Khái quát về sở hữu trí tuệ và quyền sở hữu trí tuệ 

18/04/2023
Phạm Nhật Thăng
Phạm Nhật Thăng
Tài sản trí tuệ là một dạng tài sản hình thành trong quá trình tư duy của con người đối với thế giới khách quan được nhận biết dưới dạng kết quả cụ thể của hoạt động sáng tạo và có giá trị khi lại những lợi ích vật chất hoặc tinh thần cho người nắm tài sản này.

1- Khái niệm sở hữu trí tuệ và quyền sở hữu trí tuệ

Tài sản trí tuệ có thể hiểu theo nghĩa rộng là các kết quả của hoạt động sáng tạo trí tuệ của con người, bao gồm tất cả các sản phẩm của hoạt động trí tuệ từ các ý tưởng, tác phẩm văn học, nghệ thuật, công trình khoa học cho tới các giải pháp kỹ thuật, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, chương trình máy tính... ở nghĩa rộng hơn, tài sản trí tuệ được hiểu là bất kì tri thức nào có giá trị do cá nhân hoặc tổ chức nắm giữ, dù được pháp luật bảo hộ hay chỉ có tính hữu ích thông thường.

Ngày nay, một luận điểm được thừa nhận chung trên thế giới là quyền sở hữu trí tuệ đã trở thành công cụ thúc đẩy sự phát triển của khoa học, công nghệ nói riêng và kinh tế-xã hội nói chung. Từ góc độ kinh tế, mối quan hệ giữa kinh tế và quyền sở hữu trí tuệ thể hiện trên tất cả các giai đoạn của hoạt động sản xuất và kinh doanh như: nghiên cứu và phát triển sản phẩm (dịch vụ), thiết kế - chế tạo, đưa sản phẩm (dịch vụ) ra thị trường và các dịch vụ sau bán hàng. Cuộc cạnh tranh toàn cầu ngày càng dựa trên yếu tố công nghệ thì cuộc chạy đua tạo ra đối tượng sở hữu trí tuệ và đảm bảo quyền sở hữu trí tuệ càng trở nên khốc liệt. VỊ thế và vai trò của quyền sở hữu trí tuệ tiếp tục được nâng cao trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, khi Internet có thể kết nối mọi thứ để tạo nên nền kinh tế chia sẻ với sự thay đổi về chất trên bình diện toàn cầu.

Việt Nam nói riêng và các nước đang phát triển nói chung đang đối diện với vấn đề sở hữu trí tuệ trong phát triển sản xuất, kinh doanh và cạnh tranh thương mại với các nước phát triển. Điều này càng bị đẩy lên trong các thể chế quốc tế mới hướng đến tăng cường bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ, điển hình là Tổ chức Thương mại thế giới (WT0) với công cụ là Hiệp định về Các khía cạnh thương mại liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ (TRIPs). Điểm cơ bản nhất của thể chế này là việc tạo ra một chuẩn mực tối thiểu mới cho việc bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ thông qua khả năng ràng buộc, chế tài bằng các nghĩa Vu quốc tế được tạo ra từ việc giải quyết các tranh chấp về sở hữu trí tuệ trong khuôn khổ WTO.

Trong bối cảnh này, Việt Nam đã xây dựng được hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ đáp ứng các chuẩn mực của thế giới. Quyền sở hữu trí tuệ được điều chỉnh khá đầy đủ, tuy nhiên việc tiếp cận cần dựa trên một số khái niệm cơ sở như: sở hữu trí tuệ, quyền sở hữu trí tuệ và tài sản trí tuệ. Nội hàm rộng nhất trong sổ các thuật ngữ này là tài sản trí tuệ. Thuật ngữ “tài sản trí tuệ” ngày càng được sử dụng phổ biến trong các văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam, điển hình là quy định về khái niệm “quyền sở hữu trí tuệ” trong Luật sở hữu trí tuệ.

Lần đầu tiên, thuật ngữ “tài sản trí tuệ” được sử dụng một cách trực tiếp: “Quyền sở hữu trí tuệ là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng” (Khoản 1 Điều 4). Tuy nhiên, Luật sở hữu trí tuệ lại chưa đưa ra khái niệm “tài sản trí tuệ” một cách trực tiếp, khiến nó có vẻ như là “một khái niệm phổ thông và được thừa nhận chung”.

Việc tiếp Cận tài sản trí tuệ hiện nay thường không trên phương pháp lý vì các văn bản quy phạm pháp luật hiện tại cũng chưa quy định cụ thể về tài sản trí tuệ, kể cả Bộ luật dân sự năm 2015. Tài sản trí tuệ được tiếp cận trước tiên dưới góc độ tài sản. Tài sản trí tuệ là một can được từ hoạt động trí tuệ của con người. 

Tài sản trí tuệ là một dạng tài sản hình thành trong quá trình tư duy của con người đối với thế giới khách quan được nhận biet to dạng kết quả cụ thể của hoạt động sáng tạo và có giá trị khi lại những lợi ích vật chất hoặc tinh thần cho người nắm tài sản này. Tài sản trí tuệ có thê hiêu theo nghĩa rộng là các kết quả của hoạt động sáng tạo trí tuệ của con người, bao gồm tất cả các sản phẩm của hoạt động trí tuệ từ các ý tưởng, tác phẩm văn học, nghệ thuật, công trình khoa học cho tới các giải pháp kỹ thuật, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, chương trình máy tính...

Ở nghĩa rộng hơn, tài sản trí tuệ được hiểu là bất kì tri thức nào có giá trị do cá nhân hoặc tổ chức nắm giữ, dù được pháp luật bảo hộ hay chỉ có tính hữu ích thông thường.

Theo nghĩa hẹp, tài sản trí tuệ được hiểu dưới góc độ pháp lý là các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ (đối tượng sở hữu trí tuệ), bao gồm: các đối tượng của quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tác giả (tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học; cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng); các đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp (sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý...); và các đối tượng của quyền đối với giống cây trồng (vật liệu nhân giống và vật liệu thu hoạch).

Cách tiếp cận tài sản trí tuệ này phù hợp với tư tưởng xây dựng Luật sở hữu trí tuệ, theo đó tài sản trí tuệ chính là đối tượng sở hữu trí tuệ (quyền sở hữu trí tuệ là quyền đối với tài sản trí tuệ).1 Ngoài ra, tài sản trí tuệ còn có thể được mở rộng sang đối tượng khác có cùng bản chất như các sáng kiến hiện được điều chỉnh bởi Điều lệ Sáng kiến ban hành kèm theo Nghị định số 13/2012/NĐ-CP ngày 02/3/2012.

Thuật ngữ “sở hữu trí tuệ” và “quyền sở hữu trí tuệ” có mối quan hệ với bản chất tương tự như mối quan hệ giữa “sở hữu” và “quyền sở hữu”. Đây là môi quan hệ giữa phạm trù kinh tế với hình thức thể hiện pháp lý. Sở hữu trí tuệ và quyền sở hữu trí tuệ có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, đôi khi rất khó để phân định một cách rạch ròi trong thực tế. Điều này thể hiện cả trong tiếng Anh khi thuật ngữ “Intellectual Property” (sở hữu trí tuệ) tùy thuộc ngữ cảnh có thể được tiếp nhận là “Intellectual Property Rights” (quyền sở hữu trí tuệ) hay thậm chí là “Intellectual Property Assets” (tài sản trí tuệ).

Sở hữu trí tuệ dưới góc độ kinh tế được hiểu là mối quan hệ giữa cá nhân, tổ chức đối với tài sản trí tuệ, như là mối quan hệ “của mình” hay “thuộc về mình” và do đỏ tài sản trí tuệ này được xác định là không thuộc về những cá nhàn và tổ chức khác. Những cá nhân, tổ chức không có “sự thống trị” đối với tài sản trí tuệ thừa nhận và tôn trọng sự thống trị của người nắm tài sản trí tuệ. Sở hữu trí tuệ thực chất là mối quan hệ giữa các cả nhàn và tổ chức đối với tài sản trí tuệ giúp xác định “sự thuộc về” cá nhân, tổ chức cụ thể nào đó (sự chiếm đoạt). Nói một cách ngắn gọn. sở hữu trí tuệ là các quan hệ chiếm hữu, chiếm đoạt đối với tài sản trí tuệ (đối tượng sở hữu trí tuệ).

Quyền sở hữu trí tuệ là sự định hình các quan hệ sở hữu trí tuệ bằng pháp luật. Đây chính là hình thức thực hiện các quan hệ sở hữu trí tuệ dựa trên sự điều chỉnh pháp luật việc chiếm đoạt các đối tượng sở hữu trí tuệ của cá nhân và tổ chức. Việc xác định phạm vi của các quan hệ sở hữu trí tuệ không hề đơn giản, ảnh hưởng đến việc xây dựng khái niệm quyền sở hữu trí tuệ do đối tượng sở hữu trí tuệ có bản chất rất đa dạng, phức tạp và không đồng nhất. Hệ thống pháp luật sở hữu trí tuệ quốc gia và quốc tế rất lớn nhưng đến nay vẫn chưa quy định trực tiếp về khái niệm quyền sở hữu trí tuệ dựa trên việc khái quát bản chất.

Xem thêm: Dịch vụ pháp lý đăng ký nhãn hiệu của Công ty Luật TNHH Everest

Pháp luật và cả giới nghiên cứu hầu như chỉ liệt kê các dạng quyền sở hữu trí tuệ điển hình. Ví dụ, Công ước thành lập Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO) quy định tại Điều 2 (viii) rằng quyền sở hữu trí tuệ bao gồm các quyền đối với: các tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học; chương trình biểu diễn của các nghệ sĩ biểu diễn, các bàn ghi âm và chương trình phát thanh, truyền hình; sáng chế trong tất cả các lĩnh vực hoạt động của con người.

Tương tự như vậy, Luật sở hữu trí tuệ của Việt Nam cũng giải thích thuật ngữ quyền sở hữu trí tuệ bằng việc liệt kê các quyền cấu thành “Quyền sở hữu trí tuệ là quyên của tổ chức, cá nhân đối Với tài sản trí tuệ, hao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp quyền đối với giống cây trồng ” (Khoản 1 Điều 4). Ngày nay, quyền" sở hữu trí tuệ đã được mở rộng thêm đối với giống cây trồng, mạch tích hợp bán dẫn. bí mật kinh doanh, sự thể hiện văn học nghệ thuật truyền thống...

Từ Bộ luật dân sự năm 1995 (Điều 188) đến Bộ luật dân sự năm 2015 (Điều 115), bản chất quyền sở hữu trí tuệ đã được chỉ rõ là một dạng quyền tài sản. Như vậy, quyền sở hữu trí tuệ trước tiên là tài sản tức “tất cả những gì có giá trị tiền tệ thuộc sở hữu của một cá nhân, một đơn vị hoặc của Nhà nước”. Đồng thời, quyền sở hữu trí tuệ phải có được đặc trưng của quyền tài sản tức quyền trị giá được bằng tiền. Đặc điểm của quyền sở hữu trí tuệ dưới góc độ quyền tài sản không phải ở giá trị bằng tiền của nó mà ờ đối tượng của nó không mang hình thái vật thể.

Xuất phát từ bản chất pháp lý, quyền sở hữu trí tuệ có thế được tiếp cận theo các tiêu chí khác nhau, cụ thể:

• Dưới góc độ lý luận, quyền sở hữu trí tuệ có thể được hiểu theo hai phương diện: Theo phương diện khách quan, quyền sở hữu trí tuệ là tổng hợp các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tạo ra, xác lập, sử dụng và định đoạt các đối tượng sở hữu trí tuệ (quyền sở hữu trí tuệ được tiếp cận theo nghĩa của ngành luật sở hữu trí tuệ). Theo phương diện chủ quan, quyền sở hữu trí tuệ là tập hợp các quyền và nghĩa vụ cụ thể của các cá nhân, tổ chức đối với đối tượng sở hữu trí tuệ.

• Theo đối tượng quyền: Quyền sở hữu trí tuệ được chia làm ba nhánh tuỳ thuộc vào đối tượng quyền: quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả; quyền sở hữu công nghiệp; và quyền đối với giống cây trồng. Các nhánh quyền này được tiếp cận theo cách thức liệt kê đối tượng cụ thể trong Luật sở hữu trí tuệ (Điều 4).

Khi cá nhân, tổ chức có được quyền sở hữu trí tuệ thì thực chất đây là việc Nhà nước chấp nhận bảo hộ quyền này cho cá nhân, tổ chức đó. Hiện nay, không ít quan điểm cho rằng bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ không chỉ là sự công nhận quyền về mặt pháp lý (xác lập quyền sở hữu trí tuệ) mà còn là sự đảm bảo của Nhà nước đối với quyền được công nhận trong thực tế (bảo vệ hay còn được gọi là thực thi quyền sở hữu trí tuệ). Tiếp cận như vậy, tuy được coi là “theo nghĩa rộng” song có thể dẫn đến những mâu thuẫn ca về lý luận và thực tiễn khi việc sử dụng đồng thời cả hai thuật ngữ trong cùng một ngừ cảnh là “bảo hộ và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ” hay “bào hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ”.

Xuất phát từ thực tiễn thế giới và Việt Nam. nhất là từ cách thức quy định trong Luật sở hữu trí tuệ, có thể nhận thấy việc hiệu bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ không theo “nghĩa rộng” mà chỉ hướng đến việc Nhà nước chính thức công nhận quyền đối với các đối tượng sở hữu trí tuệ thông qua việc xác lập quyền. Điều này thể hiện rõ qua cách dùng thuật ngữ và quy định về “điều kiện bảo hộ sáng chế”, “điều kiện bảo hộ nhãn hiệu”... khi đây chỉ là các yêu cầu để xác lập quyền đối với các đối tượng này mà không điều chỉnh khía cạnh nào của hoạt động bảo vệ quyên sau khi được xác lập. Theo cách tiếp cận như vậy, bảo hộ và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ là hai giai đoạn kế tiếp nhau chứ không phải bao hàm nhau trong điều chỉnh pháp luật các quan hệ sở hữu trí tuệ.

Xem thêm: Dịch vụ pháp lý trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ của Công ty Luật TNHH Everest

2- Đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ

Đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ (hay đối tượng sở hữu trí tuệ) là các tài sản trí tuệ được điều chỉnh bởi pháp luật sở hữu trí tuệ. Phạm vi và mức độ điều chỉnh quyền sở hữu trí tuệ ở các nước còn nhiều sự khác biệt phụ thuộc vào: truyền thống lập pháp; trình độ phát triển, nhất là kinh tế; đặc thù phát triển của nền kinh tế...

Điển hình như việc chỉ dẫn địa lý là một đối tượng sở hữu trí tuệ quan trọng ở châu Âu và được điều chỉnh một cách cụ thể trong pháp luật của từng quốc gia thành viên, cũng như đối với toàn Liên minh châu Âu song lại không phải là đối tượng sở hữu trí tuệ độc lập trong pháp luật của Hoa Kỳ mà được bảo hộ từ góc độ của nhãn hiệu.

Pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam hiện nay điều chỉnh khá đầy đủ các đối tượng sở hữu trí tuệ phù hợp với thực tiễn của thế giới. Đối tượng quyền tác giả bao gồm mọi sản phẩm sáng tạo trong các lĩnh vực văn học, nghệ thuật, khoa học được thể hiện dưới bất kỳ hình thức và bằng bất kì phương tiện nào, không phân biệt nội dung, gia tri va khong phụ thuộc vào bất kì thủ tục nào và được gọi là tác phẩm. Các tác phàm phổ biến được liệt kê tại Điều 14 Luật sở hữu trí tuệ như: các tác phẩm văn học, các bài giảng, bài phát biểu, tác phẩm âm nhạc tác phẩm sân khấu... Đối tượng quyền liên quan bao gồm cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hoá.                                                  

Các đối tượng sở hữu trí tuệ rất đa dạng nhưng cũng có một số đặc điểm chung, cụ thể là:

-  Các đối tượng sở hữu trí tuệ không mang hình thái vật thể, tức vô hình, phi vật thể. Các đối tượng sở hữu trí tuệ khác với tài sản hữu hình ở chỗ chúng không có bản chất vật lí (không thể nhận biết sự tồn tại của chúng nhờ các giác quan) và tồn tại dưới dạng các thông tin, tri thức chứa đựng nhận thức về tự nhiên, xã hội và con người. Tuy vô hình, các đối tượng này cũng mang đặc tính xác định được (về bản chất -  nội dung, phạm vi - giới hạn, chức năng, công dụng và kể cả về giá trị).

Mỗi đối tượng sở hữu trí tuệ có thể độc lập tồn tại, phân biệt được với các đối tượng khác và được thể hiện trong thế giới khách quan bằng phương tiện vật chất nhất định như: ngôn ngữ, hình vẽ, ảnh chụp.. Các đối tượng sở hữu trí tuệ có thể nhận thức được (thông qua các giác quan) khi chúng được thể hiện dưới một dạng vật chất nhất định đóng vai trò như những công cụ vật chất cho sự nhận thức. Chính vì vậy, tác giả Kamil Idris đã đưa ra nhận định: “sở hữu trí tuệ không phải là bản thân sản phẩm mà là ý tượng đặc biệt chứa đựng đằng sau sản phẩm, là cách thức thể hiện ý tưởng đó và là cách thức riêng mà sản phẩm được gọi tên và mõ tá . 

-  Các đối tượng sở hữu trí tuệ có thể dễ dàng được sử dụng độc lập bởi nhiều chú thẻ khác nhau ưong không gian, thời gian khác nhau. Các đối tượng sở hữu trí tuệ do thuộc tính phi vật thể dễ lan truyền và không chi tồn tại ở một địa điểm nhất định nên khó kiểm soát việc chiếm hữu như các tài sản hữu hình. Ví dụ như Truyện Kiều của Nguyễn Du có rất nhiều bản sao khác nhau đề hàng nghìn người cùng đọc ở nơi và vào lúc thuận tiện với người đọc.

Xem thêm: Đăng ký bản quyền tác giả

3- Vai trò của quyền sở hữu trí tuệ

Trong bối cảnh toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế sâu hiện nay. khi khoa học và công nghệ là lực lượng sản xuất trực tiếp đối với sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội. quyền sở hữu trí tuệ trở thành công cụ hết sức quan trọng để thúc đẩy đổi mới sáng tạo. đóng góp vào sự phát triển của mỗi quốc gia. Quyền sở hữu trí tuệ trở thành yếu tố cạnh tranh quan trọng bậc nhất trong thương mại toàn cầu. Chính vì vậy, việc thiết lập hệ thống bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ hiệu quả có ý nghĩa sống còn đối với sự phát triển kinh tế đất nước: thúc đẩy đầu tư nước ngoài và chuyển giao công nghệ: lành mạnh hoá thị trường và cạnh tranh. Hệ thống bảo hộ và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ giúp các quốc gia đang phát triển như Việt Nam hội nhập thánh cóng vảo nén kinh tế khu vực và toàn cầu. Trong chiến lược và kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội, khoa học và công nghệ trung hạn và dài hạn của đất nước, chính sách và pháp luật về sở hữu trí tuệ được coi là một trong những yếu tố quan trọng.

Thứ nhất, quyền sở hữu trí tuệ giúp thúc đẩy hoạt động nghiên cứu sáng tạo, đói mới trong tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế văn hoá, xã hói, khoa học và công nghệ. Cơ chế bảo hộ và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ là công cụ hữu hiệu góp phần quan trọng thúc đẩy sự phát triển của các hoạt động nghiên cứu, sáng tạo, đổi mới. Với việc thừa nhân và đảm bảo quyền của chủ thể sáng tạo bằng pháp luật (trao độc quyền sử dụng, tạo sự cân bằng lợi ích giữa chủ thể sáng tạo và người sử dụng kết quà sáng tạo...), hệ thống sở hữu trí tuệ góp phần tạo điều kiện và môi trường thuận lợi để những người hoạt động khoa học, nghệ thuật, kinh doanh-thương mại an tám đầu tư và cống hiến cho hoạt động sang tạo. nghiên cứu và phát triển các ý tưởng mới, cải tiến và đổi mới sản phẩm, tư đo, lam gia tăng giá trị và cấu trúc tài sản vật chất và tinh thân cho xã hội.

Thứ hai, quyền sở hữu trí tuệ giúp thúc đẩy cạnh tranh và lành mạnh hoá thị trường, tạo thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, thúc đẩy thương mại trong nước và quốc tế. Hệ thống bảo hộ và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ hiệu quả góp phần đắc lực ngăn chặn các hành vi xâm phạm (nạn sao chép lậu, làm hàng giả, hàng nhái,...) đang khá phổ biến, cản trở sự phát triển lành mạnh của thị trường và gây hậu quả nghiêm trọng cho hoạt động sản xuất, kinh doanh bình thường của các doanh nghiệp. Việc áp dụng các chế tài nghiêm khắc và bộ máy thực thi pháp luật hiệu quà có vai trò lớn trong xử lý và đấu tranh chống các hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh và bảo bảo môi trường pháp lý an toàn cho các doanh nghiệp hoạt động sản xuất, kinh doanh, tự tin gia nhập các thị trường hàng hoá, dịch vụ trong nước, khu vực và toàn cầu.

Thứ ba, quyền sở hữu trí tuệ giúp thúc đẩy hoạt động đầu tư trong nước và nước ngoài, khuyến khích phó biên và chuyển giao công nghệ, tạo việc làm và nâng cao thu nhập cho người lao động. Quyền sở hữu trí tuệ được xem như một tài sản quan trọng trong thương mại, là động lực cho đổi mới và tiến bộ công nghệ. Hệ thống bảo hộ và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ mạnh, có hiệu quả là yếu tố quyết định thúc đẩy việc đổi mới sáng tạo, chuyển giao, thương mại hóa và xuất nhập khẩu công nghệ, giúp nâng cao năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh của sản pháp, hàng hoá, phát triển năng lực công nghệ nội sinh và thúc đẩy sự tăng trưởng của các ngành, các lĩnh vực. Khi quyền sở hữu trí tuệ được bảo hộ và bảo vệ hiệu quả, các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài sè được tiếp thêm động lực để quyết định đầu tư và ngược lại, một môi trường bảo hộ và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ yếu kém sẽ làm nản lòng các nhà đầu tư bởi sự e ngại các quyền của mình không được bảo đảm an toàn. Hệ thống sở hữu trí tuệ quốc gia hiệu quả là một đảm bảo cho các nhà đầu tư khi quyết định lựa chọn đối tác và thị trường đầu tư, góp phần thu hút và đẩy mạnh các hoạt động đầu tư trong nước và nước ngoài.

Thứ tư, quyền sở hữu trí tuệ có giá trị lớn. Giá trị của quyền sở hữu trí tuệ (tài sản trí tuệ) có xu hướng ngày càng tăng với tỷ trọng ngày càng lớn so với giá trị tài sản hữu hình của các doanh nghiệp. Từ thực tế này, trên thế giới hiện nay đã hình thành “các ngành công nghiệp thâm dụng sở hữu trí tuệ” (Intellectual Property Intensive Industries) trong nền kinh tế.

Tóm lại, hệ thống sở hữu trí tuệ hiện đại được xem như một chất xúc tác cho phát triển,’ như một trong những nền tảng quan trọng của chính sách kinh tế hiện đại ở tầm quốc gia. Trong quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, chúng ta cần nhận thức rõ tầm quan trọng và vai trò ngày càng tăng của quyền sở hữu trí tuệ trong chiến lược quốc gia để kịp thời điều chỉnh chính sách và pháp luật bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, từ đó. nâng cao khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp và nền kinh tế, thúc đẩy tốc độ và chất lượng tăng trưởng kinh tế, bảo đảm phát triển bền vững kinh tế-xã hội và nâng cao đời sống nhân dân.

Xem thêm: Đăng ký bảo hộ nhãn hiệu

4- Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest

[a] Bài viết Khái quát về sở hữu trí tuệ và quyền sở hữu trí tuệ được chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.

[b] Bài viết Khái quát về sở hữu trí tuệ và quyền sở hữu trí tuệ có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.

[c] Trường hợp cần giải đáp thắc mắc về vấn đề có liên quan, hoặc cần ý kiến pháp lý, hoặc thuê luật sư tư vấn cho vụ việc cụ thể, Quý vị vui lòng liên hệ với luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest qua Tổng đài tư vấn pháp luật: (024) 66 527 527, E-mail: info@everest.org.vn.

Phạm Nhật Thăng
Phạm Nhật Thăng

Phạm Nhật Thăng là chuyên gia Quản trị và An ninh (Management and Security)

0 bình luận, đánh giá về  Khái quát về sở hữu trí tuệ và quyền sở hữu trí tuệ 

TVQuản trị viênQuản trị viên

Xin chào quý khách. Quý khách hãy để lại bình luận, chúng tôi sẽ phản hồi sớm

Trả lời.
Thông tin người gửi
Bình luận
Nhấn vào đây để đánh giá
Thông tin người gửi
Tổng đài tư vấn: 024-66 527 527
Giờ làm việc: Thứ 2 - Thứ 7: 8h30 - 18h00
0.18307 sec| 1038.344 kb