Tội quảng cáo gian dối (Điều 197 Bộ luật hình sự năm 2015)

12/05/2023
Phạm Nhật Thăng
Phạm Nhật Thăng
Hành vi quảng cáo gian dối xâm phạm chế độ quản lý của Nhà nước về các hoạt động quảng cáo đổi với hàng hoá, dịch vụ. Việc quy định tội danh này nhằm đảm bảo hoạt động quảng cáo về hàng hoá, dịch vụ được lành mạnh, tuân thủ đúng pháp luật và qua đó để bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng.

1- Dấu hiệu pháp lý của tội quảng cáo gian dối

[a] Khách thể của tội phạm

Tội quảng cáo gian dối về hàng hóa xâm hại chế độ quản lý của Nhà nước đối với các hoạt động về quảng cáo hàng hóa, dịch vụ, xâm phạm lợi ích người tiêu dùng.

Đối tượng tác động của tội phạm này là hình thức, nội dung tin tức về hàng hóa, dịch vụ mà người phạm tội đã quảng cáo.

[b] Mặt khách quan của tội phạm

Thứ nhất, dấu hiệu hành vi khách quan.

Quảng cáo là việc sử dụng các phương tiện nhằm giới thiệu đến công chúng sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ có mục đích sinh lợi; sản phẩm, dịch vụ không có mục đích sinh lợi; tổ chức, cá nhân kinh doanh sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ được giới thiệu, trừ tin thời sự, chính sách xã hội, thông tin cá nhân.

Mặt khách quan của tội phạm được thể hiện ở hành vi quảng cáo gian dối, tức là đưa thông tin không đúng về chất lượng, hình thức, chức năng, công dụng và tiêu chuẩn hàng hóa, dịch vụ gây nhầm lãn cho khách hàng, trái với quy định của pháp luật về quảng cáo.

Thông thường quảng cáo gian dối là hàng xấu, kém chất lượng nhưng lại nói rằng đó là hàng tốt, chất lượng cao. Ngoài ra, hành vi quảng cáo gian dối còn thể hiện ở chỗ, nói xấu hàng hóa của doanh nghiệp khác để làm nền quảng cáo cho hàng hóa của mình, quảng cáo không đúng công dụng của hàng hóa, không nêu những điều cần tránh khi sử dụng hàng hóa.

Người phạm tội quảng cáo gian dối chỉ có một hành vi khách quan quy nhất là dùng quảng cáo gian dối, chào hàng, tiếp thị tốt về chất lượng hàng hóa, dịch vụ với khách hàng nhưng thực tế thì chất lượng không được như quảng cáo nhưng với nhiều thủ đoạn, hình thức khác nhau như: vẽ tranh, chụp ảnh, quay phim, đăng báo, ghi âm, đưa tin trên đài phát thanh, truyền hình, đặt các phương tiện quảng cáo khác ở nơi công cộng.

Khi xác định hành vi quảng cáo là gian dối cần căn cứ vào các quy định của Nhà nước về quảng cáo.  Hành vi quảng cáo gian dối nêu trên là hành vi vi phạm nội dung quảng cáo được quy định tại khoản 9 điều 8 Luật Quảng cáo số 16/2012/QH13 (thay thế cho Pháp lệnh Quảng cáo số 39/2001/PL-UBTVQH!) ngày 16 tháng 11 năm 2011): “Cấm Quảng cáo không đúng hoặc gây nhầm lẫn về khả năng kinh doanh, khả năng cung cấp sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ của tổ chức, cá nhân kinh doanh sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ; về số lượng, chất lượng, giá, công dụng, kiểu dáng, bao bì, nhãn hiệu, xuất xứ, chủng loại, phương thức phục vụ, thời hạn bảo hành của sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ đã đăng ký hoặc đã được công bố”.

Những hành vi vi phạm khác trong lĩnh vực quảng cáo mà không được quy định trong trong Điều 8 Luật quảng cáo không thuộc nội dung cấu thành tội quảng cáo gian dối. Các trường hợp khác tùy theo mức độ vi phạm và mức độ gây thiệt hại, người vi phạm pháp luật về quảng cáo có thể bị xử lý hành chính.

Căn cứ Điểm b Khoản 5  Điều 51 Nghị định số 158/2013/NĐ-CP về quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch và quảng cáo, người vi phạm có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng đối với hành vi: “Quảng cáo lừa dối, gây nhầm lẫn cho công chúng, người tiêu dùng, khách hàng về tổ chức, cá nhân, sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ được quảng cáo với tổ chức, cá nhân, sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ khác hoặc lừa dối, gây nhầm lẫn về tính năng, tác dụng của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ được quảng cáo”.

Ngoài ra cần chú ý tới các yêu cầu về quảng cáo được quy định trong Luật quảng cáo năm 2012 như: các sản phẩm và dịch vụ cấm quảng cáo, các nội dung cấm quảng cáo; các sản phẩm, dịch vụ quảng cáo cần có yêu cầu, yêu cầu về nội dung và hình thức quảng cáo…

Thứ hai, dấu hiệu hậu quả của tội phạm.

- Trước đây theo quy định của Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 thì hậu quả của tội phạm là một trong những yếu tố bắt buộc trong cấu thành tội phạm. Nếu quả chưa nghiêm trọng, thì người phạm tội phải là người đã bị xử phạt hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì mới cấu thành tội phạm. Hiện nay, theo Điều 197 Bộ luật hình sự năm 2015 đã bỏ quy định này. Tuy nhiên, trong tội quảng cáo gian dối vẫn cần thiết xác định được các hậu quả thiệt hại do tội phạm gây ra để xác định tính chất, mức độ của tội phạm. Hậu quả do hành vi quảng cáo gian dối gây ra là những thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự, tài sản của con người, cho cơ quan, tổ chức và những thiệt hại nghiêm trọng khác cho xã hội. Ví dụ: do hành vi quảng cáo gian dối nên khách hàng đã mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ nhưng việc này đã không mang lại lợi ích như đã quảng cáo, gây thiệt hại về tài sản hoặc ảnh hưởng tới sức khỏe.

Thứ ba, các dấu hiệu khách quan khác:

Các dấu hiệu khách quan khác được quy định trong cấu thành tội phạm của tội quảng cáo gian dối có thể là:

- Các mặt hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục được quy định quảng cáo;

- Thời gian, địa điểm quảng cáo;

- Hình thức quảng cáo;

- Câu chữ, hình ảnh hoặc âm thanh trong quảng cáo;

- Việc lợi dụng danh nghĩa và địa vị của cơ quan, tổ chức, cá nhân để quảng cáo.

[c] Chủ thể của tội phạm.

Chủ thể của tội phạm này tuy không phải là chủ thể đặc biệt, chỉ cần đáp ứng điều kiện là người từ đủ 16 tuổi trở lên và có năng lực trách nhiệm hình sự.

Đối với tội quảng cáo gian dối, chủ thể thực hiện tội phạm chủ yếu là những chỉ doanh nghiệp, chủ cơ sở sản xuất. Tuy nhiên, những người khác cũng có thể trở thành chủ thể, nếu họ thực hiện việc quảng cáo gian dối hàng hóa của chủ doanh nghiệp theo yêu cầu của chủ doanh nghiệp.

[d] Mặt chủ quan của tội phạm

Tội phạm thực hiện do lỗi cố ý, tức là người phạm tội nhận thức rõ hành vi quảng cáo gian dối của mình là trái với quy định của pháp luật về quảng cáo, gây ra hậu quả nguy hiểm cho người tiêu dùng và xã hội, nhận thức được hậu quả có thể hoặc tất yếu xảy ra nhưng vẫn mong muốn cho hậu quả xảy ra hoặc tuy không mong muốn nhưng bỏ mặc cho hậu quả xảy ra.

Động cơ của người phạm tội không phải là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm, nhưng người phạm tội quảng cáo gian dối thường vì động cơ vụ lợi (muốn bán được nhiều hàng hóa).

Xem thêm: Dịch vụ pháp lý trong lĩnh vực hình sự của Công ty Luật TNHH Everest.

2 - Hình phạt đối với tội quảng cáo gian dối

Điều luật quy định một (01) khung hình phạt chính và một (01) khung hình phạt bổ sung.

[a] Khung hình phạt cơ bản

Khung hình phạt cơ bản có mức phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 100 triệu đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

[b] Khung hình phạt bổ sung

Khung hình phạt bổ sung được quy định (có thể được áp dụng) là: Phạt tiền từ 05 triệu đồng đển 50 triệu đồng, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Xem thêm: Dịch vụ Luật sư bào chữa trong vụ án hình sự của Công ty Luật TNHH Everest.

3- Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest

[a] Bài viết Tội quảng cáo gian dối  được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.

[b] Bài viết Tội quảng cáo gian dối có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.

[c] Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý hoặc thuê luật sư bào chữa, luật sư hình sự, Quý vị vui lòng liên hệ với luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: (024) 66 527 527, E-mail: info@everest.org.vn.

0 bình luận, đánh giá về Tội quảng cáo gian dối (Điều 197 Bộ luật hình sự năm 2015)

TVQuản trị viênQuản trị viên

Xin chào quý khách. Quý khách hãy để lại bình luận, chúng tôi sẽ phản hồi sớm

Trả lời.
Thông tin người gửi
Bình luận
Nhấn vào đây để đánh giá
Thông tin người gửi
Tổng đài tư vấn: 024-66 527 527
Giờ làm việc: Thứ 2 - Thứ 7: 8h30 - 18h00
0.26767 sec| 969.695 kb