Vấn đề bảo vệ môi trường tại Bộ luật hình sự năm 2015

10/05/2023
Phạm Nhật Thăng
Phạm Nhật Thăng
Bộ luật hình sự năm 2015 đã khắc phục các hạn chế của Bộ luật hình sự năm 1999 trong quy định các tội phạm về môi trường qua việc định lượng hóa các hành vi vi phạm theo hướng có thể truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người hoặc pháp nhân thương mại ngay khi có hành vi vi phạm các quy định của Nhà nước về bảo vệ môi trường.

1- Khái quát chung về các tội phạm về môi trường

Việc thi hành Bộ luật hình sự năm 1999 trong thời gian vừa qua cho thấy, việc xử lý hình sự đối với các tội phạm về môi trường nhìn chung còn gặp nhiều khó khăn, điều đó đã ảnh hưởng không nhỏ đến hiệu quả của công tác đấu tranh chống các tội phạm về môi trường, mà một trong những nguyên nhân chính là do những bất cập trong kỹ thuật lập pháp đối với nhóm tội này.

Bộ luật hình sự năm 2015 đã khắc phục các hạn chế của Bộ luật hình sự năm 1999 trong quy định các tội phạm về môi trường qua việc định lượng hóa các hành vi vi phạm theo hướng có thể truy cứu TNHS đối với người hoặc pháp nhân thương mại ngay khi có hành vi vi phạm các quy định của Nhà nước về bảo vệ môi trường.

Các tội phạm về môi trường trong Bộ luật hình sự năm 2015 được chia thành 4 nhóm và sắp xếp theo trật tự sau:

- Nhóm 1: Các hành vi gây ô nhiễm môi trường (các điều: Điều 235, Điều 236, Điều 237 và Điều 239);

- Nhóm 2: Các hành vi làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người và động vật (Điều 240 và Điều 241);

- Nhóm 3: Các hành vi hủy hoại tài nguyên môi trường (Điều 242 và Điều 243);

- Nhóm 4: Các hành vi xâm phạm chế độ bảo vệ đặc biệt đối với một số đối tượng môi trường (Điều 238, Điều 244, Điều 245 và Điều 246).

2- Các yếu tố của các tội phạm về môi trường 

[a] Hành vi khách quan

Hành vi khách quan của các tội phạm về môi trường rất đa dạng như hành vi chôn, lấp, đổ, thải trái pháp luật các chất thải nguy hại có thành phần nguy hại đặc biệt vượt ngưỡng chất thải nguy hại theo quy định của pháp luật như: 

  • Các loại nước thải, khí thải có chứa chất phóng xạ, chất thải rắn hoặc các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân huỷ làm môi trường bị ô nhiễm (Điều 325);

  •  Vi phạm quy định về quản lý chất thải nguy hại gây ô nhiễm môi trường (Điều 236); 

  • Lợi dụng việc nhập khẩu công nghệ, máy móc, thiết bị, phế liệu hoặc hóa chất... hoặc bằng thủ đoạn khác đưa vào lãnh thổ Việt Nam chất thải nguy hại hoặc các chất ô nhiễm hữu cơ khó phân huỷ (Điều 239). 

Nhưng cũng có những hành vi làm lây lan dịch bệnh cho người và động vật, thực vật như: 

  • Đưa ra khỏi vùng có dịch bệnh động vật, thực vật, sản phẩm động vật, thực vật hoặc vật phẩm khác có khả năng truyền dịch bệnh cho người (Điều 240); 

  • Đưa vào hoặc mang ra khỏi khu vực hạn chế lưu thông động vật, thực vật, sản phẩm động vật, thực vật hoặc vật phẩm khác bị nhiễm bệnh hoặc mang mầm bệnh (Điều 241). 

Bên cạnh đó lại có những hành vi: 

  •  Sử dụng chất độc, chất nổ, hoá chất, dòng điện hoặc các phương tiện, ngư cụ khác bị cấm để khai thác thủy sản hoặc hủy hoại nguồn lợi thủy sản (Điều 242); 

  • Đốt phá rừng trái phép hoặc có hành vi khác huỷ hoại rừng (Điều 243) 

  • Săn bắt, giết, vận chuyển, nuôi nhốt, buôn bán trái phép động vật thuộc danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ (Điều 244); 

  • Cố ý nhập khẩu, phát tán các loài ngoại lai xâm hại (Điều 246).

[b] Hậu quả pháp lý của tội phạm

  •  Gây thiệt hại cho môi trường, ví dụ: diện tích đất, nước, khu vực không khí bị ô nhiễm;

  • Gây thiệt hại cho tính mạng, sức khoẻ của con người; 

  • Gây thiệt hại về tài sản bao gồm cả thiệt hại thực tế và chi phí để khắc phục hậu quả đã xảy ra. 

[c] Yếu tố lỗi 

Lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý hoặc chỉ là lỗi cố ý đổi với hành vi vi phạm; động cơ phạm tội tương đối đa dạng nhưng không được quy định trong CTTP.

[d] Chủ thể của tội phạm

Chủ thể bình thường hoặc là chủ thể cổ dấu hiệu đặc biệt. Trong nội dung trình bày về dấu hiệu pháp lý của các tội cụ thể, dấu hiệu chủ thể của tội phạm chỉ được trình bày khi chủ thể của tội phạm có dấu hiệu đặc biệt.

Chủ thể của tội phạm là con người cụ thể nhưng chủ thể phải chịu trách nhiệm hình sự đối với một số tội phạm về môi trường còn có thể là pháp nhân thương mại.

Xem thêm: Dịch vụ pháp lý trong lĩnh vực hình sự của Công ty Luật TNHH Everest.

3- Hình phạt đối với tội phạm về môi trường

Hình phạt chính được quy định cho các tội phạm về môi trường có nhiều loại khác nhau với những mức độ nghiêm khắc khác nhau. Đó là hình phạt tiền, hình phạt cải tạo không giam giữ và hình phạt tù. 

  •  Hình phạt tiền (với tính chất là hình phạt chính đối với người phạm tội) được quy định với mức tiền phạt thấp nhất là 50 triệu đồng, cao nhất là 03 tỉ đồng (khoản 3 Điều 235). 

  •  Hình phạt cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm là hình phạt bổ sung được quy định đối với người phạm tội cho tất cả các tội phạm được quy định trong chương này. 

  •  Hình phạt tiền (với tính chất là hình phạt chính đối với pháp nhân thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự) được quy định với mức tiền phạt thấp nhất là 300 triệu đồng, cao nhất là 20 tỷ đồng (Điểm c Khoản 3 Điều 235). 

  • Hình phạt cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực từ 01 năm đến 03 năm là hình phạt bổ sung được quy định đối với pháp nhân-thương mại phải chịu trách nhiệm hình sự.

Xem thêm: Dịch vụ Luật sư bào chữa trong vụ án hình sự của Công ty Luật TNHH Everest.

4- Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest

[a] Bài viết Vấn đề bảo vệ môi trường tại Bộ luật hình sự năm 2015 được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.

[b] Bài viết Vấn đề bảo vệ môi trường tại Bộ luật hình sự năm 2015 có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.

[c] Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý hoặc thuê luật sư bào chữa, luật sư hình sự, Quý vị vui lòng liên hệ với luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: (024) 66 527 527, E-mail: info@everest.org.vn.

Phạm Nhật Thăng
Phạm Nhật Thăng

Phạm Nhật Thăng là chuyên gia Quản trị và An ninh (Management and Security)

0 bình luận, đánh giá về Vấn đề bảo vệ môi trường tại Bộ luật hình sự năm 2015

TVQuản trị viênQuản trị viên

Xin chào quý khách. Quý khách hãy để lại bình luận, chúng tôi sẽ phản hồi sớm

Trả lời.
Thông tin người gửi
Bình luận
Nhấn vào đây để đánh giá
Thông tin người gửi
Tổng đài tư vấn: 024-66 527 527
Giờ làm việc: Thứ 2 - Thứ 7: 8h30 - 18h00
0.42452 sec| 974.117 kb