà, bảo đảm cho đương sự bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của mình trước toà án. Do đó, Bộ Luật tố tụng dân sự đã quy định mở rộng quyền tranh luận của đương sự, đề cao vai trồ chủ động của đương sự trong việc tranh luận ở tại phiên toà.
Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015 đã dành riêng một mục với 4 điều luật, từ Điều 232 đến Điều 235 quy định về hoạt động tranh luận tại phiên toà. Điều đó thể hiện tầm quan trọng của hoạt động tranh luận trong việc tìm ra sự thật khách quan của vụ án và xu hướng đổi mới hoạt động tư pháp ở nước ta. Các quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015 về tranh luận tại phiên toà phù hợp với quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về cải cách tư pháp được nêu trong Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 và Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ chính trị.

+ Những người tham gia tranh luận
Căn cứ vào Điều 260 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015, những người tham gia tranh luận gồm có: đương sự, người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015 chỉ quy định thành phần tham gia tranh luận tại phiên toà với đối tượng như trên là do đặc trưng của tố tụng dân sự. Trong tố tụng dân sự, quyền và lợi ích của đương sự do đương sự định đoạt và quyết định. Toà án có trách nhiệm tôn trọng và hướng dẫn họ định đoạt, quyết định không trái với quy định của pháp luật. Vì vậy, các quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015 đều coi đương sự, người đại diện hay người bảo vệ quyền lợi hợp pháp của họ là những người có vai trò tích cực, chủ động và quyết định trong việc giải quyết vụ án.


 
+ Nội dung tranh luận
Tranh luận tại phiên toà, thể hiện tính chất dân chủ, công khai, minh bạch của hoạt động xét xử. Các quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015 về tranh luận là tạo điều kiện tối đa để các bên đương sự sử dụng các phương pháp chứng minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Đổi mới hoạt động tư pháp, trong đó có việc mờ rộng tranh tụng, tăng cường khả năng tranh luận dân chủ giữa các đương sự và những người thay mặt họ là đòi hỏi khách quan hiện nay. Nhưng để tránh phiên toà đi chệch hướng, sa đà vào những tình tiết không cơ bản của vụ án, pháp luật quy định các bên khi tham gia tranh luận cần tập trung vào hai nội dung quan trọng sau đây:

Một là phân tích, đánh giá chứng cứ, tranh luận bảo vệ lí lẽ của mình, trong đó có quyền đưa ra các chứng cứ để bác bỏ lí lẽ của phía bên kia và chỉ rõ việc áp dụng quy phạm pháp luật nội dung nào để giải quyết vụ án.
Hai là trong khi phát biểu tranh luận đánh giá về vụ án, các bên tham gia tố tụng đề xuất quan điểm của mình về hướng giải quyết vụ án trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được và đã được các bên thảo luận, xem xét, xác minh và thừa nhận tại phiên toà.

+ Căn cứ tranh luận
Pháp luật tố tụng dân sự quy định thủ tục tranh luận tại phiên toà là nhằm tạo điều kiện tối đa về thời cơ để các bên đương sự tự chứng minh cho các yêu cầu của họ bằng các chứng cứ lí lẽ mà họ phân tích, đánh giá công khai ngay tại phiên toà. Vai trò chủ động của cá nhân đương sự và người bảo vệ quyền lợi hợp pháp của đương sự trong tranh luận được xem là yếu tố quyết định trong việc chứng minh, tự chứng minh cho các yêu cầu kiện tụng mà họ đã nêu ra và họ cho răng yêu cầu, lí lẽ đó là đúng đắn. Vì vậy, Điều 261 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định căn cứ phát biểu khi tranh luận và đối đáp như sau:
Một là khi phát biêu đánh giá chứng cứ, đề xuất quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án, người tham gia tranh luận phải căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã thu thập được và đã được xem xét, kiểm tra tại phiên toà cũng như kết quả việc hỏi tại phiên toà.

Hai là khi tham gia tranh luận, các bên đương sự và những người tham gia tố tụng khác không.được dựa vào suy đoán cảm tính để tranh luận mà phải theo nguyên lí “nói có sách, mách có chứng”.

+ Trình tự tranh luận
Mục đích của tranh luận là để làm rõ thêm các tình tiết, sự kiện của vụ án. Trong phần tranh luận, hội đồng xét xử lắng nghe những người tham gia tố tụng tranh luận về các chứng cứ, tài liệu của vụ án đồng thời dựa vào pháp luật đề xuất với hội đồng xét xử hướng giải quyết vụ án để bảo vệ cho yêu cầu và quyền lợi của họ. Đe đề cao vai trò của đương sự và người bảo vệ quyền và lợi hợp pháp của họ trong tranh luận, bảo đảm quá trinh tranh luận đạt kểt quả, tránh việc tranh luận trở thành một cuộc cãi vã giữa các bên, Điều 260 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định trinh tự phát biểu khi tranh luận như sau:
Thứ nhất, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn phát biểu trước. Nguyên đơn bổ sung ý kiến. Trong trường hợp cơ quan, tổ chức khởi kiện thì đại diện cơ quan, tổ chức trình bày ý kiến. Người có quyền và lợi ích hợp pháp được bảo vệ có quyền bổ sung ý kiến.

Thứ hai, người bảo vệ quyền và lợi ích hơp pháp của bị đơn phát biểu. BỊ đơn có quyền bổ sung ý kiến.
Thứ ba, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phát biểu. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền bổ sung ý kiến.
Thứ tư, trong trường hợp nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình thì họ tự mình phát biếu khi tranh luận theo thứ tự nguyên đơn phát biểu trước, sau đó đến bị đơn, rồi mới đen người có quyền, nghĩa vụ liên quan. Nếu vắng mặt một trong các đương sự và người tham gia tố tụng khác thì chủ tọa phiên toà phải công bố lời khai của họ để các đương sự có mặt tại phiên toà tranh luận và đối đáp.

Thời gian tranh luận tại phiên toà dài hay ngắn là do tính chất phức tạp của từng vụ án chứ Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015 không quy định cụ thể. Nhưng để cho đương sự và người đại diện của họ có thể thực hiện được việc tranh luận bảo vệ quyền và lợi hợp pháp của mình, Điều 233 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định như sau:
Một là thời gian tranh luận cũng như số lần phát biểu ý kiến về một vẩn đề không bị hạn chế. Chủ toạ phiên toà phải tạo điều kiện cho những người tham gia tranh luận trình bày hết ý kiến. Chủ tọa phiên toà chỉ có quyền cắt những ý kiến không có liên quan đến vụ án.
Hai là trong quá trình tranh luận, người tham gia tranh luận có quyền đáp lại ý kiến của người khác khi có những điểm khác nhau.

+ Phát biểu của kiểm sát viên
Khác với phiên toà hình sự, đại diện viện kiểm sát giữ quyền công tố, cho nên trong phần tranh luận, kiểm sát viên là người trình bày cáo trạng đầu tiên, sau đó mới đến lượt phát biểu tranh luận của những người tham gia tố tụng khác. Trong phiên toà xét xử vụ án dân sự, đương sự, người đại của đương sự và người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự có toàn quyền trong việc quyết định bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự. Vì vậy, theo quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015,đại diện viện kiểm sát không nhất thiết phải tham gia tất cả các phiên toà dân sự. Đối với những vụ án dân sự, Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định phải có sự tham gia của kiểm sát viên thì trình tự phát biểu của kiểm sát viên tại phiên toà như sau:

Thứ nhất, sau khi những người tham gia tố tụng phát biểu tranh luận và đối đáp xong, kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trinh giải quyết vụ án của thẩm phán, hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi toà án thụ lí vụ án cho đến trước thời điểm hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án. Ngay sau khi kết thúc phiên toà, kiểm sát viên phải gửi văn bản phát biểu ý kiến cho toà án để lưu hồ sơ vụ án (Điều 262 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015).
Thứ hai, sau khi kiểm sát viên phát biểu xong, chủ tọa phiên toà tuyên bổ kết thúc phần tranh luận, hội đồng xét xử tiến hành nghị án (Điều 264 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015).

5- Trở lại việc hỏi

Toà án chỉ có thể quyết định giải quyết được vụ án dân sự khi các tình tiết, sự kiện của vụ án đã được làm sáng tỏ. Vì vậy, Điều 263 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định, qua tranh luận nếu xét thấy có tình tiết của vụ án chưa được xem xét, việc xem xét chưa được đầy đủ hoặc cần xem xét thêm chứng cứ thì hội đồng xét xử quyết định trở lại việc hỏi; sau khi hỏi xong phải tiếp tục tranh luận.

(i) Nghị án và tuyên án

- Nghị án

Nghị án là việc hội đồng xét xử xem xét, quyết định giải quyết vụ án. Trên cơ sở kết quả của việc hỏi và tranh luận tại phiên toà, hội đồng xét xử vào phòng nghị án để thảo luận quyết định giải quyết các vấn đề của vụ án. Việc nghị án được thực hiện theo tinh thần đổi mới hoạt động tư pháp đã được đề ra trong Nghị quyết sổ 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 của Bộ chính trị là: “Việc phán quyết của toà án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của... nguyên đơn, bị đơn và những người có quyền, lợi ích hợp pháp để ra những bản án, quyết định đúng pháp luật, có sức thuyết phục trong thời hạn pháp luật quy định”.
 
Theo Điều 264 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015, việc nghị án được tiến hành như sau:
+ Hội đồng xét xử nghị án tại phòng riêng. Chỉ có các thành viên của hội đồng xét xử mới có quyền nghị án.
+ Khi nghị án, chủ tọa phiên toà nêu từng vấn đề để hội đồng xét xử thảo luận và quyết định. Hội đồng xét xử phải giải quyết tất cả các vấn đề của vụ án bằng cách biểu quyết theo đa sổ về từng vấn đề. Hội thẩm nhân dân biểu quyết trước, thẩm phán biểu quyết sau cùng. Người có ý kiến thiểu số có quyền trình bày ý kiến của mình bằng văn bản và được đưa vào hồ sơ vụ án.
+ Hội đồng xét xử chỉ được căn cử vào tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên toà, kết quả việc hỏi tại phiên toà và phải xem xét đầy đủ ý kiến của những người tham gia tố tụng, kiểm sát viên để quyết định giải quyết vụ án. Nếu vụ án thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 4 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015 thìhội đồng xét xử còn phải căn cứ vào tập quán, tương tự pháp luật, những nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự, án lệ hoặc lẽ công bằng để giải quyết tất cả các vẩn đề của vụ án.
+ Phải có biên bản nghị án ghi lại ý kiến đã thảo luận và quyết định của hội đồng xét xử. Biên bản nghị án phải được các thành viên hội đồng xét xử kí tên tại phòng nghị án trước khi tuyên án. 
+ Trong trường hợp vụ án có nhiều tình tiết phức tạp, việc nghị án đòi hỏi phải có thời gian dài thì hội đồng xét xử có thể quyết định thời gian nghị án nhưng không quá 5 ngày làm việc kể từ khi kết thúc tranh luận tại phiên toà. Hội đồng xét xử phải thông báo cho những người có mặt tại phiên toà và người tham gia tố tụng văng mặt tại phiên tòa biết giờ, ngày và địa điểm tuyên án; nếu hội đồng xét xử đã thực hiện việc thông báo mà đến ngày tuyên án vẫn có người tham gia tố tụng vắng mặt thì hội đồng xét xử vẫn tiến hành việc tuyên án theo quy định tại Điều. 267 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.
Khi nghị án mà thấy chứng cứ, tài liệu chưa đầy đủ thì hội đồng xét xử vẫn cho dừng việc nghị án lại và tiến hành xét hỏi lại, tranh luận lại. Qua nghị án, nếu xét thấy có tình tỉểt của vụ án chưa được xem xét, việc hỏi chưa đầy đủ hoặc cần xem xét thêm chứng cử thì hội đồng xét xử quyết định trở lại việc hỏi và tranh luận (Điều 265 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015).

- Tuyên án

Sau khi bản án đã được thông qua, hội đồng xét xử trở lại phòng xét xử để tuyên án. Theo Điều 267 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015 thì thủ tục tuyên án được thực hiện như sau:
+ Khi tuyên án, mọi người trong phòng xử án. phải đứng dậy, trừ trường hợp đặc biệt được phép của chủ tọa phiên toà;
+ Chủ tọa phiên toà hoặc một thành viên khác của hội đồng xét xử đứng đọc nguyên văn bản án và sau khi đọc xong có thể giải thích thêm về việc thi hành bản án và quyền kháng cáo. Đối với những vụ xử kín, toà án vẫn phải tuyên công khai phần mở đầu và phần quyết định của bản án;
+ Trong trường hợp có đương sự không biết tiếng Việt thì sau khi tuyên án, người phiên dịch phải dịch lại cho họ nghe toàn bộ bản án sang ngôn ngữ mà họ biết.

 

0 bình luận, đánh giá về Thủ tục tranh tụng tại phiên toà sơ thẩm vụ án dân sự

TVQuản trị viênQuản trị viên

Xin chào quý khách. Quý khách hãy để lại bình luận, chúng tôi sẽ phản hồi sớm

Trả lời.
Thông tin người gửi
Bình luận
Nhấn vào đây để đánh giá
Thông tin người gửi
Tổng đài tư vấn: 024-66 527 527
Giờ làm việc: Thứ 2 - Thứ 7: 8h30 - 18h00
0.35448 sec| 1045.867 kb