Thủ tục đăng ký bào chữa theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015

03/12/2022
Bào chữa là một trong những quyền cơ bản của người bị buộc tội. Ngày nay, với sự pháp triển của hệ thống pháp luật thì quyền bào chữa ngày càng có ý nghĩa quan trọng trong hoạt động tố tụng. Người bào chưa có vai trò rất lớn trong việc thuyết phục thẩm phán và bồi thẩm đoàn đưa ra các quyết định đúng đắn, chính xác, tránh oan sai. Để thực hiện hoạt động bào chữa, người bào chữa phải tiến hành thu thập các chứng cứ quan trọng, thuyết phục nhất, phát triển các bằng chứng đó để xuất trình và tranh luận trước Tòa án.

1- Thủ tục đăng ký bào chữa được áp dụng trong trường hợp nào?

Thời điểm người bào chữa tham gia tố tụng được quy định tại Điều 74, Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015. Cụ thể, thời điểm luật sư bào chữa có thể tham gia tố tụng là từ khi Cơ quan điều tra có quyết định khởi tố bị can.

Tuy nhiên, trong trường hợp bị bắt, tạm giam, tạm giữ bị cáo nếu muốn mời luật sư bào chữa thì cách mời luật sư bao chữa có thể khác một chút luật sư bào chữa có thể tham gia từ khi người bị bắt có mặt tại trụ sở của cơ quan điều tra hoặc cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động từ khi có quyết định tạm giữ. Trường hợp ngoại lệ, khi cần bí mật điều tra thì Viện trưởng Viện Kiểm sát có quyền quyết định và yêu cầu luật sư bào chữa tham gia tố tụng sau khi kết thúc quá trình điều tra.

Nói tóm lại, thời điểm sớm nhất nếu muốn tiến hành thù tục mời luật sư bào chữa tham gia vào quá trình tố tụng là ngày sau khi người bị bắt trình diện tại trụ sở Cơ quan điều tra.

2- Thủ tục đăng ký bào chữa thực hiện như thế nào?

(i) Trong mọi trường hợp tham gia tố tụng, người bào chữa phải đăng kí bào chữa. Khi đăng kí bào chữa, người bào chữa phải xuất trình các giấy tờ sau:

  • Luật sư xuất trình thẻ luật sư kèm theo bản sao có chứng thực và giấy yêu cầu luật sự của người bị buộc tội hoặc của người đại diện, người thân thích của người bị buộc tội;
  • Người đại diện của người bị buộc tội xuất trình chứng minh nhân dân hoặc thẻ căn cước công dân kèm theo bản sao có chứng thực và giấy tờ có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền về mối quan hệ của họ với người bị buộc tội;
  • Bào chữa viên nhân dân xuất trình chứng minh nhân dân hoặc thẻ căn cước công dân kèm theo bản sao có chứng thực và văn bản cử bào chữa viên nhân dân của ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận;
  • Trợ giúp viên pháp lí, luật sư thực hiện trợ giúp pháp lí xuất trình văn bản cử người thực hiện trợ giúp pháp lí của tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lí và thẻ trợ giúp viên pháp lí hoặc thẻ luật sư kèm theo bản sao có chứng thực.

(ii) Trường hợp chỉ định người bào chữa thì người bào chữa xuất trình các giấy tờ:

  • Luật sư xuất trình thẻ luật sư kèm theo bản sao có chứng thực và văn bản cử luật sư của tổ chức hành nghề luật sư nơi luật sư đó hành nghề hoặc văn bản phân công của đoàn luật sư đối với luật sư hành nghề là cá nhân;
  • Bào chữa viên nhân dân xuất trình chứng minh nhân dân hoặc thẻ căn cước công dân kèm theo bản sao có chứng thực và văn bản cử bào chữa viên nhân dân của ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận;
  • Trợ giúp viên pháp lí, luật sư thực hiện trợ giúp pháp lí xuất trình thẻ trợ giúp viên pháp lí hoặc thẻ luật sư kèm theo bản sao có chứng thực và văn bản cử người thực hiện trợ giúp pháp lí của trung tâm trợ giúp pháp lí nhà nước.

Trong thời hạn 24 giờ kể từ khi nhận đủ giấy tờ quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều 78 bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kiểm ữa giấy tờ và thấy không thuộc trường hợp từ chối việc đãng kí bào chữa quy định tại khoản 5 Điều 78 bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 thì vào sổ đăng kí bào chữa, gửi ngay văn bản thông báo người bào chữa cho người đăng kí bào chữa, cơ sở giam giữ và lưu giấy tờ liên quan đến việc đăng kí bào chữa vào hồ sơ vụ án; nếu xét thấy không đủ điều kiện thì từ chối việc đăng kí bào chữa và phải nêu rõ lí do bằng văn bản.

(iii) Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng từ chối việc đăng kí bào chữa khi thuộc một trong các trường hợp:

  • Trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 72 của bộ luật tố tụng hình sự năm 2015
  • Người bị buộc tội thuộc trường hợp chỉ định người bào chữa từ chối người bào chữa.
  • Văn bản thông báo người bào chữa có giá trị sử dụng trong suốt quá trình tham gia tố tụng, trừ các trường hợp:
  • Người bị buộc tội từ chối hoặc đề nghị thay đổi người bào chữa;
  • Người đại diện hoặc người thân thích của người bị buộc tội quy định tại điểm b khoản 1 Điều 76 của bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 từ chối hoặc đề nghị thay đổi người bào chữa.

(iv) Người bào chữa có thể bị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hủy bỏ việc đăng kí bào chữa khi thuộc một trong các trường hợp:

  • Khi phát hiện người bào chữa thuộc trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 72 của bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
  • Vi phạm pháp luật khi tiến hành bào chữa.

(v) Khi huỷ bỏ việc đăng kí bào chữa, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải thông báo cho người bào chữa, cơ sở giam giữ.

3- Ý nghĩa nguyên tắc đảm bảo quyền bào chữa của người bị buộc tội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại, đương sự

Hiến pháp năm 2013 quy định tại khoản 4, Điều 31 như sau: “Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ Luật sư hoặc người khác bào chữa”. Cụ thể hóa Hiến pháp, bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 quy định: “Người bị buộc tội có quyền tự bào chữa, nhờ Luật sư hoặc người khác bào chữa. Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có trách nhiệm thông báo, giải thích và bảo đảm cho người bị buộc tội, bị hại, đương sự thực hiện đầy đủ quyền bào chữa, quyền và lợi ích hợp pháp của họ theo quy định của bộ luật này” (Điều 16) và “Người bào chữa là người được người bị buộc tội nhờ bào chữa hoặc cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng chỉ định và được cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng tiếp nhận việc đăng ký bào chữa” (khoản 1, Điều 72). bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã xây dựng một chương mới (Chương V) về bào chữa, thể hiện bước chuyển biến căn bản trong nhận thức toàn diện và sâu sắc tinh thần Hiến pháp năm 2013 về bảo vệ quyền của người bị buộc tội. Phạm vi người được bào chữa trong bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 cũng được mở rộng đến trợ giúp viên pháp lý trong trường hợp người bị buộc tội thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý. Đồng thời, mở rộng phạm vi bắt buộc phải có người bào chữa, các trường hợp chỉ định người bào chữa tại Điều 76 bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

 

0 bình luận, đánh giá về Thủ tục đăng ký bào chữa theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015

TVQuản trị viênQuản trị viên

Xin chào quý khách. Quý khách hãy để lại bình luận, chúng tôi sẽ phản hồi sớm

Trả lời.
Thông tin người gửi
Bình luận
Nhấn vào đây để đánh giá
Thông tin người gửi
Tổng đài tư vấn: 024-66 527 527
Giờ làm việc: Thứ 2 - Thứ 7: 8h30 - 18h00
0.36008 sec| 921.18 kb