Trang chủ » Khái quát về nghĩa vụ thu thập, cung cấp, giao nộp chứng cứ

Khái quát về nghĩa vụ thu thập, cung cấp, giao nộp chứng cứ

Hoạt động chứng minh trong tố tụng dân sự được hiểu là tổng thể các hoạt động của Tòa án và các chủ thể tham gia tố tụng trong việc thu thập, cung cấp, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ nhằm mục đích sử dụng chứng cứ để xác định sự thật khách quan của vụ, việc dân sự. Luật sư cần tư vấn cho khách hàng về nghĩa vụ thu thập, cung cấp, giao nộp chứng cứ. Sau đây Luật Everest xin chia sẻ tới quý bạn đọc để làm rõ hơn về vấn đề này.

Xây dựng ý tưởng
Công ty Luật TNHH Everest – Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198

Khái quát về hoạt động chứng minh trong tố tụng dân sự

Hoạt động chứng minh trong tố tụng dân sự được hiểu là tổng thể các hoạt động của Tòa án và các chủ thể tham gia tố tụng trong việc thu thập, cung cấp, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ nhằm mục đích sử dụng chứng cứ để xác định sự thật khách quan của vụ, việc dân sự. Trong tố tụng dân sự, chứng minh cũng là một dạng hoạt động tố tụng, cụ thể là hoạt động sử dụng chứng cứ với mục đích tái hiện lại trước Tòa án vụ việc dân sự đã xảy ra trong quá khứ một cách chính xác và tỉ mỉ nhất có thể có, qua đó Tòa án có thể khẳng định có hay không có các sự kiện, tình tiết khách quan làm cơ sở cho yêu cầu hay phản đối của các bên đương sự trong vụ việc dân sự. Tuy nhiên, hoạt động sử dụng chứng cứ trong tố tụng dân sự không thể được tiến hành một cách thủy tiện theo ý chi chủ quan của Tòa án hay của các chủ thể tham gia tố tụng mà phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về sử dụng chứng cứ thông qua các hoạt động tối tụng cụ thể, bao gồm hoạt động thu thập, cung cấp, giao nộp, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ. Tất cả các hoạt động này là các yếu tố hợp thành chứng minh hay nội dung của hoạt động chứng minh trong tố tụng dân sự.

Nghĩa vụ thu thập, cung cấp, giao nộp chứng cứ của đương sự

Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015 đã xác định quyền và nghĩa vụ của đương sự là : “Đương sự có quyền và nghĩa vụ chủ động thu thập, giao nộp chứng cứ cho Tòa án và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp” (Điều 6). Quyền yêu cầu Toà án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp là quyền tố tụng của cá nhân, cơ quan , tổ chức được Hiến pháp thừa nhận và cụ thể hóa trong BLTTDS. Tòa án không được từ chối giải quyết vụ việc dân sự vì lý do “chưa có điều luật để áp dụng ”, đồng nghĩa với việc các cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu Toà án giải quyết tất cả mọi vấn đề không phụ thuộc vấn đề đó đã được pháp luật điều chỉnh hay chưa. Khi thực hiện quyền và nghĩa vụ của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong tố tụng dân sự, Luật sư phải nắm chắc kiến thức cốt lõi về quyền và nghĩa vụ chứng minh của đương sự, hậu quả của việc vi phạm nghĩa vụ này để tư vấn cho khách hàng. Quyền chứng minh là khả năng của các chủ thể chứng minh (trong đó vai trò trung tâm là đương sự) bằng hành vi tố tụng của mình tham gia vào hoạt động chứng minh. Việc thực hiện quyền chứng minh do các chủ thể chứng minh quyết định. Ngược lại, nghĩa vụ chứng minh bao vào hoạt động chứng minh, các chủ thể chứng minh bắt buộc phải tiến hành hoặc không được tiếp hôm những hành vi tố tụng nhất định trong hoạt động chứng minh hành theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp nghĩa vụ chứng minh bị vi phạm, chủ thể vi phạm phải gánh chịu những hậu quả pháp lý bất lợi. Chủ thể chứng minh có quyền , nghĩa vụ tham gia vào hoạt động chứng minh, tuy nhiên không phải tất cả các chủ thể, chứng minh, đều có quyền, nghĩa vụ chứng minh như nhau . Tùy thuộc vào vai trò, địa vị tố tụng của các chủ thể này và ở từng giai đoạn tụng cụ thể, các chủ thể chứng minh có quyền, nghĩa vụ tham gia và quá trình chứng minh các sự kiện, tình tiết của vụ việc ở những phạm vị và mức độ khác nhau. Ví dụ, quyền, nghĩa vụ chứng minh của đương sự khác với trách nhiệm chứng minh của Tòa án; quyền, nghĩa vụ chứng minh của người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự khác với trách nhiệm chứng minh của Viện kiểm sát …

Xuất phát từ việc xác định chứng minh là “làm cho thấy rõ là có thật, là đúng bằng lý lẽ cứ liệu”, khi tư vấn cho khách hàng, trước tiên Luật sư phải lưu ý về quyền và nghĩa vụ chủ động thu thập chứng cứ của đương sự. Đương sự là người chủ động đưa ra yêu cầu, phản đối yêu cầu của đương sự phía bên kia, chủ động đề nghị Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình nên trước tiên đương sự là chủ thể có nghĩa vụ chứng minh. Để chứng minh cho yêu cầu của mình là đúng, đương sự có nghĩa vụ thu thập, cung cấp, giao nộp các chứng cứ, căn cứ pháp lý thuyết phục Tòa án. Thu thập, cung cấp, giao nộp chứng cứ chỉ là một trong các biện pháp chứng minh của đương sự.

Hoạt động xét xử các vụ án dân sự là hoạt động phát sinh trên cơ sở có sự tranh chấp trong quan hệ pháp luật nội dung giữa các bên có lợi ích đối lập nhau nhưng bình đẳng về địa vị pháp lý mà trong đó có một quy tắc chung cho cả hai bên đương sự : “Người nào đề ra một luận điểm cần có chứng cứ thì phải chứng minh”. Theo quy tắc này, mỗi bên đương sự có nghĩa vụ phải chứng minh những sự kiện, tình tiết mà mình đã viện dẫn làm cơ sở cho những yêu cầu và phản đối của mình, hay nói cách khác ai khẳng định một sự việc gì thì phải chứng minh sự việc ấy. Quy định này xuất phát từ cơ sở khi yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi cho mình với tư cách là người trực tiếp tham gia vào các quan hệ pháp luật nội dung có vi phạm hay tranh chấp, đương sự là người hiểu rõ nhất vì sao họ có yêu cầu đó , họ biết được những tình tiết, sự kiện trong vụ việc, do đó có khả năng cung cấp chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình. Về tâm lý, khi đưa ra yêu cầu của mình bao giờ đương sự cũng là người đứng ở thế chú động, tự nguyện đưa ra những lý lẽ để chứng minh, bênh vực cho quyền lợi của mình. Sự thật là cơ sở của yêu cầu và phản đối của các bên nên các bên sẽ quan tâm và tìm mọi cách để khẳng định sự thật này. Khi đưa ra yêu cầu, nguyên đơn phải chứng minh cho yêu cầu của mình đối với bị đơn, tức là phải có nghĩa vụ thu thập, cung cấp chứng cứ, tham gia nghiên cứu chứng cứ, tham gia hỏi, tranh luận … để chứng minh, bởi vì bị đơn được suy đoán là không có bất cứ trách nhiệm gì với nguyên đơn cho đến khi trách nhiệm của bị đơn được chứng minh.

Bên cạnh đó, trong tiến trình phát triển của hoạt động chứng minh, quyền và nghĩa vụ chứng minh của các chủ thể chứng minh không bất biến mà trong điều kiện nhất định, nó có thể di chuyển từ một bên đường sự này sang một bên đương sự khác. Khi đưa ra yêu cầu, nguyên đơn phải có nghĩa vụ chứng minh. Tuy nhiên, nghĩa vụ chứng minh (cũng là nghĩa vụ thu thập, cung cấp, giao nộp chứng cứ, tham gia nghiên cứu chứng cứ, tranh tụng … ) sẽ được di chuyển từ nguyên đơn sang bị đơn khi bị đơn đưa ra yêu cầu phản tố đối với nguyên đơn, hoặc khi bị đơn muốn viện dẫn những sự kiện, tình tiết nhằm bác bỏ yêu cầu của nguyên đơn.

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest:

  1. Bài viết trong lĩnh vực pháp luật được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.
  2. Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.
  3. Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với chuyên gia, luật sư của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198, E-mail: info@everest.org.vn.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Gọi tư vấn
icons8-exercise-96