Các hiệp định hợp tác thương mại song phương giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu

03/03/2023
Trong tiến trình chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, những thành công trong hội nhập toàn cầu và khu vực đã thực sự là cơ hội để Việt Nam đưa các mối quan hệ thương mại song phương với nhiều đối tác đi vào chiều sâu, với việc ký kết ngày càng nhiều hiệp định hợp tác thương mại song phương. Tại Hội nghị cấp cao ASEM lần thứ 8 tại Bỉ, ngày 4/10/2010, Việt Nam đã ký Hiệp định đối tác và hợp tác toàn diện với EU (viết tắt là ‘PCA’), và khởi động đàm phán Hiệp định thương mại tự do song phương với EU.

 

I- LỊCH SỬ MỐI QUAN HỆ KINH TẾ GIỮA VIỆT NAM VÀ LIÊN MINH CHÂU ÂU (EU) 

Cho tới năm 1992, hợp tác kinh tế giữa Việt Nam và EU mới thực sự bắt đầu, khi Việt Nam và Cộng đồng châu Âu (nay là EU) ký kết Hiệp định dệt may - một trong những thỏa thuận thương mại đầu tiên của Việt Nam với đối tác ngoài hệ thống xã hội chủ nghĩa. Hai năm trước đó, Cộng đồng châu Âu đã thiết lập mối quan hệ ngoại giao đầu tiên với Việt Nam thông qua việc hỗ trợ phát triển cho một nền kinh tế mới thực hiện tiến trình cải cách.

Hợp tác chính trị và kinh tế giữa hai đối tác ngày càng được thắt chặt. Ngày 17/7/1995, Việt Nam và Cộng đồng châu Âu đã ký kết Hiệp định khung về hợp tác kinh tế. Hiệp định này có hiệu lực từ ngày 1/6/1996, thiết lập mối quan hệ kinh tế giữa hai đối tác dựa trên bốn mục tiêu: (i) Tăng cường thương mại và đầu tư song phương; (ii) Hỗ trợ phát triển kinh tế bền vững cho Việt Nam và nâng cao điều kiện sống cho người nghèo; (iii) Hỗ trợ cho nỗ lực tái cấu trúc nền kinh tế của Việt Nam nhằm tiến tới nền kinh tế thị trường; (iv) Bảo vệ môi trường. Xét về triển vọng thương mại, thành tựu quan trọng nhất của Việt Nam là giành được MFN đối với hàng xuất khẩu, nhờ đó giảm được rào cản thương mại đáng kể cho những nhà sản xuất của Việt Nam khi xuất khẩu sang thị trường EU, thông qua đó tăng cường luồng thương mại giữa hai bên. Hiệp định đã thành lập Uỷ ban hỗn hợp Việt Nam-EU, tạo ra diễn đàn thảo luận cấp cao về phát triển kinh tế và chính trị giữa Việt Nam và EU. Uỷ ban này sẽ thảo luận về biện pháp tăng cường mối quan hệ thương mại và đầu tư, nâng cao năng lực của Việt Nam, tăng cường cải cách thể chế và quản lý, đẩy mạnh hợp tác phát triển, khoa học và công nghệ.

Trong khuôn khổ hợp tác, EU đã và đang hỗ trợ Việt Nam phát triển kinh tế thông qua nhiều dự án và các chương trình phát triển. Một trong những lĩnh vực trọng điểm là thương mại quốc tế. Theo đó, một trong những dự án nổi bật nhất đó là Dự án hỗ trợ thương mại đa biên (viết tắt là ‘MUTRAP’), đã được thực hiện đến giai đoạn III, tính đến năm 2012, tạo tiền đề cho Việt Nam gia nhập WTO. EU luôn ủng hộ Việt Nam gia nhập WTO, đồng thời EU cũng là đối tác đầu tiên của Việt Nam trong các vòng đàm phán song phương tại WTO. Đây là kết quả của quá trình hợp tác thương mại ngày càng sâu rộng giữa hai đối tác. Đến năm 2004, Việt Nam và EU đã ký Hiệp định tiếp cận thị trường, theo đó loại bỏ hạn ngạch dệt may cho Việt Nam và tăng cường khả năng tiếp cận thị trường Việt Nam cho các nhà đầu tư và các doanh nghiệp của EU.

Việt Nam đã gia nhập WTO ngày 11/1/2007. Kể từ đó, mối quan hệ thương mại giữa hai đối tác chịu sự điều chỉnh của luật WTO. Tuy nhiên, hai đối tác vẫn tăng cường hợp tác sâu rộng hơn về các vấn đề thương mại. Nhân dịp chuyến viếng thăm chính thức lần đầu tiên tới Việt Nam của Chủ tịch Uỷ ban châu Âu từ ngày 25 đến ngày 27/11/2007, Việt Nam và EU đã tăng cường mối quan hệ song phương thông qua việc khởi động quá trình đàm phán Hiệp định về đối tác và hợp tác toàn diện (‘PCA’). Vòng đàm phán đầu tiên diễn ra vào tháng 6/2008, và đến tháng 7/2009, Việt Nam và EU đã hoàn thành bốn vòng đàm phán. Tại Hội nghị cấp cao ASEM lần thứ 8 tại Bỉ, ngày 4/10/2010, Việt Nam đã ký Hiệp định khung về đối tác và hợp tác toàn diện với EU.[‡]

II- CAM KẾT CỦA EU TẠI ĐÔNG NAM Á VÀ CHIẾN LƯỢC "CHÂU ÂU TOÀN CẦU" 

EU đã và đang ký kết hiệp định thương mại ưu tiên với nhiều nước. Năm 2007, Uỷ ban châu Âu triển khai chiến lược thương mại mới với tham vọng đàm phán các FTAs với nhiều đối tác chiến lược. Uỷ ban châu Âu đã chính thức thiết lập chiến lược châu Âu mới với thông điệp ‘châu Âu toàn cầu - cạnh tranh trên thế giới’, như là một chính sách thương mại mới của EU. Trong khuôn khổ chính sách đó, một trong những ưu tiên của EU là ký những FTAs mới đầy tham vọng với các đối tác chiến lược. Về nội dung, mục tiêu của ‘châu Âu toàn cầu’ hướng tới những FTAs mạnh, toàn diện, theo mô hình ‘WTO+’. Thuế quan và các biện pháp hạn chế số lượng cần phải loại bỏ, và có thể sẽ áp dụng đối với ít nhất 90-95% dòng thuế quan và quy mô thương mại, nhằm tuân thủ yêu cầu của Điều XXIV GATT. Tự do hoá phải mở rộng ra cả lĩnh vực thương mại dịch vụ và đầu tư. Những điều khoản về thương mại dịch vụ phải phù hợp với yêu cầu tại Điều V GATS. Một hiệp định đầu tư mẫu của EU đã được dự tính và phát triển dựa trên sự hợp tác với các nước thành viên EU. Phải có những điều khoản ngoài những quy định của WTO về cạnh tranh, mua sắm chính phủ, IPRs và thuận lợi hoá thương mại, tiêu chuẩn lao động và môi trường. Quy tắc xuất xứ (‘RoO’) phải được đơn giản hoá. Nhìn chung, phải có các quy định điều chỉnh rõ ràng và hợp tác quản lý, đặc biệt là thảo luận về các NTBs, đồng thời phải tăng cường các nghĩa vụ minh bạch, các thỏa thuận công nhận lẫn nhau, hài hoà hoá pháp luật, đối thoại về pháp luật và hỗ trợ ký thuật.

Trên cơ sở chiến lược mới này, ngày 23/4/2007, Hội đồng châu Âu (Hội đồng bộ trưởng EU) đã uỷ quyền cho Uỷ ban châu Âu bắt đầu đàm phán một FTA với ASEAN. Các cuộc đàm phán chính thức được khởi động tại cuộc tham vấn giữa EU và các bộ trưởng kinh tế ASEAN diễn ra tại Bru- nây Đa-ru-xa-lam vào ngày 4/5/2007. Các cuộc đàm phán giữa EU và ASEAN được dự định diễn ra theo cách tiếp cận ‘khu vực-khu vực’, trong khi đó thừa nhận và có tính đến những mức độ phát triển và năng lực khác nhau của từng thành viên ASEAN. Do tiến trình đàm phán EU-ASEAN diễn ra chậm, nên tháng 3/2009, cả hai bên đã nhất trí thỏa thuận hoãn vòng đàm phán. Ngày 22/12/2009, Uỷ ban châu Âu đã thông báo rằng các nước thành viên EU đã uỷ quyền cho Uỷ ban châu Âu tiến hành đàm phán các FTAs với từng nước thành viên ASEAN. Các cuộc đàm phán về FTA mới giữa Việt Nam và EU đã được khởi động trong khuôn khổ chiến lược mới này.

III- HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI TỰ DO VIỆT NAM - EU (FTA VIỆT NAM - EU) 

FTAs đã ngày càng trở thành công cụ chính sách thương mại tinh vi và phức tạp. EU đã bắt đầu sử dụng các FTAs một cách có hệ thống từ những năm 1990 để mở rộng tầm ảnh hưởng kinh tế đối với các nước láng giềng. Đồng thời, các FTAs cũng nhằm tới các vấn đề phi thương mại. Thế hệ các FTAs mới có thể được mô tả như những công cụ chính sách kinh tế đối ngoại chín muồi giúp giảm các rào cản thương mại một cách hiệu quả. Được đàm phán trong khuôn khổ của sáng kiến ‘châu Âu toàn cầu’, làn sóng các FTAs mới đã mang lại một trật tự pháp luật được cấu trúc một cách công bằng. Ngoài vấn đề thương mại cổ điển như thương mại hàng hoá và thương mại dịch vụ, các FTAs hiện đại còn bao gồm các quy định về môi trường, cạnh tranh, mua sắm chính phủ và đầu tư. Mục này sẽ mô tả nội dung chính của FTA trong tương lai và sẽ đưa ra những phân tích chính sách theo cách chúng sẽ được áp dụng trong bối cảnh quan hệ thương mại với Việt Nam.

1- Giảm thuế quan

Giảm thuế quan đã luôn là vấn đề cốt lõi của bất ký FTA nào và FTA Việt Nam-EU cũng không phải là ngoại lệ. Tuỳ thuộc vào đối tác thương mại trong FTA và đặc biệt là đối với các DCs, việc giảm thuế quan đối với ‘hầu hết thương mại’ luôn là vấn đề trọng tâm của các cuộc đàm phán. Tất nhiên, việc giảm thuế quan sẽ được cả hai bên thực hiện; nhưng Việt Nam sẽ phải chịu gánh nặng lớn hơn. Trên thực tế, khi xem xét mức thuế quan của EU đối với hàng hoá, có thể thấy rõ thuế quan áp đối với tất cả các sản phẩm đều thấp, trừ trường hợp duy nhất đáng chú ý là thuỷ sản và nông sản. Trong các cuộc đàm phán thương mại, châu Âu sẽ luôn duy trì các rào cản thương mại đối với nông sản và thuỷ sản ở mức cao, nhưng lại giảm thuế quan đối với các sản phẩm khác.

Bởi vì các nước đối tác không thể chấp nhận sự bất cân xứng của các nhượng bộ thương mại, do đó EU thường thỏa hiệp về các vấn đề khác để cân bằng lại các nhượng bộ thương mại. Ví dụ, ngăn cản nông sản được trợ cấp của EU xâm nhập thị trường nội địa của Việt Nam. EU thường xuyên loại trừ hoặc hạn chế nghiêm ngặt nhượng bộ thương mại về các sản phẩm như thịt bò, đường, một loạt các sản phẩm sữa, một số ngũ cốc và các sản phẩm ngũ cốc, gạo, một số loại hoa quả tươi và rau, một số hoa cắt cành và thuỷ sản. Các nhà đàm phán EU cũng sẽ dành cho các nước đối tác thời gian lâu hơn để đạt được tự do hoá theo lộ trình đối với thương mại hàng hoá. Về khía cạnh này, trong khi thông thường EU sẽ hoàn thành quá trình tự do hoá trong vòng 5 năm, Việt Nam có thể được gia hạn trong khoảng thời gian từ 5 đến 15 năm. Việc loại bỏ thuế quan được thực hiện qua một giai đoạn chuyển tiếp để sản xuất nội địa có thể dần dần thích ứng với việc giảm thuế quan. Người tiêu dùng sẽ được hưởng lợi từ giá cả thấp hơn và nhà xuất khẩu có thể tăng cường khả năng cạnh tranh.

2- Rào cản phi thuế quan (ntbs)

Trong bối cảnh chiến lược ‘châu Âu toàn cầu’ mới, EU tìm cách tiếp cận thị trường sâu rộng hơn thông qua việc loại bỏ các NTBs. Rào cản này tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau như tiêu chuẩn, yêu cầu, quy định, thủ tục kiểm tra và chứng nhận, và thường được phân loại thành rào cản kỹ thuật trong thương mại (‘TBT’) - áp dụng đối với hàng công nghiệp, và các biện pháp vệ sinh, kiểm dịch động-thực vật (‘SPS’) - áp dụng đối với động vật và sản phẩm từ động vật, thực vật và các sản phẩm thực vật. Các chi phí do NTBs gây ra là gánh nặng lớn, thường cao hơn so với thuế quan, đặc biệt là cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (‘SMEs’). Tuy nhiên, do hầu hết các NTBs đều hợp pháp, vì chúng theo đuổi các mục tiêu chính sách công cộng, nên thường khó xác định và loại bỏ chúng. Các FTAs hiện đại của EU bao gồm một hoặc nhiều phụ lục nhằm xử lý hiệu quả những rào cản này, và những rào khác được xác định như là những trở ngại quan trọng nhất để tiếp cận các thị trường nước ngoài trong các lĩnh vực có liên quan. Về bản chất, rất khó nhận diện và tiếp cận sâu vào thực tiễn quản lý của các đối tác thương mại. Do đó, các quy định về NTBs phần lớn chỉ có thể có giá trị thực tế khi được dựa trên mô hình pháp luật châu Âu.

Trong bối cảnh của chiến lược NTBs, các FTAs của EU thường bao gồm một chương nhắc lại các quy định của Hiệp định TBT của WTO. Ngoài ra, các FTAs cũng ghi lại các điều khoản để hợp tác dựa trên các tiêu chuẩn và các quy định, và khi thích hợp sẽ thiết lập đối thoại giữa các nhà quản lý, với ý định đơn giản hoá và tránh sự mâu thuẫn không cần thiết về các yêu cầu ký thuật áp dụng cho sản phẩm. Hiệp định bao gồm cam kết cụ thể về thực hành quản lý tốt: minh bạch trong lập pháp, sử dụng các tiêu chuẩn quốc tế nếu có thể, cho đối tác cơ hội để thảo luận về các quy định pháp luật trước khi thực hiện và cho đối tác đủ thời gian nhận xét và phê chuẩn. Tương tự, cam kết này cũng được áp dụng đối với các tiêu chuẩn ký thuật. Ngoài ra còn có quy định về đánh dấu và dán nhãn, theo đó yêu cầu về đánh dấu hoặc dán nhãn sản phẩm sẽ được giảm càng nhiều càng tốt và sẽ không phân biệt đối xử. Cuối cùng là cơ chế phối hợp được thiết lập giữa các thành viên FTA nhằm xem xét và giải quyết bất ký vấn đề cụ thể nào. Các phụ lục nhằm làm hài hoà sự bất đối xứng trong các quy định giữa hai nước. Thông thường điều này diễn ra khi công nhận tiêu chuẩn quốc tế tương đương với tiêu chuẩn nội địa. Về FTA Việt Nam-EU, sẽ là hợp lý nếu có phụ lục về các ngành ô-tô, điện tử và máy móc - những lợi ích xuất khẩu chủ yếu của EU sang thị trường Việt Nam.

Dường như khó có khả năng giảm rào cản SPS và TBT. Ngay cả sau khi chiến lược ‘châu Âu toàn cầu’ của EU được đưa ra, thì chính sách của EU vẫn không thay đổi: chính sách này nhằm mục đích xử lí các NTBs, nhưng trước hết phải phục vụ lợi ích của các nhà xuất khẩu EU. Điều khả quan hơn là FTA Việt Nam- EU tạo ra một khuôn khổ hỗ trợ kỹ thuật, thảo luận và tiếp tục hợp tác về các vấn đề SPS và TBT. Cần phải chú trọng việc đàm phán các điều khoản hợp tác toàn diện. Về khía cạnh này, các hiệp định được ký kết giữa EU với các nước ACP có thể được coi là chuẩn mực về mức độ hợp tác mà theo đó Việt Nam có thể hi vọng thỏa thuận được với EU về vấn đề SPS và TBT. Trong các hiệp định này, hợp tác cũng bao gồm hỗ trợ kỹ thuật, đào tạo và các biện pháp thúc đẩy chuyển giao tri thức và tăng cường các dịch vụ công. Việt Nam có thể yêu cầu được đối xử ngang bằng với những kết quả mà các nước ACP đạt được và yêu cầu trợ giúp kỹ thuật từ phía EU trong bối cảnh các cuộc đàm phán FTA.

Cuối cùng, để giảm chi phí khi thực hiện các yêu cầu của EU về SPS và TBT, Việt Nam cần nỗ lực để đạt được các hiệp định về công nhận lẫn nhau, hay công nhận tương đương ‘ad hoc’ với EU. Mặc dù khó đạt được những hiệp định về thuận lợi hóa thương mại này, nhưng rõ ràng là mục tiêu của chúng, trong khuôn khổ một FTA, nên được ưu tiên. Việc ký kết các hiệp định này, nhất là trong lĩnh vực mà Việt Nam đang có hoặc sẽ có cơ hội xuất khẩu sang thị trường EU, sẽ giúp cho các nhà sản xuất, xuất khẩu và thương nhân của Việt Nam khai thác những lợi thế so sánh quan trọng và những điều kiện tiếp cận thị trường ‘ưu đãi’ ngang bằng hoặc lớn hơn so với những nhượng bộ thuế quan sẽ được thiết lập trong FtA Việt Nam-EU.

3- Các biện pháp khắc phục thương mại và tình trạng nền kinh tế thị trường

Chương liên quan đến các biện pháp khắc phục thương mại trong FTA Việt Nam-EU sẽ bao gồm các điều khoản liên quan đến việc sử dụng các công cụ phòng vệ thương mại truyền thống đã tồn tại trong luật WTO (AD, CVD và tự vệ). Nguyên tắc chỉ đạo quan trọng liên quan đến các công cụ phòng vệ truyền thống nhằm mục đích tái khẳng định sự cần thiết phải tôn trọng các quyền và nghĩa vụ đã được vạch ra trong luật WTO, trong khi đó đồng thời đưa ra những quy tắc để hạn chế việc sử dụng các công cụ này trong những tình huống cần thiết, và để đảm bảo đối xử công bằng cho tất cả các bên liên quan. Đó là những tiêu chuẩn trong luật EU.

Ví dụ, FTA yêu cầu mức thuế quan phải thấp hơn so với toàn bộ số tiền bán phá giá hoặc trợ cấp, và ở mức độ vừa đủ để loại bỏ thiệt hại. Đồng thời, FTA cũng đưa ra các phương thức có thể kiểm nghiệm được lợi ích công, từ đó cân bằng với lợi ích khác, và xem xét tác động mà thuế quan có thể gây ra cho các chủ thể tham gia hoạt động kinh tế, trước khi áp đặt bất ký biện pháp nào.

Bên cạnh đó, FTA còn có các điều khoản nhằm tăng tính minh bạch của quá trình điều tra. Đồng thời, các chủ thể tham gia hoạt động kinh tế, khi tham gia tố tụng, có thể đệ trình tài liệu bằng tiếng Anh. Việc này giúp các bên có thể thực thi tốt hơn các quyền phòng vệ của mình và tránh được chi phí dịch thuật tốn kém.

Hiệp định sẽ bao gồm một điều khoản tự vệ song phương cho phép một trong hai bên tạm thời áp dụng mức thuế quan ưu đãi thông thường cho các thành viên WTO, trong trường hợp nhập khẩu tăng gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại nghiêm trọng. EU sẽ giám sát thị trường trong các lĩnh vực nhạy cảm và sẽ sẵn sàng kích hoạt các thủ tục tự vệ bất cứ khi nào các điều kiện áp dụng biện pháp tự vệ được đáp ứng. Đồng thời, khi hiệp định có hiệu lực, EU sẽ ban hành một bản Quy định (EU ‘Regulation’) về các thủ tục nhanh chóng và hiệu quả nhằm thực hiện điều khoản tự vệ song phương.

Cuối cùng, Nhóm công tác về các biện pháp khắc phục thương mại đã được thành lập nhằm tạo ra một diễn đàn đối thoại về hợp tác liên quan đến các biện pháp khắc phục thương mại. Nhờ đó, các cơ quan điều tra của mỗi bên sẽ có hiểu biết rộng hơn về các thực tiễn tương ứng của mỗi bên và trao đổi ý kiến nhằm tăng cường các tiêu chuẩn được sử dụng trong các vụ kiện về phòng vệ thương mại.

 Bên cạnh mục tiêu giảm thuế quan EU và hạn chế việc áp dụng các NTBs, thì Việt Nam còn hi vọng đàm phán FTA với EU. Thách thức phi thuế quan lớn nhất mà hàng xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường EU phải đối diện, đó là các công cụ phòng vệ thương mại của EU, đặc biệt là các biện pháp AD, SPS và TBT.

Về các công cụ phòng vệ thương mại, trong bối cảnh đàm phán FTA đang diễn ra, vẫn không rõ liệu đề nghị đàm phán của EU liên quan tới vấn đề AD và CVD có bao gồm các điều khoản về hợp tác tăng cường và một tập hợp các nghĩa vụ ‘WTO+’ hay không, hay chỉ đơn giản đưa ra một yêu cầu thông báo bắt buộc và xác định lại các quyền và nghĩa vụ của các bên theo các hiệp định WTO? EU sẽ không nhượng bộ về thuế AD và CVD cho Việt Nam. FTA sẽ có thể không có bất ký tác động tích cực đáng kể nào đối với vấn đề AD và CVD của EU. Trái lại, nó có thể đưa ra các yêu cầu chặt chẽ hơn đối với Việt Nam trong lĩnh vực trợ cấp, bán phá giá và sử dụng các công cụ phòng vệ thương mại, trừ khi EU đồng ý, trong các cuộc đàm phán FTA, công nhận Việt Nam là một nền kinh tế thị trường trước thời hạn của WTO. Tương tự, việc thừa nhận ngay lập tức tình trạng nền kinh tế thị trường được coi như ưu tiên đàm phán của Việt Nam trong bối cảnh FTA với EU. Trong trường hợp Việt Nam không được EU công nhận ngay lập tức là nền kinh tế thị trường, Việt Nam nên đàm phán một khung thời gian thích hợp để được công nhận và đảm bảo ít nhất ngang bằng tiêu chuẩn của WTO về việc công nhận nền kinh tế thị trường đối với trường hợp của Trung Quốc.

4- Thương mại dịch vụ và đầu tư

Các FTAs mới của EU chủ yếu dựa trên tiếp cận thị trường dịch vụ và cố gắng đạt được nhượng bộ thương mại vượt xa GATS. Cho tới thời điểm năm 2012, ngược lại với các FTAs của các nước khác, các FTAs của EU không thiết kế một chương riêng về thương mại dịch vụ và đầu tư. Hơn nữa, trong một mục tập hợp tất cả các nhượng bộ về dịch vụ và đầu tư, chúng chỉ được giới hạn ở phương thức hiện diện thương mại. Có thể Việt Nam sẽ phải tuân thủ theo các quy tắc đầu tư quốc tế trong một chương về đầu tư. Điều này không khó đối với Việt Nam, vì Việt Nam đã tham gia nhiều BITs với một số nước thành viên EU.

Tiêu đề dịch vụ bao gồm khoảng 6-7 chương. Chương đầu tiên đưa ra các quy định chung. Chương thứ hai giải quyết vấn đề hiện diện thương mại, thành lập doanh nghiệp, áp dụng theo các hiệp định mẫu của NAFTA đối với cả hoạt động kinh tế dịch vụ và phi dịch vụ. Chương thứ ba liên quan đến thương mại dịch vụ qua biên giới. Chương thứ tư giải quyết vấn đề dịch chuyển tạm thời của thể nhân, và chương thứ năm đưa ra các khuôn khổ pháp luật. Chương thứ sáu giải quyết vấn đề thương mại điện tử; chương thứ bảy đưa ra các gói hợp tác (viện trợ thương mại) cho dịch vụ. Bên cạnh đó, các FTAs của EU còn bao gồm các phụ lục cụ thể về các ngành kinh tế được lựa chọn, như giao thông vận tải, viễn thông, tài chính, dịch vụ pháp luật, dịch vụ môi trường, vận tải biển và xây dựng. Bên cạnh tiêu đề dịch vụ, các FTAs của EU cũng bao gồm các quy định về tự do dịch chuyển vốn, nhằm đảm bảo cho các hiệp định được thực hiện thuận lợi. Những hiệp định này bao gồm các biện pháp tự vệ tiêu chuẩn cho cả hai bên, nhằm đảm bảo sự ổn định của hệ thống tài chính.

Thị trường Việt Nam là một trong những điểm đến hấp dẫn nhất cho FDI, thậm chí không cần tới bất cứ FTA nào. Câu hỏi được đặt ra là liệu việc ký kết một FTA với EU có mang lại các luồng đầu tư thêm, từ EU và các nước thứ ba, đổ vào lĩnh vực mà nguồn vốn đầu tư hướng tới, và liệu những khoản đầu tư này có tăng cường năng lực cạnh tranh cho nền kinh tế của Việt Nam hay không? Về mặt này, Việt Nam đã nhận được nguồn vốn FDI đáng kể, tuy nhiên dường như chất lượng của hoạt động đầu tư vẫn chưa cao. Việt Nam sẽ phải nhận được nhiều lợi ích từ một FTA với EU, về cả thương mại lẫn tăng cường đầu tư. Dưới góc độ phân tích chất lượng, thì dường như lợi ích lớn nhất mà Việt Nam có thể đạt được (không chỉ về quy mô và chất lượng của FDI, mà còn về lợi ích kinh tế nói chung) là từ việc tự do hoá dịch vụ.

Khả năng cạnh tranh của Việt Nam trong lĩnh vực sản xuất thì không cần phải nghi ngờ. Sự kết hợp giữa yếu tố lực lượng lao động giá thành rẻ với việc tự do tiếp cận thị trường trong khu vực ‘ASEAN+’ giúp cho Việt Nam trở thành trung tâm xuất khẩu tiềm năng tới các nước trong toàn khu vực. Sự tồn tại của một FTA với EU không chỉ tăng xu hướng đầu tư cho các công ty của EU sang Việt Nam, mà nó còn đem lại lợi ích gia tăng cho nền kinh tế của Việt Nam. Lợi ích này có được là do sức lôi cuốn của thị trường Việt Nam ngày càng tăng, nhờ vào điều kiện sản xuất và xuất khẩu (hàng hoá rẻ hơn và tốt hơn từ châu Âu, thị trường rộng lớn hơn với 3,5 triệu người; tăng cường chuyển giao công nghệ sang Việt Nam), nhờ đó sẽ thu hút được nhiều nguồn vốn đầu tư hơn với chất lượng tốt hơn từ trong và ngoài khu vực FTA.

Mặc dù có khả năng là nguồn vốn FDI vào ngành sản xuất sẽ gia tăng, nhưng dường như Việt Nam có thể đạt được lợi ích lớn hơn từ việc tự do hoá một số ngành dịch vụ. Những thành tựu đạt được không chỉ dựa trên những tác động kinh tế rộng lớn xuất phát từ tự do hóa dịch vụ, mà còn nhờ vào các mô hình FDI của EU. Thật vậy, xu hướng xuất khẩu mạnh trong ngành dịch vụ của EU dường như hoàn toàn phù hợp với nhu cầu nâng cao năng lực sản xuất ngày càng tăng của Việt Nam, hơn nữa, Việt Nam tiếp tục phát triển hướng tới các tiêu chuẩn phù hợp với các nước thu nhập trung bình, những nước mà tăng trưởng dựa trên ngành dịch vụ năng động. Mặc dù vậy, kinh nghiệm dường như cho thấy rằng yếu tố kinh tế-chính trị của tự do hóa dịch vụ gây khó khăn cho việc tự do hoá thương mại dịch vụ trên cơ sở ưu đãi. Một giải pháp có thể được đề xuất, đó là sử dụng FTA để ủng hộ các cải cách pháp luật nội địa và nền kinh tế, theo kinh nghiệm của nhiều FTAs ‘Bắc-Nam’.

5- Mua sắm chính phủ

Trong tất cả các FTAs của EU đều có một chương về mua sắm chính phủ. Chương này điều chỉnh hoạt động mua sắm công đối với cả hàng hoá và dịch vụ. Trong chiến lược ‘châu Âu toàn cầu’, EU xác định mua sắm chính phủ là lĩnh vực chính sách then chốt giúp các công ty của EU cạnh tranh mạnh hơn trên thị trường quốc tế. Trong bối cảnh đàm phán FTA, có lẽ có hai động cơ giải thích tại sao EU mong muốn đưa chương mua sắm chính phủ vào trong FTA. Thứ nhất và thẳng thắn nhất, nó giúp EU nâng cao khả năng tiếp cận thị trường mua sắm công của các đối tác trong FTA. Thứ hai, tạo nền tảng để thúc đẩy các lợi ích kinh tế tiềm năng đối với một phần các nước đối tác FTA, thông qua việc cải thiện môi trường kinh doanh, giúp chống tham nhũng, cải thiện khuôn khổ pháp luật và thủ tục hành chính trong nước.

6- Cạnh tranh

Trong nhiều FTAs của EU có một chương về cạnh tranh. Trong chương cạnh tranh, các bên đồng ý cấm và áp dụng chế tài đối với một số thực tiễn và giao dịch hàng hoá, dịch vụ gây tác động bóp méo cạnh tranh và thương mại. Điều này ngụ ý rằng các hành vi hạn chế cạnh tranh (như các-ten) hoặc các công ty có hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường và sáp nhập phi cạnh tranh, sẽ không được các bên chấp nhận và sẽ bị cưỡng chế, vì những hành vi này gây hại cho người tiêu dùng và làm cho người tiêu dùng phải trả giá cao hơn. Phần lớn sự hợp tác là tự nguyện. Tuy nhiên, có những quy tắc phải được tôn trọng khi hợp tác. Ví dụ, các cơ quan cạnh tranh của hai bên được yêu cầu phải thông báo cho nhau về việc thực thi thủ tục tố tụng đối với hoạt động kinh doanh phi cạnh tranh thuộc phạm vi của chương này và đang diễn ra trong lãnh thổ của các bên.

Trong FTA EU-Hàn Quốc, có một mục về trợ cấp, theo đó các bên đồng ý khắc phục hay loại bỏ các trợ cấp gây tác động bóp méo cạnh tranh và thương mại quốc tế. Mục này đặc biệt quan trọng, vì nó cấm các loại trợ cấp được cho là đặc biệt bóp méo cạnh tranh. Đó là:

-  Trợ cấp bao gồm các khoản nợ hoặc nợ phải trả của doanh nghiệp mà không có bất ký giới hạn nào, trong pháp luật hoặc trong thực tế, về số lượng hoặc thời gian;

-  Trợ cấp cho các doanh nghiệp yếu kém, mà không có một kế hoạch tái cơ cấu đáng tin cậy nào dựa trên các giả định thực tế, theo đó có thể giúp cho người nhận trợ cấp duy trì được sự tồn tại trong dài hạn mà không cần phụ thuộc vào sự hỗ trợ của nhà nước.

7- Quyền sở hữu trí tuệ (iprs)

Việc bảo hộ và thực thi IPRs là vấn đề sống còn đối với khả năng cạnh tranh của EU. Để duy trì các tiêu chuẩn bảo hộ được áp dụng ở các nước EU, các FTAs của EU đều quy định một chương về IPRs, có cấu trúc khác nhau, tùy thuộc vào từng đối tác. Chương IPRs tham vọng nhất đã được quy định trong FTA EU-Hàn Quốc, chứa đựng các điều khoản rất phát triển, nhất là về quyền tác giả, kiểu dáng công nghiệp và chỉ dẫn địa lí nhằm bổ sung và cập nhật Hiệp định TRIPS. Chương này cũng bao gồm một phần quan trọng về thực thi IPRs dựa trên các quy tắc nội bộ của EU quy định trong Chỉ thị về thực thi IPRs của EU.

8- Thương mại và phát triển bền vững

Các FTAs của EU bao gồm những điều khoản quy định các cam kết và khuôn khổ hợp tác về thương mại và phát triển bền vững. Các hiệp định tạo ra sự đột phá trong lĩnh vực thương mại và phát triển bền vững, tạo diễn đàn đối thoại chặt chẽ và tiếp tục các cam kết giữa EU và các nước đối tác trong lĩnh vực môi trường và lao động. Chương về thương mại và phát triển bền vững bao gồm cam kết mạnh mẽ của cả hai bên về các tiêu chuẩn lao động và môi trường. Các hiệp định cũng thiết lập cấu trúc thiết chế để thực thi và giám sát các cam kết giữa các bên, bao gồm sự tham gia của xã hội dân sự.

9- Hải quan và thuận lợi hóa thương mại

Hải quan và thuận lợi hóa thương mại là thành phần quan trọng của thương mại quốc tế. Thật vậy, sự thiếu hiệu quả và sự chậm trễ trong các hoạt động hải quan hoặc logistics thường được coi là một trong những rào cản chính đối với thương mại. Các FTAs của EU bao gồm một chương nhằm mục đích giảm chi phí và tăng hiệu quả của thủ tục hải quan, bằng cách tăng cường hoạt động hợp tác song phương về hải quan và các vấn đề liên quan đến hải quan. Đặc biệt, EU và Việt Nam có thể cam kết: (i) Hài hoà các yêu cầu về tài liệu và dữ liệu; (ii) Tăng cường việc giao tiếp hiệu quả với khu vực doanh nghiệp; (iii) Hỗ trợ nhau trong các vấn đề liên quan đến phân loại thuế quan, xác định trị giá tính thuế hải quan và xuất xứ ưu đãi của hàng hoá; (iv) Thúc đẩy việc thực thi IPRs trong hoạt động nhập khẩu, xuất khẩu, quá cảnh một cách mạnh mẽ và hiệu quả; và (v) Tăng cường an ninh cho vận tải biển và nhập khẩu hàng hoá bằng đường biển, chuyển tàu hoặc quá cảnh tại các bên, nhưng đồng thời tạo thuận lợi cho thương mại.

IV- PHƯƠNG ÁN KHÁC

Trong trường hợp các cuộc đàm phán FTA giữa EU và Việt Nam không đi đến thỏa thuận cuối cùng, phương án thay thế duy nhất cho FTA được WTO cho phép, đó là duy trì hệ thống ưu đãi thuế quan phổ cập (‘GSP’) dành cho tất cả các DCs. GSP này bao gồm:

(i) Một thỏa thuận chung;

(ii) Một thỏa thuận khuyến khích đặc biệt dành cho phát triển bền vững và quản lý tốt, gọi là ‘GSP+’;

(iii) Một thỏa thuận đặc biệt dành cho các LDCs.

thỏa thuận chung miễn thuế quan cho các sản phẩm không nhạy cảm, và giảm thuế quan từ 3,5% đến 20% cho các sản phẩm nhạy cảm (Uỷ ban châu Âu có thẩm quyền ấn định danh sách các sản phẩm nhạy cảm). thỏa thuận khuyến khích đặc biệt ‘GSP+’ miễn thuế quan cho gần như tất cả các sản phẩm, nhạy cảm hoặc không nhạy cảm. Chỉ có một số nước được thụ hưởng ‘GSP+’, theo điều kiện phải phê chuẩn và thực hiện một số điều ước quốc tế về nhân quyền, quyền lao động, môi trường và các nguyên tắc quản lý tốt. Việt Nam hiện nay được thụ hưởng GSP của EU; tuy nhiên, không giống FTA, các ưu đãi GSP được xem xét lại theo định kỳ. GSP của EU dành cho Việt Nam đã được sửa đổi năm 2008.

FTA VietNam-EU sẽ giúp cho Việt Nam có thể tự do tiếp cận thị trường EU, nhưng không giống GSP, FTA sẽ được thực hiện trên cơ sở có đi có lại và bắt buộc Việt Nam phải mở cửa thị trường nhập khẩu cho EU. Ngoài ra, cần cân nhắc một số yếu tố khác rất quan trọng: khía cạnh chính trị, và sự tác động đối với hội nhập khu vực ASEAN, hiện tượng tái xuất khẩu, bản chất đơn phương của GSP, trong khi đó đặc điểm của các ưu đãi từ FTA là thương lượng.

Luật sư Nguyễn Thị Hoài Thương, tổng hợp (từ Giáo trình Luật Thương mại quốc tế - Đại học Luật Hà Nội và một số nguồn khác).

0 bình luận, đánh giá về Các hiệp định hợp tác thương mại song phương giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu

TVQuản trị viênQuản trị viên

Xin chào quý khách. Quý khách hãy để lại bình luận, chúng tôi sẽ phản hồi sớm

Trả lời.
Thông tin người gửi
Bình luận
Nhấn vào đây để đánh giá
Thông tin người gửi
Tổng đài tư vấn: 024-66 527 527
Giờ làm việc: Thứ 2 - Thứ 7: 8h30 - 18h00
0.09807 sec| 1030.531 kb