Các đối tượng bảo hộ của quyền sở hữu trí tuệ

"Sự khác biệt giữa một nhà quản lý giỏi với người khác chính là biết cách dùng người".

Peter Ferdinand Drucker, cha đẻ của ngành Quản trị kinh doanh hiện đại

Các đối tượng bảo hộ của quyền sở hữu trí tuệ

Sở hữu trí tuệ được hiểu là việc sở hữu các tài sản trí tuệ - những kết quả từ hoạt động tư duy, sáng tạo của con người. Đối tượng của loại sở hữu này là các tài sản phi vật chất nhưng có giá trị kinh tế, tinh thần to lớn góp phần quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển nền văn minh, khoa học, công nghệ của nhân loại.

Quyền sở hữu trí tuệ là quyền của cá nhân, pháp nhân đối với các sản phẩm trí tuệ do con người sáng tạo. Đó là độc quyền được công nhận cho một người, một nhóm người hoặc một tổ chức, cho phép họ được sử dụng hay khai thác các khía cạnh thương mại của một sản phẩm sáng tạo.

Liên hệ

I- QUYỀN TÁC GIẢ VÀ QUYỀN LIÊN QUAN

1- Khái quát chung về quyền tác giả

Quyền tác giả đề cập tới những hình thức đặc biệt của hoạt động sáng tạo, về cơ bản liên quan tới thông tin đại chúng dưới mọi hình thức và phương pháp truyền đạt tới công chúng như ấn phẩm, bản ghi âm, phát thanh, truyền hình, điện ảnh, các hệ thống lưu trữ và tra cứu dữ liệu điện từ. Quyền tác giả bảo hộ hình thức thể hiện ý tưởng, mà không bảo hộ chính ý tưởng đó. Hình thức sáng tạo được bảo hộ theo quyền tác giả là sự sáng tạo trong việc lựa chọn, sắp xếp, trình bày từ ngữ, âm thanh, đường nét, màu sắc, hình khối, v.v. Thực chất của bảo hộ quyền tác giả là bảo hộ quyền cùa người sáng tạo ra các tác phẩm, chống lại sự “sao chép” của người thứ ba - người chiếm đoạt và dùng hình thức mà tác giả thể hiện sự sáng tạo của mình, ở hâu hết các quốc gia trên thế giới, quyền tác giả được pháp luật thừa nhận và bảo hộ đối với các sản phẩm trí tuệ trong lĩnh vực văn học, nghệ thuật và khoa học mà không có bất kỳ một sự hạn chế nào về hình thức hoặc phương thức thể hiện.

Khái niệm “tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học” là một thuật ngữ thống nhất, có thể dùng chung cho các loại tác phẩm sau là đối tượng bảo hộ của quyền tác giả:

- Tác phẩm văn học như tiểu thuyết, truyện ngắn, thơ, tác phẩm sân khấu và các loại văn viết khác;

- Tác phẩm âm nhạc;

- Tác phẩm nghệ thuật tạo hình;

- Tác phẩm kiến trúc;

- Bản đồ và các hình vẽ kỹ thuật;

- Tác phẩm nhiếp ảnh;

- Tác phẩm điện ảnh;

- Chương trình máy tính, sưu tập dữ liệu.

Luật quyền tác giả của một số quốc gia, trong đó có Việt Nam còn bảo hộ “tác phẩm mỹ thuật ứng dụng” và tác phẩm văn học, nghệ thuật dân gian. Tác phâm dịch từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác, tác phẩm phóng tác, cải biên, chuyển thể, biên soạn, chú giải, tuyển chọn, còn gọi là tác phẩm phái sinh của các tác phẩm là đối tượng của quyền tác giả cũng được bảo hộ, với điều kiện “không gây phương hại đến quyền tác giả đối với tác phẩm được dùng để làm tác phẩm phái sinh''. Tùy thuộc vào quy định cụ thể của luật pháp từng quốc gia, các đối tượng không thuộc phạm vi bảo hộ của luật quyền tác giả bao gồm, văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính, văn bản khác thuộc lĩnh vực tư pháp và bản dịch chính thức của văn bản đó; tin tức thời sự thuần túy đưa tin; quy trình, hệ thống, phương pháp hoạt động, khái niệm, nguyên lý, số liệu.

Việc bảo hộ quyền tác giả không phụ thuộc vào nội dung, chất lượng hoặc giá trị của tác phẩm, hình thức và phương thức thể hiện tác phẩm cũng như mục đích mà tác phẩm hướng tới. Về nguyên tắc, các tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả phải có tính nguyên gốc. Ý tưởng được thể hiện trong tác phẩm không cần phải mới song hình thức thể hiện, cho dù là tác phẩm văn học, nghệ thuật hoặc khoa học, phải là sự sáng tạo nguyên gốc của tác giả, do tác giả trực tiếp sáng tạo bằng lao động trí tuệ của mình mà không sao chép từ tác phẩm của người khác. Một số quốc gia, trong đó có Việt Nam, yêu cầu tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả phải được định hình dưới dạng vật chất nhất định, ví dụ tác phẩm được viết trên giấy, ghi vào băng từ, lưu trữ dưới dạng điện tử hoặc kỹ thuật số, vẽ bằng màu nước, v.v. Việc bảo hộ quyền tác giả không phụ thuộc vào việc tác phẩm đã được đăng ký hoặc được cơ quan nhà nước cấp Văn bằng bảo hộ hay không bởi lẽ theo nguyên tắc bảo hộ tự động, quyền tác giả tự phát sinh khi tác phẩm được sáng tạo ra.

Xem thêm: Dịch vụ pháp lý đăng ký bản quyền tác giả của Công ty Luật TNHH Everest

2- Quyền nhân thân và quyền tài sản

Quyền tác giả bảo hộ quyền nhân thân và quyền tài sản, trong một thời hạn nhất định, của tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả đối với các sản phẩm sáng tạo của họ, cụ thể là các tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học.

(i) Quyền nhân thân bảo vệ danh tiếng của tác giả và sự toàn vẹn của tác phẩm, gồm các quyền: đặt tên cho tác phẩm; đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm; và bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả. Quyền nhân thân của tác giả thường độc lập với các quyền tài sản và vẫn thuộc về tác giả, thậm chí sau khi tác giả đã chuyển nhượng quyền tài sản.

(ii) Quyền tài sản mang lại cho chủ sở hữu quyền tác giả quyền độc quyền cho phép hoặc ngăn cấm việc sử dụng tác phẩm theo nhiều cách khác nhau và nhận được tiền thù lao cùng các quyền lợi vật chất khác. Phạm vi và các ngoại lệ của những quyền này được quy định khác nhau, tùy thuộc vào từng loại tác phẩm và quy định pháp luật của từng quốc gia. Nhìn chung, quyền tài sản bao gồm các quyền:

(a) Làm tác phẩm phái sinh;

(b) Biểu diễn tác phẩm trước công chúng;

(c) Sao chép tác phẩm;

(d) Phân phối, nhập khẩu bản gốc hoặc bản sao tác phẩm;

(e) Truyền đạt tác phẩm đến công chúng;

(f) Cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm.

Trong số các quyền tài sản, quyền “sao chép tác phẩm” và/hoặc cho phép/không cho phép người khác sao chép tác phẩm của mình là quyền cơ bản nhất, là cơ sở pháp lý cho nhiều hình thức khai thác khác nhau đối với tác phẩm được bảo hộ, ví dụ: truyền đạt tác phẩm tới công chúng thông qua các bản in,bản ghi âm hoặc phương tiện truyền thông kỹ thuật số.

3- Giới hạn của quyền tác giả

Thứ nhất, quyền tác giả bị giới hạn về không gian, thời gian, phạm vi và một số ngoại lệ khác, theo quy định của pháp luật. Thông thường, thời hạn bảo hộ quyền tác giả bắt đầu từ lúc tác phẩm được sáng tạo ra và kéo dài đến một thời điểm nhất định sau khi tác giả qua đời, cụ thể là: Bảo hộ suốt cuộc đời tác giả và thêm không ít hơn 50 năm sau khi tác giả qua đời, tùy thuộc vào từng đối tượng bảo hộ của quyền tác giả và do luật pháp quốc gia quy định. Trong một số trường họp, ví dụ như đối với tác phẩm điện ảnh, nhiếp ảnh, sân khấu, mỹ thuật ứng dụng, thời hạn bảo hộ quyền tác giả được tính từ thời điểm tác phẩm được công bố lần đầu tiên hoặc được định hình nếu tác phẩm chưa công bố. Thời điểm kết thúc thời hạn bảo hộ là ngày 31/12 của năm kết thúc thời hạn. Thời hạn bảo hộ quyền nhân thân có thể được quy định riêng, có thể dài hơn thời hạn đối với quyền tài sản hoặc có thể không có thời hạn, ví dụ: quyền đặt tên cho tác phẩm, quyền đứng tên hoặc bút danh trên tác phẩm, quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm.

Giới hạn thứ hai đối với quyền tác giả là giới hạn về mặt không gian địa lý. Quyền tác giả mang tính chất lãnh thổ. Quyền tác giả được bảo hộ theo luật pháp quốc gia nào thì chỉ có hiệu lực trong phạm vi lãnh thổ quốc gia đó. Sự giới hạn về mặt lãnh thổ sẽ được giải quyết một cách dễ dàng nếu các quốc gia có liên quan cùng là thành viên của một trong những điều ước quốc tế song phương hoặc đa phương về quyền tác giả, ví dụ như Công ước Beme về bảo hộ các tác phấm văn học và nghệ thuật; Công ước Rome về bảo hộ người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm và tố chức phát sóng,v.v. hoặc các quốc gia này đã thỏa thuận bảo hộ quyền tác giả trên nguyên tắc có đi có lại.

Quyền tác giả có thể bị giới hạn đối với một số hành vi “sử dụng chính đáng”, theo quy định pháp luật cụ thể của từng quốc gia, ví dụ như: Sao chép một tác phẩm nhằm mục đích sử dụng cá nhân, nghiên cứu khoa học, giảng dạy; trích dẫn tù’ tác phẩm kèm theo dẫn chiếu bao gồm tên của tác giả và phạm vi trích dẫn phù họp với thông lệ; ghi âm, ghi hình trực tiếp buổi biểu diễn để đưa tin thời sự hoặc để giảng dạy, v.v.

4- Chủ sở hữu quyền tác giả

Chủ sở hữu quyền tác giả là tác giả - người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm, trừ các trường hợp ngoại lệ do luật pháp quốc gia quy định, ví dụ như: Tác phẩm được tạo ra bời người làm thuê như một phần nhiệm vụ của người đó; tác phẩm được tạo ra theo hợp đồng hay đặt hàng; hoặc tác phẩm do nhiều người tạo ra. Tại nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam, quyền tác giả (trừ quyền nhân thân) có thể được chuyển nhượng hoặc thừa kế; do đó, cá nhân hay tổ chức được chuyển giao quyền từ chủ sở hữu quyền tác giả sẽ trở thành chủ sở hữu quyền tác giả đó. Nhà nước có thể là chủ sở hữu quyền tác giả trong một số trường hợp do pháp luật quy định, ví dụ: tác phẩm khuyết danh, tác phẩm không có người thừa kế hoặc người thừa kế từ chối nhận di sản.

Xem thêm: Dịch vụ pháp lý đăng ký nhãn hiệu của Công ty Luật TNHH Everest

5- Quyền liên quan

Các tác phẩm được sáng tạo để được truyền bá và phổ biến tới công chúng càng rộng càng tốt. Nhìn chung, công việc này không thể do bản thân tác giả đơn phương thực hiện được bởi nó đòi hỏi những tới quyền tác giả, còn gọi là quyền kề cận hoặc quyền người trung gian có năng lực chuyên nghiệp, đem lại cho tác phẩm các hình thức trình bày thích hợp để có thể được đông đảo quần chúng tiếp cận. Những đóng góp của họ trong quá trình truyền bá tác phẩm tới công chúng được pháp luật bảo hộ thông qua các quyền liên quan.

Có ba loại quyền liên quan: quyền của nghệ sỹ biểu diễn đối với chương trình biểu diễn của họ; quyền của nhà sản xuất chương trình ghi âm đối với bản ghi âm của họ; và quyền của các tổ chức phát sóng đối với các chương trình phát thanh và truyền hình cùa họ.

(i) Quyền của người biểu diễn bao gồm quyền nhân thân và quyền tài sản, trong đó chủ sở hữu các quyền này là người biểu diễn và/hoặc chủ đầu tư, theo quy định pháp luật của từng quốc gia. Theo quy định pháp luật Việt Nam, nếu người biểu diễn đồng thời là chủ đầu tư thì có các quyền nhân thân và các quyền tài sản đối với cuộc biểu diễn; trong trường hợp người biểu diễn không đồng thời là chủ đầu tư thì người biểu diễn có các quyền nhân thân và chủ đầu tư có các quyền tài sản đối với cuộc biểu diễn. Quyền của người biểu diễn được bảo hộ năm mươi năm tính từ năm tiếp theo năm cuộc biểu diễn được định hình.

(ii) Quyền của nhà sản xuất chương trình ghi âm, ghi hình được bảo hộ năm mươi năm tính từ năm tiếp theo năm công bố hoặc năm mươi năm kể từ năm tiếp theo năm bản ghi âm, ghi hình được định hinh nếu bản ghi âm, ghi hình chưa được công bố. Trong thời hạn bảo hộ, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình có độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện các quyền theo quy định pháp luật, ví dụ: sao chép bản ghi âm, ghi hình; phân phối đến công chúng, v.v. cũng như được hưởng quyền lợi vật chất khi bản ghi âm, ghi hình của mình được phân phối đến công chúng.

(iii) Quyền của tổ chức phát sóng, trong thời hạn bảo hộ, thông thường là năm mươi năm tính từ năm tiếp theo năm chương trinh phát sóng được thực hiện, theo quy định pháp luật, bao gồm quyền độc quyền thực hiện hoặc cho phép người khác thực hiện phát sóng, tái phát sóng chương trình phát sóng; phân phối đến công chúng; định hình chương trình phát sóng; sao chép bản định hình chương trình phát sóng, v.v. cũng như được hưởng quyền lợi vật chất khi chương trình phát sóng của mình được ghi âm, ghi hình, phân phối đến công chúng.

Quyền của chủ sở hữu quyền tác giả và/hoặc quyền liên quan bị xâm phạm khi những người khác thực hiện một trong những hành vi  cần phải có sự đồng ý của chủ sở hữu quyền mà không được sự đồng ý của chủ sở hữu. Trên thực tế, các hành vi xâm phạm quyền tác giả có thể phân loại thành hai nhóm sau đây: xâm phạm quyền nhân thân và xâm phạm quyền tài sản.

- Quyền nhân thân của chủ sở hữu quyền tác giả bị xâm phạm nếu đóng góp của tác giả không được công nhận; nếu người sao chép công bố người đó là tác giả của tác phẩm; hoặc nếu tác phẩm của tác giả bị làm tổn hại, bị cắt xén hoặc sửa chữa theo cách gây ảnh hưởng đến danh dự hoặc uy tín của tác giả.

- Quyền tài sản của chủ sở hữu quyền tác giả bị xâm phạm, trừ trường họp thuộc vào các ngoại lệ theo pháp luật quy định, nếu ai đó không được phép mà thực hiện một hành động mà chỉ có chủ sở hữu có độc quyền thực hiện, ví dụ: sao chép tác phẩm; thực hiện hành vi thương mại với một tác phẩm xâm phạm quyền tác giả, ví dụ, bán một đĩa CD lậu; hoặc nhập khẩu tác phẩm xâm phạm quyền. Thậm chí khi chỉ sử dụng, không được phép của chủ sở hữu, một phần tác phẩm cũng có thể bị coi là xâm phạm quyền tác giả. Nhìn chung, hành vi xâm phạm quyền xảy ra khi “phần cốt lõi phần quan trọng’ chủ yêu hay riêng biệt - được sử dụng theo những các 1 thức mà chủ sờ hữu được trao đọc quyền thực hiện.

Các hành vi xâm phạm quyền tác giả được xử lý bằng các biện pháp dân sự, hành chính và/hoặc hình sự. Tùy theo tính chất, mức độ có hành vi xâm phạm quyền tác giả hoặc quyền liên quan, một hoặc một số chế tài được áp dụng theo quy định pháp luật. Các chế tài đối với hành vi vi phạm quyền tác giả hoặc quyền liên quan, theo quy định của pháp luật, gồm: đình chỉ hành vi xâm phạm quyền; xin lỗi, cải chính công khai; bồi thường thiệt hại; áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời; tịch thu, tiêu hủy, buộc tái xuất, v.v. Các chế tài hình sự dưới hình thuc phạt tiên và/hoặc phạt tù cũng được quy định tại luật pháp của hầu hết các quốc gia bảo hộ quyền tác giả.

Xem thêm: Dịch vụ pháp lý trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ của Công ty Luật TNHH Everest 

II- QUYỀN SỞ HỮU CÔNG NGHIỆP

Sở hữu công nghiệp (SHCN) là một loại “tài sản trí tuệ”, liên quan tới các sáng tạo của trí tuệ con người. Đối tượng của quyền SHCN gồm có các đối tượng mang tính công nghiệp như sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp... và các đối tượng mang tính phân biệt trong thương mại, chứa các dấu hiệu truyền đạt thông tin về sản phâm và dịch vụ tới người tiêu dụng như: nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý. Quyền sở hữu công nghiệp là một bộ phận quan trọng của quyền sở hữu trí tuệ, được bảo hộ bởi các quy định của điều ước quốc tế và pháp luật quốc gia. Theo quy định của Điều 1 Công ước Paris về bảo hộ sở hữu công nghiệp, SHCN bao gồm: sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu, nhãn hiệu dịch vụ, tên thương mại, chỉ dẫn nguồn gốc hoặc tên gọi xuất xứ hàng hóa và chống cạnh tranh không lành mạnh.

Xét về khía cạnh căn cứ phát sinh quyền SHCN, theo quy định pháp luật, các quyền SHCN có thê chia thành hai nhóm:

(i) Nhóm các quyền SHCN phát sinh trên cơ sở đăng ký, gồm có quyền đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý và thiết kế bố trí mạch tích hợp;

(ii) Nhóm các quyền SHCN tự động phát sinh (được xác lập) khi hội đủ các điều kiện (không có điều kiện đăng ký), gồm có quyền đối với tên thương mại, thông tin bí mật, nhãn hiệu nôi tiếng, quyền chống cạnh tranh không lành mạnh. Đối với nhóm các quyền SHCN phát sinh trên cơ sở đăng ký, phạm vi quyền SHCN (hay đối tượng được bảo hộ) được ghi rõ trong Văn bằng bảo hộ. Trong trường hợp chủ thể quyền hoặc các bên có liên quan có đủ căn cứ pháp lý cho rằng phạm vi này rộng hơn hoặc hẹp hơn so với phạm vi mà đối tượng thực sự được hưởng, có thể tiến hành các thủ tục khiếu nại nhằm thay đổi phạm vi bảo hộ mà Văn bằng bảo hộ đã ấn định.

Quyền SHCN là quyền đối với các tài sản vô hình, mang bản chất thông tin, do đó, các nội dung chiếm hữu, sử dụng và định đoạt có những đặc thù riêng. Quyền chiếm hữu không đơn thuần là cầm, nắm, giữ dạng vật chất mang bản chất thông tin đó mà là quyền sở hữu độc quyền nội dung thông tin không bao giờ mất đi khỏi nguồn, ngay cả khi thông tin đó được truyền đi và tiếp nhận bởi một người khác. Nội dung “sử dụng” đối tượng sở hữu công nghiệp bao hàm một sổ hành vi mà chủ thể quyền có quyền độc quyền được thực hiện và ngăn cấm người khác thực hiện, được pháp luật quốc gia quy định cụ thể cho từng đối tượng sở hữu công nghiệp. Ví dụ: đối với sáng chế hoặc kiểu dáng công nghiệp, quyền sử dụng bao gồm quyền sản xuất, lưu thông, quảng cáo, thương mại, nhập khẩu sản phẩm/quy trình được bảo hộ; đối với nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý, quyền sử dụng bao gồm quyền gắn nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý lên hàng hóa, bao bì, phương tiện kinh doanh; nhập khẩu, kinh doanh hàng hóa/dịch vụ mang nhãn hiệu hoặc chỉ dẫn địa lý được bảo hộ.

Tuy nhiên, quyền độc quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp bị giới hạn bởi một số ngoại lệ như:

- Quyền sử dụng trước đối với sáng chế hoặc kiểu dáng công nghiệp (của người đã sử dụng hoặc chuẩn bị các điều kiện cần thiết để sử dụng sáng chế hoặc kiểu dáng công nghiệp đồng nhất với sáng chế hoặc kiểu dáng công nghiệp một cách độc lập với chủ sở hữu);

- Quyền sử dụng theo li-xăng (tự nguyện hoặc không tự nguyện); 

- Quyền sử dụng không nhằm mục đích thương mại; nguyên tắc cạn quyền (sản phâm chứa đôi tượng sở hữu công nghiệp được đưa vào khai thác thương mại một cách hợp pháp).

Nội dung định đoạt quyền sở hữu công nghiệp bao gồm các hành vi: chuyển nhượng quyền sở hữu, chuyển giao quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp được bảo hộ. Điều kiện và cách thức chuyển nhượng quyền sở hữu, chuyển giao quyền sử dụng được quy định tại pháp luật quốc gia. Thông thường, đối với các đối tượng sở hữu công nghiệp mà quyền sở hữu chỉ phát sinh trên cơ sở đăng ký (ví dụ: sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu), các giao dịch chuyển giao/chuyển nhượng chỉ có hiệu lực pháp luật khi được tiến hành thông qua hợp đồng bằng văn bản và họp đồng này được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Xem thêm: Thù lao luật sư và Chi phí pháp lý tại Công ty Luật TNHH Everest

Các quốc gia quy định các điều kiện bảo hộ và nội dung quyên đối với từng đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp trên cơ sở không trái với các chuẩn mực quốc tế và các điều ước quốc tế mà quốc gia là thành viên. Các quy định cơ bản về tiêu chuẩn bảo hộ đôi với một số đối tượng tiêu biểu của quyền SHCN, theo pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, như sau:

- Đối với sáng chế, để được bảo hộ, theo quy định tại Điều 27 Hiệp định TRIPS, cần đáp ứng các yêu cầu sau: là giải pháp kỹ thuật có (i) tính mới; (ii) trình độ sáng tạo; (iii) khả năng áp dụng công nghiệp; và (iv) không thuộc các đối tượng loại trừ. Danh mục các đối tượng loại trừ được luật pháp các quốc gia quy định cụ thể.

- Đối với kiểu dáng công nghiệp, Điều 25 Hiệp định TRIPS yêu cầu “bảo hộ các kiểu dáng công nghiệp mới hoặc nguyên gốc, được tạo ra một cách độc lập”. Yêu cầu về tính mới hay tính nguyên gốc được quy định trong luật pháp của nhiều quốc gia, tuy nhiên, bản chất của yêu cầu này như một điều kiện để một kiểu dáng công nghiệp được bảo hộ lại rất khác nhau giữa các quốc gia. Giống như sáng chế, yêu cầu vê tính sáng tạo (không thể tạo ra một cách dễ dàng đối với người có hiểu biết trung bình về lĩnh vực tương ứng) và khả năng áp dụng công nghiệp (sản xuất hàng loạt) cũng được đặt ra đối với kiểu dáng công nghiệp.

- Đối với nhãn hiệu, xuất phát từ quy định tại điều 15 Hiệp định TRIPs “bất kỳ một dấu hiệu hoặc tổ hợp dấu hiệu nào, có khả năng phân biệt hàng hóa hoặc dịch vụ của một doanh nghiệp với hàng hóa hoặc dịch vụ của doanh nghiệp khác, đều có thể làm nhãn hiệu”, luật pháp ở hầu hết các quốc gia đều đưa ra yêu cầu về khả năng phân biệt cùa nhãn hiệu đăng ký/bảo hộ. Các quy định cụ thể về các dấu hiệu không có khả năng phân biệt có thể khác nhau ở các quốc gia, tuy nhiên, hầu hết các quy định liên quan tới tên gọi chung, dấu hiệu mang tính mô tả, dẫn chiếu về xuất xứ địa lý/nguồn gốc, các chữ cái, con số và các hình học cơ bản hoặc chữ viết trong các ngôn ngữ khác, tên họ, v.v.

Ngoài ra, vì lợi ích công cộng, hầu hết các quốc gia, trong đó có Việt Nam, cũng quy định các trường hợp nhãn hiệu bị từ chối đăng ký/bảo hộ do hậu quả mà nhãn hiệu có thể gây ra nêu dấu hiệu xin đăng ký có chứa những yếu tố gây hiểu lầm hoặc vi phạm tới trật tự công cộng và đạo đức xã hội, cụ thể là các dấu hiệu mang tính chất lừa dối về tính chất, chất lượng hay các đặc tính khác, dẫn chiếu sai tới xuất xứ địa lý; các dấu hiệu trái với đạo đức hay trật tự công cộng hoặc dấu hiệu sử dụng riêng cho từng quốc gia, các cơ quan công quyền hoặc các tổ chức quốc tế, ví dụ như quốc kỳ, quốc hiệu, tên gọi của quốc gia, cơ quan chính phủ và/hoặc các tô chức quốc tế. Căn cứ xác lập quyền đối với nhãn hiệu do luật pháp quốc gia quy định: tại Việt Nam, quyền sở hữu nhãn hiệu (trừ trường họp nhãn hiệu nổi tiếng), được xác lập trên cơ sở đăng ký; tại Hoa Kỳ, quyền sở hữu nhãn hiệu có thể được xác lập trên cơ sở đăng ký hoặc sử dụng thực tiễn. Tuy nhiên, hầu hết các quốc gia đều quy định nghĩa vụ sử dụng nhãn hiệu. Việc không sử dụng nhãn hiệu mà không có lý do chính đáng có thể dẫn đến việc nhãn hiệu bị hủy bỏ.

- Đối với chỉ dẫn địa lý - “chỉ dẫn về hàng hóa bắt nguồn từ lãnh thổ của một thành viên hoặc từ khu vực hay địa phương thuộc lãnh thổ đó, có chất lượng, uy tín hoặc đặc tính nhất định chủ yếu do nguồn gốc địa lý quyết định” (Điều 22 Hiệp định TRIPs), việc bảo hộ trong  phạm vi quốc gia có thể thông qua việc đăng ký nhãn hiệu tập thể hoặc nhãn hiệu chứng nhận, ví dụ: Hoa Kỳ hoặc thông qua việc đăng ký và được cấp Giấy chứng nhận hay Nga, Việt Nam.. Là một dạng đặc biệt của dấu hiệu phân biệt được dùng trong thương mại, dùng đỗ chỉ ra khu vực xuất xứ của hàng hóa/dịch vụ cụ thể và mối lien hệ giữa các đặc tính của hàng hóa/dịch vụ với khu vực xuất xứ đó, chỉ dẫn địa lý, về nguyên tắc, được sử dụng bởi mọi doanh nghiệp đặt tại khu vực địa lý đó để chỉ dẫn cho các sản phẩm có nguồn gốc từ khu vực địa lý này theo các yêu cầu cụ thể cùa luật pháp từng quốc gia. Ở phạm vi quốc tế, việc bảo hộ chỉ dẫn địa lý thông qua các quy định của điều ước quốc tế song phương hoặc đa phương, như: Công ước Paris về Bảo hộ sở hữu công nghiệp; Thỏa ước Madrid về Hạn chế những chỉ dẫn sai lệch về nguồn gốc hàng hóa; Thỏa ước Lisbon về Bảo hộ tên gọi xuất xứ hàng hóa và Đăng ký quốc tế tên gọi xuất xứ hàng hóa.

- Đối với tên thương mại, quyền sở hữu được tự động xác lập khi đáp ứng đủ các điều kiện, theo quy định của luật pháp quốc gia. Tuy nhiên, một số vấn đề cần cân nhắc khi lựa chọn bảo hộ các giải pháp kỹ thuật dưới hình thức bí mật kinh doanh: bảo hộ bí mật kinh doanh chỉ ngăn cản các hành vi chiếm hữu, sử dụng hoặc bộc lộ thông tin bí mật một cách trái phép; mức độ bảo hộ bí mật kinh doanh yếu hơn so với bằng độc quyền sáng chế; bí mật kinh doanh có / thể bị phát hiện ra thông qua “kỹ thuật phân tích ngược” và do đó được sử dụng và/hoặc đăng ký xác lập quyền (đối với sáng chế) một cách hợp pháp.

Quyền chống cạnh tranh không lành mạnh bổ sung một cách hữu hiệu cho việc bảo hộ các quyền sở hữu công nghiệp như sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý. Quyền chống cạnh tranh không lành mạnh được xác lập trên cơ sở hoạt động cạnh tranh trong kinh doanh. Theo Điều 10 của Công ước Paris về Sở hữu công nghiệp, cạnh tranh không lành mạnh bao gồm bất kỳ hành vi cạnh tranh nào trái với thông lệ khái niệm “trung thực’’ có thể được vận dụng linh hoạt và tương đồng với các khái niệm “thiện ý”, “ngay tình”, “đạo đức trong kinh doanh”. Có thể khái quát các hành vi cạnh tranh không lành mạnh thành các nhóm sau đây: những hành vi gây ra sự nhầm lẫn; những hành vi làm mất uy tín đối thủ cạnh tranh và những hành vi có thê lừa dối công chúng. Ngoài ra, tùy thuộc vào luật pháp quốc gia, một số hành vi sau đây được coi là hành vi cạnh tranh không lành mạnh: tận dụng bất hợp pháp thành tựu của người khác, khai thác danh tiêng của người khác, quảng cáo so sánh, quảng cáo gây phiền toái, cản trở các hoạt động thị trường.

Xem thêm: Về Công ty Luật TNHH Everest

Luật sư Nguyễn Thị Bích Phượng - Trưởng Chi nhánh Hà Nội của Công ty Luật TNHH Everest, tổng hợp (nguồn tham khảo: Giáo trình Tư vấn Pháp luật cho Doanh nghiệp - Học viện Tư pháp và một số nguồn khác).

Liên hệ tư vấn
Liên hệ tư vấn

Chuyên viên tư vấn sẵn sàng hỗ trợ!

Tư vấn sử dụng dịch vụ miễn phí

Hoặc
Đăng ký tư vấn
Công ty luật TNHH Everest - Công ty Luật uy tín tại Việt Nam

Everest
Thương hiệu tư vấn pháp lý hàng đầu
Thương hiệu tư vấn pháp lý hàng đầu

Top 20 thương hiệu vàng Việt Nam

Tự hào là đối tác thương hiệu lớn
Video
Everest - Hành trình vượt khó cùng đối tác
Hợp đồng góp vốn thành lập doanh nghiệp
Gặp các chuyên gia Đội ngũ Luật sư giàu kinh nghiệm
Để làm được những điều đó, mỗi một luật sư thành viên thuộc Hãng luật của chúng tôi đều phải rèn luyện không ngừng để có kiến thức Uyên thâm về chuyên môn, luôn đặt Tình yêu và Trách nhiệm vào công việc
4.7 5 (1 đánh giá)
0 bình luận, đánh giá về Các đối tượng bảo hộ của quyền sở hữu trí tuệ

Xin chào quý khách. Quý khách hãy để lại bình luận, chúng tôi sẽ phản hồi sớm

Trả lời.
Thông tin người gửi
Bình luận sản phẩm
Nhấn vào đây để đánh giá
Thông tin người gửi
Tổng đài tư vấn: 024-66 527 527
Giờ làm việc: Thứ 2 - Thứ 7: 8h30 - 18h00
0.35468 sec| 1183.359 kb