Hòa giải vụ án dân sự

10/03/2023
Sau khi thụ lí vụ án, để giải quyết vụ án, toà án tiến hành giải thích pháp luật, giúp đỡ các đương sự giải quyết mâu thuẫn, thoả thuận với nhau về việc giải quyết các vấn đề của vụ án dân sự có tranh chấp. Hoạt động này của toà án được gọi là hoà giải vụ án dân sự. Hoà giải vụ án dân sự là hoạt động tố tụng do toà án tiến hành nhằm giúp đỡ các đương sự thoả thuận với nhau về giải quyết vụ án dân sự.

1- Khái niệm và ý nghĩa của hoà giải vụ án dân sự

Sau khi thụ lí vụ án, để giải quyết vụ án, toà án tiến hành giải thích pháp luật, giúp đỡ các đương sự giải quyết mâu thuẫn, thoả thuận với nhau về việc giải quyết các vấn đề của vụ án dân sự có tranh chấp. Hoạt động này của toà án được gọi là hoà giải vụ án dân sự. Hoà giải vụ án dân sự là hoạt động tố tụng do toà án tiến hành nhằm giúp đỡ các đương sự thoả thuận với nhau về giải quyết vụ án dân sự.
Cơ sở của hoà giải vụ án dân sự là quyền tự định đoạt của đương sự. Đe giải quyết vụ án dân sự, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự, toà án không chỉ xét xử mà còn hoà giải vụ án dân sự. Điều 10 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định, toà án có trách nhiệm tiến hành hoà giải và tạo điều .kiện thuận lợi để các đương sự thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án dân sự theo quy định của Bộ luật này.
Trong vụ án dân sự, các đương sự là chủ thể của các quan hệ pháp luật về nội dung có tranh chấp cần giải quyết nên có quyền thương lượng, điều đình với nhau giải quyết tranh chấp. Tuy nhiên, sự định đoạt này phải xuất phát từ ý chí chủ quan, từ sự tự nguyện của chính đương sự. Không ai, bằng bất kì hình thức nào có thể cưỡng ép, bắt buộc đương sự thoả thuận với nhau giải quyết những mâu thuẫn, tranh chấp giữa họ. Đối với những vụ án do cơ quan, tổ chức khởi kiện để bảo vệ quyền và ỉợi ích hợp pháp của người khác, cơ quan, tổ chức không phải là chủ thể của quan hệ pháp luật tranh chấp nên không có quyền hoà giải với bị đơn.

Trong quá trình hoà giải, toà án giữ vai trò đặc biệt quan trọng. Với tư cách là cơ quan xét xử của Nhà nước, toà án phải chủ động trong việc hoà giải để giúp đỡ các đương sự thoả thuận với nhau. Vai trò chủ động này được thể hiện ở chỗ sau khi đã thụ lí vụ án, toà án chủ động triệu tập các đương sự đến để hoà giải. Khi hoà giải, toà án chủ động giải thích để các đương sự hiểu pháp luật về vấn đề họ đang tranh chấp, giải quyết vướng mắc giữa đương sự để họ thoả thuận với nhau giải quyết các vấn đề của vụ án. Vì vậy, dù toà án trong hoà giải không có quyền thương lượng điều đình như đương sự nhưng lại là một chủ thể không thể thiếu giữ vai trò trung gian giúp đỡ các đương sự thoả thuận với nhau về giải quyết vụ án.

Theo quy định tại Điều 205 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015 thì việc hoà giải vụ án dân sự trước khi xét xử sơ thẩm là bắt buộc, trừ những vụ án không được hoà giải hoặc không tiến hành hoà giải được quy định tại Điều 206 và Điều 207 của Bộ luật này hoặc vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn. Quy định này xuất phát từ tầm quan trọng của hoà giải. Nếu hoà giải thành cũng có nghĩa là toà án đã hoàn thành việc giải quyết vụ án mà không cần mở phiên toà.

Việc hoà giải thành vụ án dân sự có các ý nghĩa sau đây:
- Toà án hoà giải thành vụ án dân sự thì không cần phải mở phiên toà xét xử vụ án, giảm bớt một giai đoạn tố tụng kéo dài và cực kì phức tạp, tiết kiệm được thời gian, tiền của cho Nhà nước cũng như cho nhân dân;
- Hoà giải thành vụ án dân sự giúp toà án giải quyết được được mâu thuẫn giữa các đương sự, góp phần xây dựng khối đoàn kết trong nhân dân.

Ngoài ra, việc hoà giải còn góp phần quan trọng vào việc nâng cao nhận thức và hiểu biết pháp luật, nâng cao trình độ dân trí, giáo dục nếp sống và làm việc theo pháp luật trong nhân dân. Trong trường hợp hoà giải vụ án dân sự không thành thì việc hoà giải cũng giúp toà án có điều kiện nắm vững hơn nội dung vụ án, hiếu biết rõ hơn tâm tư, tình cảm của đương sự cũng như những vướng mắc trong suy nghĩ của họ, từ đó có thể xác định được đường lối giải quyết vụ án khi đưa vụ án ra xét xử.

2- Nguyên tắc tiến hành hoà giải

Theo khoản 2 Điều 205 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015, việc hoà giải vụ án dân sự được tiến hành theo các nguyên tắc sau đây:
- Tôn trọng sự tự nguyện thoả thuận thực sự của đương sự, tránh lối hoà giải một cách gò bó, cưỡng ép đối với một bên hoặc cả hai bên đương sự. cấm dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực đế bắt buộc các đương sự phải thoả thuận trái với ý chí của họ;
- Việc hoà giải phải được tiến hành theo đúng quy định của pháp luật; nội dung sự thoả thuận của các đương sự không được trái pháp luật và đạo đức xã hội.
Ngoài các nguyên tắc hoà giải nêu trên, để hoà giải được vụ án, việc hoà giải còn phải vừa tích cực, vừa kiên trì. Tích cực đế có thể giải quyết được nhanh chóng vụ án, không để việc hoà giải kéo dài vô ích khi không có khả năng hoà giải nhưng lại phải kiên trì giải thích cho đương sự hiểu rõ pháp luật áp dụng giải quyết vụ án và đi sâu giải quyết các mắc mứu trong tâm tư tình cảm của họ.

3- Phạm vi và nội dung hoà giải vụ án dân sự

a) Phạm vi hoà giải vụ án dân sự

Tại khoản 1 Điều 205 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định trách nhiệm hoà giải của toà án: “Trong thời hạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm vụ án, toà án tiến hành hoà giải đê các đương sự thoá thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, trừ những vụ án không được hoà giải hoặc không tiến hành hoà giải được quy định tại Điều 206 và Điều 207 của Bộ luật này hoặc vụ án được giải quyết theo thủ tục rút gọn Do vậy, hoà giải tiến hành đổi với việc giải quyết hầu hết các vụ án dân sự, trừ những trường hợp không hoà giải được hoặc pháp iuật quy định không được hoà giải. Theo Điều 206 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015, toà án không hoà giải đổi với những yêu cầu đòi bồi thường gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước; những vụ án dân sự phát sinh từ giao dịch trái pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội.

Đối với yêu cầu đòi bồi thường gây thiệt hại đến tài sản của Nhà nước, toà án không tiến hành hoà giải vì tài sản của Nhà nước thuộc sở hữu toàn dân. Bất cử hành vi nào gây thiệt hại đến tài sản của'Nhà nước đều là trái pháp luật và phải chịu trách nhiệm bồi thường. Người gây thiệt hại không có quyền điều đình, thương lượng thoả thuận với Nhà nước về trách nhiệm bồi thường của mình. Tuy nhiên, nếu người gây thiệt hại tự nguyện bồi thường và việc bồi thường phù hợp với pháp luật thì toà án có thể chấp nhận.

Đối với những vụ án dân sự phát sinh từ giao dịch trái pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội, toà án cũng không hoà giải vì các giao dịch vô hiệu. Các bên tham gia giao dịch không thể thoả' thuận để giải quyết hành vi vi phạm pháp luật của mình. Tuy nhiên, trong hoàn cảnh hiện nay, nhiều giao dịch dân sự trái pháp luật có những nguyên nhân khách quan nên khi giải quyết vụ án toà án phải xem xét thận trọng để bảo vệ quyền lợi chính đáng của đương sự. Khi giải quyết loại vụ án này, toà án tuyên bố giao dịch vô hiệu và giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu.
Về nguyên tắc, toà án phải hoà giải vụ án dân sự trước khi đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm. Tuy vậy, theo quy định tại Điều 207 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015, đối với những vụ án không tiến hành hoà giải được thì toà án quyết định đưa vụ án ra xét xử. Những vụ án không tiến hành hoà giải được bao gồm:
+ Bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã được toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn cố tình vắng mặt;
+ Đương sự không thể tham gia hoà giải đươc vì có lí do chính đáng như ốm đau, đang ở nước ngoài v.v...;
+ Đương sự là vợ hoặc chồng trong vụ án li hôn là người mất năng lực hành vi dân sự.
+ Một trong các đương sự đề nghị không tiến hành hoà giải.
Đối với những vụ án này, toà án không hoà giải được và như vậy, trong quá trinh giải quyết vụ án không thể có quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự. Tuy nhiên, trong những trường hợp các đương sự tự thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án hoặc rút đơn kiện mà qua việc kiểm tra thấy hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với những quy định của pháp luật, toà án có thể ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án.

Trong tất cả những trường hợp không hoà giải được, toà án phải lập biên bản không hoà giải được, nêu rõ lí do để lưu vào hồ sơ vụ án, sau đó đưa vụ án ra xét xử tại phiên toà.
Đối với những vụ án do cơ quan, tổ chức khởi kiện vì lợi ích của người khấc, nếu phải hoà giải thì toà án không hoà giải giữa cơ quan, tổ chức khởi kiện với bị đơn mà phải hoà giải giữa bị đơn với nguyên đơn (những chủ thể của tranh chấp) hoặc người đại diện của họ, trừ trường hợp pháp luật quy định không được hoà giải hoặc không hoà giải được.

b) Nội dung hoà giải vụ án dân sự

Nội dung hoà giải chính là các vấn đề của vụ án cần được, các bên thoả thuận với nhau giải quyết. Ngoài ra, trong hoà giải vấn đề án phí cũng sẽ được các bên đương sự bàn bạc thương lượng. Các vấn đề cần giải quyểt trong mỗi vụ án khác nhau nên nội dung hoà giải của các vụ án dân sự khác nhau. Tuỳ mồi vụ án cụ thể mà toà án phải giúp các đương sự thoả thuận giải quyết những vấn đề nhất định như thoả thuận về mức, phương thức bồi thường thiệt hại trong vụ án đòi bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng; việc phân chia di sản trong vụ án về thừa kế v.v...

4- Thành phần và thủ tục hoà giải vụ án dân sự

a) Thành phần phiên hoà giải vụ án dân sự

Theo quy định tại Điều 209 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015, thành phần phiên họp hoà giải bao gồm:
+ Thẩm phán chủ trì phiên họp hoà giải;
+ Thư kí toà án ghi biên bản hoà giải;
+ Các đương sự hoặc người đại diện hợp pháp của họ.
Trong một vụ án có nhiều đương sự mà có đương sự vắng mặt trong phiên hoà giải nhưng các đương sự có mặt vẫn đồng ý tiến hành hoà giải và việc hoà giải đó không ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sự vắng mặt thì thẩm phán tiến hành hoà giải giữa các đứơng sự có mặt; nếu các đương sự đề nghị hoãn phiên hoà giải để có mặt tất cả các đương sự trong vụ án thì thẩm phán phải hoãn phiên hoà giải.
+ Đại diện tổ chức đại diện tập thể lao động đối với vụ án lao động khi có yêu càu của người lao động, trừ vụ án lao động đã có tổ chức đại diện tập thể lao động là người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho tập thể người lao động, người lao động.
+ Người phiên dịch, nếu đương sự không biết tiếng Việt.
+ Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự.
Ngoài ra, trong trường hợp cần thiết, thẩm phán có thể yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan tham gia phiên hoà giải.
Việc hoà giải là nhằm giúp cho các đương sự thực hiện quyền tự định đoạt của họ và làm cho việc giải quyết vụ án đạt được hiệu quả cao mà không phải xét xử. Vì vậy, Bộ Luật tố tụng dân sự năm 20 15 quy định người tiến hành hoà giải phải là thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, còn thư lá chỉ là người giúp việc và phải có mặt trong phiên hoà giải để ghi biên bản hoà giải. Việc quy định này là cần thiết vì hoà giải là để cho đương sự tự giải quyết với nhau trước, bằng cách thương lượng thoả thuận và sự thoả thuận này phải được toà án công nhận bằng một quyết định.Quyết định này có giá trị bắt buộc đối với các bên đương sự và nó cũng đòi hỏi sự tôn trọng của xã hội. Vì lẽ đó, Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định bắt buộc người đứng ra tổ chức hoà giải và chủ tri phiên hoà giải phải là thẩm phán và đương sự phải có mặt đầy đủ.

b) Trình tự, thủ tục tiến hành phiên hoà giải vụ án dân sự

Theo quy định của Điều 208 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015, trước khi tiến hành phiên hoà giải, toà án phải thông báo cho các đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự về thời gian, địa điểm tiến hành phiên hoà giải, nội dung các vấn đề cần hoà giải.
Để việc hoà giải đạt được kết quả cao, việc hoà giải phải được thực hiện theo quy định tại Điều 210 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015. Trước khi hoà giải, thư kí toà án báo cáo thẩm phán về sự có mặt, vẳng mặt của những người tham gia phiên hoà giải. Thẩm phán chủ tri phiên hoà giải kiểm tra lại sự có mặt và căn cước của những người tham gia phiên hoà giải.

Khi đã có đầy đủ điều kiện để tiến hành hoà giải thì thẩm phán được phân công giải quyết vụ án có cán bộ thư kí toà án giúp việc ghi biên bản sẽ tiến hành phiên hoà giải. Thẩm phán công bố nội dung vụ án đang tranh chấp, phổ biến cho các đương sự biết các quy định của pháp luật có liên quan đến việc giải quyết vụ án để các bên liên hệ đến quyền và nghĩa vụ của mình. Thấm phán phân tích hậu quả pháp lí của việc hoà giải thành hoặc không thành để các bên đương sự tự nguyện thương lượng thoả thuận với nhau về việc giải quyết vụ án.

Sau khi được thẩm phán hướng dẫn và nghe giải thích pháp luật có liên quan đến vụ án đang tranh chấp, đến lượt nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan phát biểu quan điểm của họ về vấn đề đang tranh chấp và đưa ra định hướng giải quyết. Thẩm phán xác định những vấn đề các bên đã thống nhất, những vẩn đề chưa thống nhất và yêu cầu đương sự trình bày bổ sung về những vấn đề chưa rõ, chưa thống nhất. Đối với những ý kiến của đương sự đưa ra cách giải quyết bất hợp lí như khởi kiện đòi tài sản không có căn cứ, yêu cầu bồi thường quá đáng thì thẩm phán chủ trì phải kịp thời phân tích, thẳng thắn chỉ cho họ biết yêu cầu của họ đưa ra là phi lí để họ cân nhắc lại. Sau đó, thẩm phán kết luận về những vấn đề các bên đương sự đã thoả thuận được và những vẩn đề chưa thống nhất.

Khi đương sự thoả thuận được với nhau về các vấn đề phải giải quyết trong vụ án thì toà án lập biên bản hoà giải thành, trong đó nêu rõ nội dung tranh chấp và những nội dung đã được đương sự thoả thuận. Biên bản này chưa có giá trị pháp lí, nó chỉ là tài liệu văn bản xác nhận một sự kiện và nó là cơ sở để toà án ra quyết định công nhận sự thoả thuận của đương sự. Biên bản hoà giải phải có các nội dung theo quy định tại khoản 3 Điều 211 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015. Ngoài ra, biên bản hoà giải phải có đầy đủ chữ kí hoặc điểm chỉ của các đương sự có mặt trong phiên hoà giải, chữ kí của thư kí toà án ghi biên bản và của thẩm phán chủ trì phiên hoà giải. Biên bản này được gửi ngay cho các đương sự tham gia hoà giải.

5- Quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự

Khi phiên hoà giải kết thúc, các bên đương sự đã tìm ra tiếng nói chung, đã thoả thuận được với nhau một giải pháp để giải quyết vự án một cách phù hợp, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cả đôi bên và đã được ghi lại trong biên bản hoà giải. Tuy nhiên, Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định phải dành cho các bên đương sự một thời gian cần thiết nữa để họ suy nghĩ, cân nhắc lại tất cả những nội dung mà họ đã thoả thuận giải quyết tranh chấp. Hết thời hạn đó mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến thì toà án mới ra quyết định công nhận. Theo quy định tại Điều 212 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015, hết thời hạn 7 ngày kể từ ngày lập biên bản hoà giải thành mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó thì thẩm phán chủ trì phiên hoà giải hoặc một thẩm phán được chánh án toà án phân công ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự.

Trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự, toà án phải gửi quyết định đó cho các đương sự và viện kiểm sát cùng cấp.
Thẩm phán chỉ ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự nếu các đương sự thoả thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án. Trong trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 210 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015 mà các đương sự có mặt thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án thì thoả thuận đó chỉ có giá trị đối với những người có mặt và được thẩm phán ra quyết định công nhận nếu không ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sự vắng mặt. Trong trường hợp thoả thuận của họ có ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sự vắng mặt thì thoả thuận này chỉ có giá trị và được thẩm phán ra quyết định công nhận nếu được đương sự vắng mặt tại phiên hoà giải đồng ý bằng văn bản.

Theo quy định tại Điều 213 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015, quyết định công nhận sự thoả thuận của đương sự có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được toà án ban hành. Đương sự không có quyền kháng cáo, viện kiểm sát không có quyền kháng nghị phúc thẩm đối với quyết định này. Sở dĩ Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định như vậy là vì quyết định công nhận sự thoả thuận của đương sự dựa trên sự hoà nhiên, Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định phải dành cho các bên đương sự một thời gian cần thiết nữa để họ suy nghĩ, cân nhắc lại tất cả những nội dung mà họ đã thoả thuận giải quyết tranh chấp. Hết thời hạn đó mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến thì toà án mới ra quyết định công nhận.

Theo quy định tại Điều 212 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015, hết thời hạn 7 ngày kể từ ngày lập biên bản hoà giải thành mà không có đương sự nào thay đổi ý kiến về sự thoả thuận đó thì thẩm phán chủ trì phiên hoà giải hoặc một thẩm phán được chánh án toà án phân công ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự. Trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự, toà án phải gửi quyết định đó cho các đương sự và viện kiểm sát cùng cấp.

Thẩm phán chỉ ra quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự nếu các đương sự thoả thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án. Trong trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 210 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015 mà các đương sự có mặt thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án thì thoả thuận đó chỉ có giá trị đối với những người có mặt và được thẩm phán ra quyết định công nhận nếu không ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sự vắng mặt. Trong trường hợp thoả thuận của họ có ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sự vắng mặt thì thoả thuận này chỉ có giá trị và được thẩm phán ra quyết định công nhận nếu được đương sự vắng mặt tại phiên hoà giải đồng ý bằng văn bản.

Theo quy định tại Điều 213 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015, quyết định công nhận sự thoả thuận của đương sự có hiệu lực pháp luật ngay sau khi được toà án ban hành. Đương sự không có quyền kháng cáo, viện kiểm sát không có quyền kháng nghị phúc thẩm đối với quyết định này. Sở dĩ Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định như vậy là vì quyết định công nhận sự thoả thuận của đương sự dựa trên sự hoà giải tự nguyện của các bên và được tiến hành theo một thủ tục chặt chẽ do luật định. Mặt khác, trước khi toà án ra quyết định, đương sự đã có một thời gian cần thiết là 7 ngày đế suy nghĩ, cân nhắc lại những điều đã cam kết thoả thuận, nếu xét thấy điều cam kết thoả thuận tại phiên hoà giải có gì bất lợi và chưa chín chắn thì vẫn có quyền xin thay đổi để đưa ra giải pháp khác. Chính vì có khoảng thời gian an toàn đó mà quyết định công nhận sau khi ban hành có hiệu lực pháp luật ngay mà vẫn không hề vi phạm quyền của đương sự.

Như vậy, quyết định công nhận sự thoả thuận của đương sự đã khép lại quá trình tố tụng đối với việc giải quyết vụ án. Tuy nhiên, để đề phòng các sai lầm hay vi phạm pháp luật có thể xảy ra trong quá trình tiến hành hoà giải, Điều 213 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015 quy định quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự vẫn có thể bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm nếu có căn cứ cho rằng sự thoả thuận đó là do bị nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa hoặc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội.

Luật sư Phạm Ngọc Minh - Giám đốc điều hành của Công ty Luật TNHH Everest, tổng hợp (từ Giáo trình Bộ Luật tố tụng dân sự Việt Nam - Đại học Luật Hà Nội và một số nguồn khác).

0 bình luận, đánh giá về Hòa giải vụ án dân sự

TVQuản trị viênQuản trị viên

Xin chào quý khách. Quý khách hãy để lại bình luận, chúng tôi sẽ phản hồi sớm

Trả lời.
Thông tin người gửi
Bình luận
Nhấn vào đây để đánh giá
Thông tin người gửi
Tổng đài tư vấn: 024-66 527 527
Giờ làm việc: Thứ 2 - Thứ 7: 8h30 - 18h00
0.26598 sec| 1022.086 kb