Liên doanh (Joint Venture)

"Đoàn kết là sức mạnh. Khi có sự chung sức và hợp tác, ta có thể đạt được những điều tuyệt vời".

Mattie Stepanek

Liên doanh (Joint Venture)

Liên doanh (Joint Venture, viết tắt: JV) là một thực thể kinh doanh được tạo ra bởi hai hoặc nhiều bên, thường được đặc trưng bởi quyền sở hữu chung, lợi nhuận và rủi ro được chia sẻ và quản trị chung. Các Công ty thường theo đuổi Liên doanh vì một trong bốn (04) lý do: [1] tiếp cận thị trường mới, đặc biệt là thị trường mới nổi; [2] để đạt được hiệu quả quy mô bằng cách kết hợp tài sản và hoạt động; [3] chia sẻ rủi ro cho các khoản đầu tư hoặc dự án lớn; hoặc: [4] để tiếp cận các kỹ năng và khả năng.

Liên doanh là hình thức rủi ro của Quan hệ đối tác kinh doanh. Các tài liệu về kinh doanh và quản lý đã chú ý đến các yếu tố xung đột và chủ nghĩa cơ hội khác nhau trong các Liên doanh, đặc biệt là ảnh hưởng của cơ cấu kiểm soát của Công ty mẹ, thay đổi quyền sở hữu và môi trường đầy biến động. 

Liên hệ

Theo Gerard Baynham của Water Street Partners, đã có nhiều bài viết tiêu cực về Liên doanh. Thế nhưng, các dữ liệu khách quan chỉ ra rằng, Liên doanh thực sự có thể hoạt động tốt hơn các Chi nhánh được sở hữu và kiểm soát hoàn toàn. Ông viết: "Một câu chuyện khác đã xuất hiện từ phân tích gần đây của chúng tôi về dữ liệu của Bộ Thương mại Mỹ (DOC), được thu thập từ hơn 20.000 thực thể. Theo dữ liệu của DOC, các Liên doanh nước ngoài của các Công ty Mỹ đã nhận được lợi nhuận trung bình 5,5% trên tài sản ( ROA), trong khi các chi nhánh thuộc sở hữu và kiểm soát hoàn toàn của các Công ty đó (phần lớn trong số đó thuộc sở hữu hoàn toàn) nhận ra mức ROA thấp hơn một chút là 5,2%. Các Liên doanh có trụ sở tại Mỹ đã đạt được ROA trung bình là 2,2%".

Hầu hết các Liên doanh đều được thành lập dưới mô hình Công ty. Thế nhưng, có một số đặc biệt là trong ngành Dầu khí, là các Liên doanh "không có tư cách pháp nhân" mà chỉ mô phỏng một Công ty (pháp nhân). Với các cá nhân, khi hai hoặc nhiều người cùng nhau hình thành một Công ty hợp danh tạm thời nhằm mục đích thực hiện một Dự án cụ thể, Công ty hợp danh đó cũng có thể được gọi là một Liên doanh khi các bên là “Đồng Liên doanh”.

Công ty Liên doanh có thể là một Công ty Liên doanh kinh doanh, ví dụ: Dow Corning, một Công ty Liên doanh Dự án/Tài sản chỉ nhằm theo đuổi một Dự án cụ thể hoặc một Công ty Liên doanh nhằm xác định các tiêu chuẩn hoặc phục vụ như một "tiện ích công nghiệp" cung cấp một nhóm dịch vụ hẹp cho những người tham gia trong ngành. Một số Liên doanh lớn bao gồm United Launch Alliance, Vevo, Hulu, Penske Truck Leasing và Owens-Corning.

Xem thêm: Dịch vụ pháp lý trong lĩnh vực đầu tư của Công ty Luật TNHH Everest

I- ĐỊNH NGHĨA PHÁP LÝ VỀ LIÊN DOANH

Trong pháp luật Châu Âu, thuật ngữ "Liên doanh" là một khái niệm pháp lý độc quyền, được định nghĩa rõ hơn theo các quy tắc của Luật Công ty. Ở Pháp, thuật ngữ "Liên doanh" được dịch theo nhiều cách khác nhau là "Hiệp hội doanh nghiệp" (Association D'entreprises), "Liên doanh doanh nghiệp" (Entreprise Conjointe), "Đồng doanh nghiệp" (Coentreprise), hoặc "Công xã doanh nghiệp" (Entreprise commune)

1- Thành lập Công ty Liên doanh

Một Liên doanh có thể được thực hiện theo những phương thức, như sau:

- Nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần trong một Công ty địa phương,
- Công ty địa phương mua lại cổ phần của một Công ty nước ngoài hiện có,
- Cả doanh nhân nước ngoài và địa phương cùng nhau thành lập một Doanh nghiệp mới,
- Cùng với vốn công và/hoặc nợ ngân hàng.

Ở Vương quốc Anh, Ấn Độ và ở nhiều quốc gia Thông luật, một Liên doanh (hoặc một Công ty do một nhóm cá nhân thành lập) phải nộp cho cơ quan có thẩm quyền Bản ghi nhớ về Liên doanh (Thỏa thuận Liên doanh) Đây là một tài liệu theo luật định thông báo cho công chúng về sự tồn tại của Liên doanh. Mọi tổ chức, cá nhân có thể xem tài liệu này tại Văn phòng nơi tài liệu được nộp. Cùng với các điều khoản của Hiệp hội, Biên bản ghi nhớ sẽ tạo thành "Hiến pháp" của một Công ty ở các quốc gia này.

Các điều khoản của Hiệp hội điều chỉnh sự tương tác giữa các Cổ đông và Người điều hành của một Công ty, Thỏa thuận Liên doanh có thể là một tài liệu dài tới hơn 700.000 trang. Thỏa thuận Liên doanh liên quan đến các quyền hạn do các cổ đông giao cho các giám đốc và những quyền hạn mà họ giữ lại, yêu cầu thông qua các nghị quyết thông thường, nghị quyết đặc biệt và tổ chức các cuộc họp Đại hội đồng bất thường để đưa ra quyết định của giám đốc.

Giấy chứng nhận thành lập Công ty hoặc Điều khoản thành lập Công ty là tài liệu cần thiết để thành lập Công ty tại Mỹ (trên thực tế là tiểu bang nơi Công ty được thành lập) và ở các quốc gia theo thông lệ này. Ở Mỹ, "Thỏa thuận Liên doanh" là một tài liệu duy nhất. Các Điều khoản của Công ty một lần nữa là quy định của các Giám đốc bởi những người nắm giữ cổ phần trong một Công ty.

Khi thành lập, Liên doanh (VJ) trở thành một thực thể mới với hàm ý rằng: Liên doanh chính thức tách biệt với những Người sáng lập ra Liên doanh (những người có thể là những tập đoàn khổng lồ), ngay cả trong số các quốc gia mới nổi. Liên doanh có thể ký hợp đồng dưới tên riêng của mình, có được các quyền (như quyền mua các Công ty mới) và Liên doanh có trách nhiệm pháp lý riêng biệt với trách nhiệm pháp lý của những Người sáng lập, ngoại trừ vốn đầu tư, đồng thời Liên doanh có thể kiện (và bị kiện) tại Tòa án để bảo vệ/thực hiện quyền lợi, nghĩa vụ Liên doanh. Khi nhận được Giấy chứng nhận thành lập, một Công ty có thể bắt đầu kinh doanh.

2- Thỏa thuận của các cổ đông

Thỏa thuận cổ đông (Shareholders' Agreement): vì một số lý do pháp lý, nó có thể được gọi là Biên bản ghi nhớ (Memorandum of Understanding). Đây là một lĩnh vực pháp lý và có nhiều khó khăn do luật pháp của các quốc gia khác nhau, đặc biệt là về khả năng thực thi của "Người đứng đầu" (Heads of). Thỏa thuận cổ đông được thực hiện song song với các hoạt động khác trong việc hình thành một Liên doanh. Mặc dù được giải quyết ngắn gọn theo thỏa thuận của các Cổ đông, một số vấn đề phải được giải quyết ở đây như một phần mở đầu cho cuộc thảo luận tiếp theo. 

Ngoài ra, còn có nhiều vấn đề không có trong các Điều khoản khi một Công ty mới thành lập hoặc chưa bao giờ có mặt. Ngoài ra, một Công ty Liên doanh có thể lựa chọn tư cách là "Công ty Liên doanh một mình" trong một "quan hệ tương tự đối tác" (Quasi Partnership) để tránh mọi tiết lộ không cần thiết cho Chính phủ hoặc Công chúng.

- Một số vấn đề trong thỏa thuận của các cổ đông là:

(i) Định giá quyền sở hữu trí tuệ, chẳng hạn như định giá IPR của một đối tác và, chẳng hạn, bất động sản của đối tác kia;

(ii) Sự kiểm soát của Công ty bằng số lượng giám đốc hoặc "tài trợ" của nó;

(iii) Số lượng giám đốc và quyền của những người sáng lập đối với các giám đốc được chỉ định của họ cho thấy liệu một cổ đông có chiếm ưu thế hay chia sẻ bình đẳng hay không;

(iv) Quyết định quản lý - cho dù hội đồng quản trị hay người sáng lập;

(v) Khả năng chuyển nhượng cổ phần - quyền chuyển nhượng của người sáng lập cho các thành viên khác của Công ty;

(vi) Chính sách cổ tức (Dividend Policy) - phần trăm lợi nhuận được công bố khi có lợi nhuận;

(vii) Kết thúc - các điều kiện, thông báo cho các thành viên;

(viii) Bảo mật bí quyết và thỏa thuận của người sáng lập và hình phạt nếu tiết lộ;

(ix) Quyền từ chối đầu tiên (First right of refusal) - Quyền mua và trả giá ngược lại của Người sáng lập Liên doanh.

Có nhiều tính năng phải được đưa vào thỏa thuận của các cổ đông, điều này khá riêng tư đối với các bên khi họ bắt đầu. Thông thường, nó không yêu cầu phải phục tùng bất kỳ cơ quan có thẩm quyền nào.

Tài liệu cơ bản khác phải được trình bày rõ ràng là Điều khoản, đây là tài liệu đã xuất bản và được các thành viên biết đến. Điều này lặp lại thỏa thuận của các cổ đông về số lượng giám đốc mà mỗi người sáng lập có thể bổ nhiệm vào hội đồng quản trị; liệu hội đồng quản trị hay những người sáng lập; việc đưa ra quyết định theo đa số đơn giản (50%+1) trong số những người có mặt hoặc theo đa số 51% hoặc 75% với tất cả các giám đốc có mặt (người thay thế/ người được ủy quyền của họ ); việc triển khai các quỹ của Công ty; mức nợ; tỷ lệ lợi nhuận có thể được tuyên bố là cổ tức; v.v. Điều quan trọng nữa là điều gì sẽ xảy ra nếu công ty bị giải thể, nếu một trong các đối tác qua đời hoặc nếu Công ty bị bán.

Thông thường, các Công ty Liên doanh thành công nhất là những Công ty có quan hệ đối tác 50:50 với mỗi bên có cùng số lượng giám đốc nhưng luân phiên kiểm soát Công ty hoặc có quyền bổ nhiệm Chủ tịch và Phó chủ tịch Công ty. Đôi khi một bên có thể cho một người đáng tin cậy riêng biệt bỏ phiếu thay cho phiếu bầu ủy quyền của Người sáng lập tại các cuộc họp hội đồng quản trị. 

Gần đây, trong một vụ án lớn, Tòa án Tối cao Ấn Độ đã cho rằng các Bản ghi nhớ (không có chi tiết trong các điều khoản của hiệp hội) là "vi hiến" mang lại sự minh bạch hơn cho các cam kết.

3- Giải thể Liên doanh

Liên doanh không phải là một cấu trúc lâu dài. Nó có thể bị giải thể khi:

- Mục đích của Liên doanh ban đầu đã đáp ứng,
- Mục tiêu của Liên doanh ban đầu không được đáp ứng,
- Một trong hai hoặc cả hai bên phát triển các mục tiêu mới,
- Một trong hai hoặc cả hai bên không còn đồng ý với mục tiêu Liên doanh,
- Thời gian thỏa thuận Liên doanh đã hết,
- Các vấn đề pháp lý hoặc tài chính,
- Điều kiện thị trường phát triển có nghĩa là Liên doanh không còn phù hợp hoặc phù hợp,
- Bên này thâu tóm bên kia.

Xem thêm: Hợp danh hữu hạn (Limited Partnership)

III- RỦI RO TRONG LIÊN DOANH

Liên doanh là hình thức rủi ro của quan hệ đối tác kinh doanh. Các tài liệu về kinh doanh và quản lý đã chú ý đến các yếu tố xung đột và chủ nghĩa cơ hội khác nhau trong các Liên doanh, đặc biệt là ảnh hưởng của cơ cấu kiểm soát của Công ty mẹ, thay đổi quyền sở hữu và môi trường đầy biến động. Liên doanh ở các khu vực pháp lý khác nhau:

1- Liên doanh tại Trung Quốc

Theo báo cáo của Hội nghị Liên Hợp Quốc về Thương mại và Phát triển năm 2003, Trung Quốc là nước nhận 53,5 tỷ đô la Mỹ trong đầu tư trực tiếp nước ngoài, lần đầu tiên trở thành nước nhận đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn nhất thế giới, vượt qua Mỹ. Đồng thời, cho phép thành lập gần 500.000 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Mỹ có 45.000 dự án (đến năm 2004) với vốn đầu tư tại chỗ hơn 48 tỷ. 

Cho đến gần đây, không có hướng dẫn nào về cách xử lý đầu tư nước ngoài do tính chất hạn chế của Trung Quốc đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Sau năm 1976, các sáng kiến trong ngoại thương bắt đầu được áp dụng. Luật áp dụng cho đầu tư trực tiếp nước ngoài đã được làm rõ vào năm 1979, trong khi Liên doanh vốn cổ phần Trung - Nước ngoài đầu tiên diễn ra vào năm 2001, pháp luật đã được cải thiện kể từ đó.

Các Công ty có đối tác nước ngoài có thể thực hiện các hoạt động sản xuất và bán hàng tại Trung Quốc và có thể bán thông qua mạng lưới bán hàng của chính họ. Các Công ty nước ngoài của Trung Quốc có quyền xuất khẩu mà các Công ty hoàn toàn của Trung Quốc không có, vì Trung Quốc mong muốn nhập khẩu công nghệ nước ngoài bằng cách khuyến khích các Công ty Liên doanh và các công nghệ mới nhất.

Theo pháp luật Trung Quốc, các Doanh nghiệp nước ngoài được chia thành một số loại cơ bản. Trong số này, năm sẽ được mô tả hoặc đề cập ở đây: ba liên quan đến công nghiệp và dịch vụ và hai là phương tiện cho đầu tư nước ngoài. Năm loại doanh nghiệp nước ngoài của Trung Quốc là: (i) Liên doanh vốn cổ phần Trung Quốc - Nước ngoài (The Sino-Foreign Equity Joint Ventures), (ii) Liên doanh hợp tác Trung Quốc - Nước ngoài (Sino-Foreign Co-operative Joint Ventures), (iii) Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài (Wholly Foreign-Owned Enterprises), mặc dù chúng không hoàn toàn thuộc về Liên doanh, cộng với: (iv) Công ty đầu tư nước ngoài bị hạn chế bởi cổ phần (Foreign Investment Companies Limited by Shares), và: (v) Công ty đầu tư thông qua nhà đầu tư nước ngoài (Investment Companies through Foreign Investors). Mỗi loại được mô tả dưới đây.

- Liên doanh góp vốn:

Luật EJV (The Sino-Foreign Equity Joint Ventures, viết tắt: EJV): giữa đối tác Trung Quốc và Công ty nước ngoài. EJV được kết hợp bằng cả tiếng Trung (chính thức) và tiếng Anh (có giá trị như nhau), với trách nhiệm hữu hạn. Trước khi Trung Quốc gia nhập WTO thì EJV chiếm ưu thế. Trong chế độ EJV, các đối tác chia sẻ lợi nhuận, thua lỗ và rủi ro theo tỷ lệ bằng với phần đóng góp tương ứng của họ vào vốn đăng ký của liên doanh. Những điều này tăng lên theo cùng tỷ lệ với sự gia tăng vốn đăng ký.

Hợp đồng Liên doanh kèm theo các Điều khoản liên kết của EJV là hai văn bản pháp lý cơ bản nhất của dự án. Các Điều khoản phản ánh nhiều điều khoản của Hợp đồng Liên doanh. Trong trường hợp có xung đột, tài liệu Liên doanh được ưu tiên. Các tài liệu này được lập cùng lúc với báo cáo khả thi. Ngoài ra còn có các tài liệu phụ trợ (được gọi là "Offsets" ở Mỹ) bao gồm bí quyết, thương hiệu và thỏa thuận cung cấp thiết bị.

Vốn chủ sở hữu tối thiểu được quy định cho đầu tư (cắt ngắn), trong đó mức vốn chủ sở hữu và nợ nước ngoài là: 

(i) Dưới 03 triệu đô la Mỹ, vốn chủ sở hữu phải chiếm 70% khoản đầu tư;

(ii) Từ 03 triệu đô la Mỹ đến 10 triệu đô la Mỹ, vốn chủ sở hữu tối thiểu phải là 2,1 triệu đô la Mỹ và ít nhất 50% khoản đầu tư;

(iii) Từ 10 triệu đô la Mỹ đến 30 triệu đô la Mỹ, vốn chủ sở hữu tối thiểu phải là 5 triệu đô la Mỹ và ít nhất 40% khoản đầu tư;

(iv) Hơn 30 triệu đô la Mỹ, vốn chủ sở hữu tối thiểu phải là 12 triệu đô la Mỹ và ít nhất 1/3 số tiền đầu tư.

Ngoài ra còn có các cấp trung gian. Vốn đầu tư nước ngoài trong tổng dự án ít nhất phải là 25%. Không có khoản đầu tư tối thiểu nào được đặt ra cho đối tác Trung Quốc. Thời điểm đầu tư phải được đề cập trong Thỏa thuận và việc không đầu tư trong thời gian đã định sẽ bị phạt.

- Liên doanh Hợp tác xã:

Liên doanh hợp tác xã (Co-operative Joint Ventures, viết tắt: CJV): được cho phép theo Liên doanh hợp tác Trung Quốc - Nước ngoài. Doanh nghiệp hợp tác xã còn được gọi là Doanh nghiệp hoạt động theo hợp đồng.

Các CJV có thể có cấu trúc hạn chế hoặc không giới hạn - do đó, có hai phiên bản. Phiên bản trách nhiệm hữu hạn tương tự như EJV về tình trạng cấp phép - nhà đầu tư nước ngoài cung cấp phần lớn vốn và công nghệ và bên Trung Quốc cung cấp đất đai, tòa nhà, thiết bị... Tuy nhiên, không có giới hạn tối thiểu đối với đối tác nước ngoài mà cho phép anh ta trở thành một cổ đông thiểu số.

Hình thức khác của CJV tương tự như Công ty hợp danh trong đó các bên cùng chịu trách nhiệm vô hạn đối với các khoản nợ của doanh nghiệp mà không thành lập pháp nhân riêng. Trong cả hai trường hợp, tư cách của doanh nghiệp được thành lập là của một người Trung Quốc hợp pháp có thể thuê lao động trực tiếp, chẳng hạn như một người liên hệ quốc gia Trung Quốc. Mức tối thiểu của vốn được đăng ký ở các cấp độ đầu tư khác nhau.

Những điểm khác biệt khác so với EJV cần được lưu ý:

(i) Hợp tác xã Liên doanh không nhất thiết phải là một pháp nhân;

(ii) Các thành viên trong CJV được phép chia lợi nhuận trên cơ sở thỏa thuận, không nhất thiết phải theo tỷ lệ góp vốn. Tỷ trọng này cũng xác định khả năng kiểm soát và rủi ro của doanh nghiệp trong cùng một tỷ lệ;

(iii) Có thể hoạt động trong CJV trong khu vực hạn chế;

(iv) Một CJV có thể cho phép các cấp quản lý và kiểm soát tài chính được đàm phán, cũng như các phương thức truy đòi liên quan đến hợp đồng thuê thiết bị và dịch vụ. Trong một EJV, việc kiểm soát quản lý thông qua việc phân bổ các ghế trong Hội đồng quản trị;

(v) Trong thời hạn của Liên doanh, người tham gia nước ngoài có thể thu hồi khoản đầu tư của mình, với điều kiện hợp đồng quy định điều đó và tất cả tài sản cố định sẽ trở thành tài sản của người tham gia Trung Quốc khi chấm dứt Liên doanh.

(vi) Các đối tác nước ngoài thường có thể đạt được mức độ kiểm soát mong muốn bằng cách thương lượng quyền quản lý, biểu quyết và nhân sự đối với các điều khoản của CJV; vì quyền kiểm soát không phải được phân bổ theo cổ phần.

Tiện lợi và linh hoạt là đặc điểm của loại hình đầu tư này. Do đó, việc tìm đối tác hợp tác và đạt được thỏa thuận sẽ dễ dàng hơn.

Với những thay đổi trong luật, có thể nhanh chóng hợp nhất với một Công ty Trung Quốc. Một nhà đầu tư nước ngoài không cần phải thành lập một Công ty mới ở Trung Quốc. Thay vào đó, nhà đầu tư sử dụng giấy phép kinh doanh của đối tác Trung Quốc, theo thỏa thuận hợp đồng. Tuy nhiên, theo CJV, khu đất vẫn thuộc quyền sở hữu của đối tác Trung Quốc.

Có một lợi thế khác: tỷ lệ phần trăm CJV thuộc sở hữu của mỗi đối tác có thể thay đổi trong suốt vòng đời của Liên doanh, mang lại cho nhà đầu tư nước ngoài quyền lựa chọn, bằng cách nắm giữ vốn chủ sở hữu cao hơn, có được tỷ lệ hoàn vốn nhanh hơn với mong muốn đồng thời của đối tác Trung Quốc là vai trò lớn hơn sau này của việc duy trì kiểm soát lâu dài.

Các bên trong bất kỳ Liên doanh nào, EJV, CJV hoặc WFOE chuẩn bị một nghiên cứu khả thi nêu trên. Đây là một tài liệu không ràng buộc - các bên vẫn được tự do lựa chọn không tiếp tục dự án. Nghiên cứu khả thi phải bao gồm các khía cạnh kỹ thuật và thương mại cơ bản của dự án, trước khi các bên có thể tiến hành chính thức hóa các tài liệu pháp lý cần thiết. Nghiên cứu nên bao gồm các chi tiết được đề cập trước đó trong Nghiên cứu khả thi (đối tác Trung Quốc đệ trình).

- Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài:

Có Luật cơ bản của Trung Quốc liên quan đến các Doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài - Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài (Wholly Foreign-Owned Enterprises, viết tắt: WFOEs). Việc Trung Quốc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào khoảng năm 2001 đã có những tác động sâu sắc đến đầu tư nước ngoài. Không phải là một Liên doanh, chúng chỉ được xem xét ở đây để so sánh hoặc tương phản.

Để thực hiện các cam kết của WTO, Trung Quốc thỉnh thoảng xuất bản các phiên bản cập nhật của "Danh mục đầu tư" (ảnh hưởng đến các hoạt động mạo hiểm) bị cấm, bị hạn chế.

WFOE là một pháp nhân Trung Quốc và phải tuân theo tất cả luật pháp Trung Quốc. Như vậy, nó được phép ký kết hợp đồng với các cơ quan chính phủ thích hợp để có được quyền sử dụng đất, thuê các tòa nhà và nhận các dịch vụ tiện ích. Về điểm này, WFOE giống với CJV hơn là EJV.

WFOEs được Trung Quốc kỳ vọng sẽ sử dụng các công nghệ hiện đại nhất và xuất khẩu ít nhất 50% sản lượng của họ, với toàn bộ khoản đầu tư sẽ do nhà đầu tư nước ngoài cung cấp hoàn toàn và doanh nghiệp nằm trong toàn quyền kiểm soát của nhà đầu tư nước ngoài.

WFOEs thường là doanh nghiệp trách nhiệm hữu hạn (giống như với EJV) nhưng trách nhiệm pháp lý của giám đốc, người quản lý, cố vấn và nhà cung cấp phụ thuộc vào các quy tắc chi phối các Bộ hoặc Bộ kiểm soát trách nhiệm sản phẩm, an toàn lao động hoặc bảo vệ môi trường.

Một lợi thế mà WFOE có được so với các giải pháp thay thế của nó là tăng cường bảo vệ bí quyết của mình nhưng nhược điểm chính là không có bên Trung Quốc quan tâm và có ảnh hưởng.

Các phần của bài viết này (những phần liên quan đến Phân tích phân phối của Liên doanh trong ngành) cần được cập nhật. Vui lòng giúp cập nhật bài viết này để phản ánh các sự kiện gần đây hoặc thông tin mới có sẵn (tháng 11 năm 2013).

Kể từ Quý III năm 2004, WFOEs đã thay thế EJV và CJV như sau: 

Phân tích phân phối của Liên doanh trong ngành - Trung Quốc:

Loại Liên doanh    2000    2001    2002    2003    2004 (quý 3)
- WFOE    46,9    50.3    60.2    62,4    66,8
- EJV,%    35,8    34,7    20.4    29,6    26,9
- CJV,%    15,9    12.9    9,6    7.2    5.2
- Liên doanh linh tinh    1.4    2.1    1.8    1.8    1.1
- CJV (Số)    1735    1589    1595    1547    996
() = Các dự án tài chính của EJV/CJV () = Các Liên doanh được phê duyệt.

- Công ty đầu tư nước ngoài bị hạn chế bởi cổ phần: 

Các Công ty đầu tư nước ngoài bị hạn chế bởi cổ phần (Foreign Investment Companies Limited by Shares) - được thành lập theo Đạo luật Đầu tư Trung - Nước ngoài. Vốn bao gồm giá trị của cổ phiếu để đổi lấy giá trị của tài sản được trao cho doanh nghiệp. Trách nhiệm của các cổ đông, bao gồm cả nợ, bằng số cổ phần được mua bởi mỗi đối tác.

Vốn đăng ký của Công ty phần vốn góp. Số vốn đăng ký tối thiểu của Công ty phải là 30 triệu RMB. Các Công ty này có thể được niêm yết trên hai Sở giao dịch chứng khoán duy nhất của Trung Quốc - Sở giao dịch chứng khoán Thượng Hải và Thâm Quyến. Cổ phiếu có hai loại được cho phép trên các Sàn giao dịch này - Cổ phiếu loại "A" và Loại "B".

Loại A chỉ được sử dụng bởi công dân Trung Quốc và chỉ có thể được giao dịch bằng Nhân dân tệ. Cổ phiếu loại "B" có mệnh giá bằng Nhân dân tệ nhưng có thể được giao dịch bằng ngoại hối và bởi các công dân Trung Quốc có ngoại hối. Hơn nữa, các doanh nghiệp Nhà nước đã được phê duyệt cổ phần hóa có thể giao dịch tại Hồng Kông bằng cổ phiếu "H" và trong các sàn giao dịch NYSE.

Cổ phiếu "A" được phát hành và giao dịch bởi công dân Trung Quốc. Chúng được phát hành và giao dịch bằng Nhân dân tệ. Cổ phiếu "B" có mệnh giá bằng Nhân dân tệ nhưng được giao dịch bằng ngoại tệ. Từ tháng 3 năm 2001, ngoài các nhà đầu tư nước ngoài, công dân Trung Quốc có ngoại tệ cũng có thể giao dịch cổ phiếu "B".

- Công ty đầu tư của Nhà đầu tư nước ngoài:

Công ty đầu tư thông qua nhà đầu tư nước ngoài (Investment Companies through Foreign Investors, viết tắt: ICFI): là những Công ty được thành lập tại Trung Quốc bởi doanh nghiệp duy nhất có vốn đầu tư nước ngoài hoặc Liên doanh với các đối tác Trung Quốc tham gia đầu tư trực tiếp. ICFI được thành lập như một Công ty có trách nhiệm hữu hạn.

Tổng số tài sản của Nhà đầu tư trong năm trước khi nộp đơn xin kinh doanh tại Trung Quốc phải không dưới 400 triệu đô la Mỹ trên lãnh thổ Trung Quốc. Vốn góp đã thanh toán phải vượt quá 10 triệu USD. Ngoài ra, trong dự án dự định đầu tư của nhà đầu tư phải có trên 03 đề xuất dự án đã được phê duyệt. Cổ phiếu của các Công ty đầu tư nước ngoài do Nhà đầu tư nước ngoài (ICFI) đăng ký và nắm giữ phải là 25%. Công ty đầu tư có thể được thành lập như một EJV.

Vào ngày 15/03/2019, Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc của Trung Quốc đã thông qua Luật Đầu tư nước ngoài thống nhất, có hiệu lực vào ngày 01/01/2020.

Danh sách các Liên doanh nổi bật ở Trung Quốc:

- AMD-Trung Quốc,
- Huawei-Symantec.

Tập đoàn Công nghiệp ô tô Thượng Hải, còn được gọi là SAIC và SAIC-GM, là một Công ty sản xuất ô tô thuộc sở hữu nhà nước của Trung Quốc có trụ sở tại Thượng Hải, hoạt động trong Liên doanh với General Motors thuộc sở hữu của Mỹ. Các sản phẩm do các Công ty Liên doanh SAIC sản xuất được bán dưới các Thương hiệu bao gồm Baojun, Buick, Chevrolet, Iveco, Škoda và Volkswagen.

General Motors với SAIC Motor, trước đây gọi là Shanghai General Motors Company Ltd., sản xuất nhiều ô tô ở Trung Quốc tại bốn (04) nhà máy, đặc biệt là Buick, ngoài ra còn có một số mẫu Chevrolet và Cadillac. Vào tháng 11/2018, Công ty đã công bố các mẫu xe Chevrolet mới cho thị trường Trung Quốc, bao gồm Malibu XL trục cơ sở kéo dài, khái niệm SUV Chevy mới và Monza mới.

Tập đoàn Volkswagen Trung Quốc - Rất nhiều xe ô tô VW và Audi được sản xuất tại Trung Quốc được sản xuất theo hai Quan hệ đối tác Liên doanh: FAW-Volkswagen và SAIC Volkswagen.

Beijing Benz Automotive Co., Ltd là Liên doanh giữa BAIC Motor và Daimler AG. Tính đến ngày 22 tháng 11 năm 2018, toàn bộ hai triệu xe Mercedes-Benz đã được sản xuất tại Trung Quốc bởi liên minh này.

Dongfeng Motor Corporation: là một nhà sản xuất ô tô quốc doanh của Trung Quốc có trụ sở tại Vũ Hán. Công ty là nhà sản xuất xe lớn thứ hai của Trung Quốc vào năm 2017, tính theo số lượng sản xuất, đã sản xuất hơn 4,1 triệu xe trong năm đó. Các thương hiệu riêng của nó là Dongfeng, Venucia và Dongfen Fengshen. Các Liên doanh bao gồm Cummins, Dana, Honda, Nissan, Infiniti, PSA Peugeot Citroën, Renault, Kia và Yulon. Tập đoàn FAW là một Công ty sản xuất ô tô thuộc sở hữu nhà nước của Trung Quốc có trụ sở tại Trường Xuân. Năm 2017, hãng đứng thứ 3 về sản lượng với 3,3 triệu xe. FAW bán các sản phẩm dưới ít nhất mười thương hiệu khác nhau bao gồm thương hiệu riêng và Besturn /Bēnténg, Dario, Haima, Hongqi, Jiaxing, Jie Fang, Jilin, Oley, Jie Fang và Yuan Zheng, và Tianjin Xiali. Liên doanh FAW bán Audi, General Motors, Mazda, Toyota và Volkswagen.

GAC (Tập đoàn ô tô Quảng Châu), là nhà sản xuất ô tô thuộc sở hữu nhà nước của Trung Quốc có trụ sở tại Quảng Châu. Họ là nhà sản xuất lớn thứ sáu vào năm 2017, sản xuất hơn 2 triệu xe vào năm 2017. GAC bán xe du lịch dưới thương hiệu Trumpchi. Ở Trung Quốc, họ được biết đến nhiều hơn nhờ Liên doanh nước ngoài với Fiat, Honda, Isuzu, Mitsubishi và Toyota.

Tập đoàn ô tô Trường An: là một nhà sản xuất ô tô có trụ sở chính tại Trùng Khánh và là một doanh nghiệp nhà nước. Năm 2017, Công ty đứng thứ tư về sản lượng với 2,8 triệu xe vào năm 2017. Changan thiết kế, phát triển, sản xuất và bán xe du lịch mang thương hiệu Changan và xe thương mại mang thương hiệu Chana. Các Công ty Liên doanh nước ngoài bao gồm Suzuki, Ford, Mazda và PSA Peugeot Citroën.

Chery, một nhà sản xuất ô tô quốc doanh của Trung Quốc có trụ sở tại An Huy. Họ là nhà sản xuất lớn thứ mười vào năm 2017. Họ có một Liên doanh nước ngoài với Jaguar Land Rover để sản xuất ô tô Jaguar và Land Rover tại Trung Quốc.

Brilliance Auto, là nhà sản xuất ô tô thuộc sở hữu nhà nước của Trung Quốc có trụ sở tại Thẩm Dương. Họ là nhà sản xuất lớn thứ chín vào năm 2017. Họ có một Liên doanh nước ngoài với BMW và cũng bán xe chở khách dưới thương hiệu Brilliance của riêng họ và dự kiến sẽ sản xuất 520.000 xe tại Trung Quốc trong năm 2019.

Honda Motor Co liên doanh với Tập đoàn ô tô Quảng Châu (GAC Group).

Geely-Volvo, Geely, là nhà sản xuất ô tô tư nhân lớn nhất và là nhà sản xuất lớn thứ bảy ở Trung Quốc. Thương hiệu hàng đầu của họ Geely Auto đã trở thành thương hiệu xe hơi hàng đầu của Trung Quốc vào năm 2017. Hiện là một trong những tập đoàn ô tô phát triển nhanh nhất thế giới, Geely được biết đến với quyền sở hữu thương hiệu xe hơi hạng sang của Thụy Điển, Volvo. Tại Trung Quốc, các thương hiệu xe du lịch của họ bao gồm Geely Auto, Volvo Cars và Lynk & Co. Toàn bộ Công ty Volvo Cars đã thuộc sở hữu của Công ty Trung Quốc Geely từ năm 2010 và sản xuất hầu hết các loại xe XC60 tại Trung Quốc để xuất khẩu.

Xem thêm: Dịch vụ pháp lý trong lĩnh vực thương mại của Công ty Luật TNHH Everest

2- Liên doanh tại Ấn Độ

Các Công ty Liên doanh là hình thức đầu tư của Công ty được ưu tiên nhưng không có luật riêng cho Liên doanh. Các công ty được thành lập ở Ấn Độ được đối xử ngang bằng với các Công ty trong nước.

Hai bên trên đăng ký mua cổ phần của Công ty Liên doanh theo tỷ lệ đã thỏa thuận, bằng tiền mặt và bắt đầu hoạt động kinh doanh mới.

Hai bên, (cá nhân hoặc Công ty), thành lập một Công ty ở Ấn Độ. Hoạt động kinh doanh của một bên được chuyển giao cho Công ty và khi xem xét việc chuyển giao đó, cổ phiếu do công ty phát hành và bên đó đăng ký mua. Bên kia đăng ký mua cổ phần bằng tiền mặt.

Cổ đông quảng bá của một Công ty Ấn Độ hiện có và bên thứ ba, người/có thể là Cá nhân/Công ty, một trong số họ là người không cư trú hoặc cả hai người cư trú, hợp tác để cùng thực hiện hoạt động kinh doanh của công ty đó và cổ phần của Công ty đó được bên thứ ba nói trên nắm giữ bên thông qua thanh toán bằng tiền mặt.

Các Công ty tư nhân (chỉ khoảng 2.500 đô la là giới hạn vốn thấp hơn, không có giới hạn trên) được phép ở Ấn Độ cùng với các Công ty đại chúng, có giới hạn hoặc không, tương tự như vậy với Công ty hợp danh. quyền sở hữu duy nhất cũng được cho phép. Tuy nhiên, cái sau được dành riêng cho NRI.

Thông qua hoạt động thị trường vốn, các Công ty nước ngoài có thể giao dịch trên hai sàn giao dịch mà không cần sự cho phép trước của RBI nhưng họ không thể sở hữu hơn 10% vốn cổ phần trong vốn góp của các doanh nghiệp Ấn Độ, trong khi tổng đầu tư tổ chức nước ngoài (FII) vào một doanh nghiệp bị giới hạn ở mức tối đa 24 phần trăm.

Việc thành lập các Công ty con thuộc sở hữu hoàn toàn (WOS) và các văn phòng dự án và văn phòng chi nhánh, được thành lập ở Ấn Độ hay không. Đôi khi, người ta hiểu rằng các nhánh bắt đầu thử nghiệm thị trường và nắm bắt hương vị của nó. Việc chuyển nhượng vốn cổ phần từ người cư trú sang người không cư trú trong các vụ sáp nhập và mua lại (M&A) thường được cho phép theo lộ trình tự động. Tuy nhiên, nếu M&A thuộc các lĩnh vực và hoạt động cần có sự cho phép trước của chính phủ (Phụ lục 1 của Chính sách) thì việc chuyển nhượng chỉ có thể tiến hành sau khi được phép.

Liên doanh với các Công ty thương mại được cho phép cùng với việc nhập khẩu các nhà máy và máy móc cũ.

Dự kiến trong một Liên doanh, đối tác nước ngoài cung cấp hợp tác kỹ thuật và giá cả bao gồm thành phần ngoại hối, trong khi đối tác Ấn Độ cung cấp nhà máy hoặc địa điểm xây dựng cũng như máy móc và bộ phận sản phẩm sản xuất trong nước. Nhiều Công ty Liên doanh được thành lập dưới dạng Công ty trách nhiệm hữu hạn đại chúng (LLC) vì những lợi thế của trách nhiệm hữu hạn.

Xem thêm: Dịch vụ pháp lý trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ của Công ty Luật TNHH Everest 

Luật sư Phạm Ngọc Minh - Giám đốc điều hành của Công ty Luật TNHH Everest, tổng hợp

Liên hệ tư vấn
Liên hệ tư vấn

Chuyên viên tư vấn sẵn sàng hỗ trợ!

Tư vấn sử dụng dịch vụ miễn phí

Hoặc
Đăng ký tư vấn
Công ty luật TNHH Everest - Công ty Luật uy tín tại Việt Nam

Everest
Thương hiệu tư vấn pháp lý hàng đầu
Thương hiệu tư vấn pháp lý hàng đầu

Top 20 thương hiệu vàng Việt Nam

Tự hào là đối tác thương hiệu lớn
Video
Everest - Hành trình vượt khó cùng đối tác
Hợp đồng góp vốn thành lập doanh nghiệp
Gặp các chuyên gia Đội ngũ Luật sư giàu kinh nghiệm
Để làm được những điều đó, mỗi một luật sư thành viên thuộc Hãng luật của chúng tôi đều phải rèn luyện không ngừng để có kiến thức Uyên thâm về chuyên môn, luôn đặt Tình yêu và Trách nhiệm vào công việc
4.1 5 (1 đánh giá)
0 bình luận, đánh giá về Liên doanh (Joint Venture)

Xin chào quý khách. Quý khách hãy để lại bình luận, chúng tôi sẽ phản hồi sớm

Trả lời.
Thông tin người gửi
Bình luận sản phẩm
Nhấn vào đây để đánh giá
Thông tin người gửi
Tổng đài tư vấn: 024-66 527 527
Giờ làm việc: Thứ 2 - Thứ 7: 8h30 - 18h00
0.97882 sec| 1202.922 kb