Trang chủ » Kỹ năng đàm phán hợp đồng của Luật sư

Kỹ năng đàm phán hợp đồng của Luật sư

Luật sư là những nhà đàm phán chuyên nghiệp hỗ trợ các doanh nghiệp không những chỉ về mặt pháp lý mà cả về nhiều lĩnh vực trong đàm phán pháp lý. Do đó, nắm vững “Kỹ năng đàm phán hợp đồng” sẽ là một trong những mấu chốt giúp Luật sư thành công.

kỹ năng đàm phán hợp đồng
Công ty Luật TNHH Everest – Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198

Các bộ phận của kỹ năng đàm phán hợp đồng

Về cơ bản, đàm phán pháp lý có thể được biểu hiện dưới hai thành phần hoặc hai bộ phận (strand) cụ thể: đàm phán thiết lập quan hệ hợp đồng và đàm phán giải quyết tranh chấp hợp đồng.

Ở các nước theo truyền thống án lệ, có hai thuật ngữ cơ bản tương ứng với hai dạng đàm phán mà chúng ta đang nói tới, đó là “rulemaking negotiation” và “dispute negotiation” rulemaking negotiation” được hiểu là đàm phán nhằm thiết lập các quy tắc để điều chỉnh hành vi trong tương lai. Như vậy, ở các nước theo truyền thống án lệ, tất cả các loại đàm phán mà nhằm thiết lập các quy tác để điều chỉnh hành vi trong tương lai, ví dụ như đàm phán tập thể (collective bargaining), đàm phán ký kết hiệp ước quốc tế (international treaty making), đàm phán về hợp đồng thương mại (negotiation of commercial contracts) và đàm phán giữa các nhà lập pháp (hoặc giữa các nhà lập pháp và các nhóm lợi ích) liên quan đến hình thức và nội dụng của pháp luật được đề xuất đều được gọi là “rulemaking negotiation”.

Đặc điểm cuối cùng cho thấy, “rulemaking negotiation” chính bản thân nó là một yếu tố quan trọng của quá trình lập pháp. Đối với “dispute negotiation” được xem xét như là một trong hai bộ phận của đàm phán, theo đó, nó giống như giải quyết, xét xử, tức là hướng về việc giải quyết các tranh chấp phát sinh từ các sự kiện trong quá khứ. Cũng cần lưu ý là ở các nước nói tiếng Anh, phân biệt hai loại đàm phán (types of negotiation) và hai bộ phận (hay hai nhánh) đàm phán (strands of negotiation) như tiêu chí ở trên.

Các loại đàm phán phổ biến trong văn học pháp lý các nước nói tiếng Anh

Hai loại đàm phán phổ biến trong văn học pháp lý các nước nói tiếng Anh (types of negotiations) là distributive and integrative bargaining”, nghĩa là đàm phán phân bố (phân chia) và đàm phán tích hợp (có chuyên gia chia thành 4 loại đàm phán: (i) Win – lose; (i) Gamesmanship, (ii) Manipulative và (iv) Exemple- Distributive negotiation còn gắn với hình tượng chiếc bánh cố định (fixed pie) chiếc bánh thì có hạn mà nhiều người đều muốn, hay trò chơi zero-sum tức trò chơi có tổng bằng không. Nên bản chất của đàm phán phân bố (distributive) là tôi thắng – anh thua”.

Do đó, nó được dựa trên một số cơ sở nhất định: (i) Hãy giấu bài của ban gần ngực của bạn, dùng cho bạn chơi nhìn thấy, có nghĩa là cung cấp càng ít hoặc không cung cấp thông tin cho đối phương cảng tốt, (ii) Có được càng nhiều thông tin từ phía đối tác càng tốt. Mọi thông tin bổ sung có thể được sử dụng làm đòn bẩy để thương lượng thỏa thuận t hom, (iii) Thông tin duy nhất nên tiết lộ là những lựa chọn thay thế, chẳng hạn như những người bán khác, cho thấy bạn sẵn sàng thay đổi đối tác bắt cứ khi nào phù hợp. (iv) Hãy để họ đưa ra đề nghị đầu tiên, (v) Hãy thực tế, quá tham lam hoặc quá keo kiệt sẽ có khả năng dẫn đến không có thỏa thuận, vì vậy hãy duy trì các phương án thực tế.

Ngược lại, intergrative negotiation là đàm phán win – win, cả hai bên đều thắng, cả hai bên đều đạt được điều mà mình muốn. Do đó, nó dựa trên một số cơ sở đàm phán sau: (i) Các cuộc đàm phán tích hợp thường có nhiều vấn đề, đòi hỏi vô số các vấn đề đó cần được thương lượng, không giống như các cuộc đàm phán phân bổ thường xoay quanh giá hoặc một vấn để duy nhất. Trong các cuộc đàm phán tích hợp, mỗi bên muốn có được một điều gì đó có giá trị nhưng lại muốn đổi lại thứ gì đó có giá trị thấp hơn, nhưng lại là cái mả đối tác cần, (xem lại câu chuyện hai chị em và quả táo), (ii) Chia sẻ. Để hiểu rõ hoàn cảnh của nhau, cả hai bên phải chia sẻ thuc tế cùng nhiều thông tin công tốt để hiểu được sở thích của người khác, bạn không thể giải quyết vấn đề mà không biết thông Hợp tác là điều cần thiết. (ii) Giải quyết vấn đề tìm giải pháp cho các vấn đề của nhau. Nếu bạn có thể cung cấp một điều gì đó có giá trị thấp hơm cho đối tác của bạn nhưng đó là thứ họ cân, và điều này dẫn đến việc bạn thực hiện được mục tiêu của bạn, do đó bạn đã tích hợp các vấn đề của bạn thành một giải pháp tích cực, (iv) Quan hệ cầu nối Kết thức đàm phán là mở đầu cho quá trình hợp tác.

Trên cơ sở nắm vững các hiểu biết cơ bản về đàm phán, xác định được các kỹ năng các phương pháp đàm phán, chiến lược và chiến thuật đàm phán, luật sư có thể áp dụng vào từng tình huống cụ thể để các cuộc đàm phán được thành công.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Gọi tư vấn
icons8-exercise-96