Trang chủ » Pháp luật hiện hành quy định về đại xá như thế nào?

Pháp luật hiện hành quy định về đại xá như thế nào?

Pháp luật quy định về đại xá là sự tha miễn hoàn toàn đối với một số loại tội nhất định một thời điểm nhất định, không liên quan đến việc người được tha đã bị kết án hay chưa, không phụ thuộc vào yếu tố nhân thân hoặc thái độ cải tạo của người đó. Đại xá được áp dụng không chỉ đối với người đang bị giam giữ để điều tra hoặc thi hành án mà còn được áp dụng đối với bất kỳ ai đã phạm vào một trong những loại tội được hưởng đại xá.

quy định về đại xá
Công ty Luật TNHH Everest – Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900 6198

Pháp luật quy định về đại xá như thế nào? 

Pháp luật quy định về đại xá là sự tha miễn hoàn toàn đối với một số loại tội nhất định một thời điểm nhất định, không liên quan đến việc người được tha đã bị kết án hay chưa, không phụ thuộc vào yếu tố nhân thân hoặc thái độ cải tạo của người đó. Đại xá được áp dụng không chỉ đối với người đang bị giam giữ để điều tra hoặc thi hành án mà còn được áp dụng đối với bất kỳ ai đã phạm vào một trong những loại tội được hưởng đại xá. Đại xá là sự tha, miễn khoan hồng ở mức độ cao , thuộc thẩm quyền của Quốc hội . Tính đến nay , Nhà nước ta mới có hai lần quyết định đại xá tội phạm . Đó là năm 1945 ( nhân dịp thắng lợi của Cách mạng tháng Tám và sự ra đời của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa theo Sắc lệnh số 52 / SL ngày 20/10/1945 , khi nước ta chưa ban hành Hiến pháp ) và vào năm 1954 ( nhân dịp Giải phóng Thủ đô ) . Về hậu quả pháp lý , người được đại xá được trả tự do ngay , được phục hồi toàn bộ quyền công dân và coi như chưa phạm tội .

Người bị kết án cải tạo không giam giữ hoặc tù có thời hạn đến 03 năm chưa chấp hành hình phạt thì theo đề nghị của Viện trưởng VKS, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành hình phạt, nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

– Sau khi bị kết án đã lập công;

– Mắc bệnh hiểm nghèo;

– Chấp hành tốt pháp luật, có hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn và xét thấy người đó không còn nguy hiểm cho xã hội nữa.

Người bị kết án phạt tù có thời hạn trên 03 năm , chưa chấp hành hình phạt nếu đã lập công lớn hoặc mắc bệnh hiểm nghèo và người đó không còn nguy hiểm cho xã hội nữa, thì theo đề nghị của Viện trưởng VKS, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành toàn bộ hình phạt.

Người bị kết án phạt tù đến 03 năm, đã được tạm đình chỉ chấp hành hình phạt , nếu trong thời gian được tạm đình chỉ mà đã lập công hoặc chấp hành tốt pháp luật, hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn và xét thấy nguy trưởng VKS, Tòa án có thể quyết định miễn chấp hành phần hình phạt người đó không còn lại.

Thủ tục miễn chấp hành án phạt tù

Thủ tục miễn chấp hành án phạt tù được quy định như sau: VKSND cấp tỉnh, VKS quân sự cấp quân khu nơi người chấp hành án phạt tù đang cư trú hoặc làm việc lập hồ sơ đề nghị TAND cấp tỉnh , Tòa án quân sự cấp. quân khu xét miễn chấp hành án phạt tù. Hồ sơ gồm có:

– Bản sao bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật;

– Văn bản đề nghị của Viện trưởng VKS có thẩm quyền;

– Đơn xin miễn chấp hành án phạt tù của người bị kết án;

– Đối với người bị kết án đã lập công hoặc lập công lớn thì phải có bản tường trình có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền; đối với người bị kết án bị bệnh hiểm nghèo thì phải có kết luận của bệnh viện , hội đồng giám định y khoa cấp tỉnh , cấp quân khu trở lên ; đối với người bị kết án chấp hành tốt pháp luật , có hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn thì phải có xác nhận của chính quyền địa phương nơi người đó cư trú.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ đề nghị miễn chấp hành án phạt tù, Chánh án Tòa án có thẩm quyền thành lập Hội đồng và tổ chức phiên họp để xét, quyết định miễn chấp hành án phạt tù. Thành phần Hội đồng gồm 03 Thẩm phán; phiên họp có sự tham gia của KSV VKS cùng cấp . Trường hợp hồ sơ phải bổ sung theo yêu cầu của Tòa án thì thời hạn mở phiên họp được tính từ ngày nhận được hồ sơ bổ sung .

Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định về việc miễn chấp hành án phạt tù, Tòa án phải gửi quyết định đó cho người chấp hành án, VKS đề nghị, VKS cấp trên trực tiếp, cơ quan thi hành án hình Sự cùng cấp, Tòa án đã ra quyết định thi hành án, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người được miễn chấp hành án cư trú, đơn vị quân đội được giao quản lý người đó, Sở Tư pháp nơi Tòa án đã ra quyết định có trụ sở, Bộ Ngoại giao trong trường hợp người được miễn chấp hành án là người nước ngoài.

Ví dụ: Nguyễn Văn H bị truy tố, xét xử và tuyên án 10 năm tù về tội cố ý làm trái quy định của nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án, H đều mời luật sư A bào chữa , bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng cho H. Với sự tư vấn, hỗ trợ pháp lý của luật sư A, trong quá trình thi hành án, H luôn phấn đấu chấp hành tốt quy chế , nội quy của trại giam, tích cực học tập , lao động, luôn được xếp loại cải tạo tốt. Mặc dù hoàn cảnh gia đình rất khó khăn , vợ thường xuyên đau ốm , không có việc làm , 3 con còn nhỏ , nhưng H vẫn động viên gia đình cố gắng thực hiện xong các nghĩa vụ dân sự theo bản án . Đến đợt đặc xá , H mới thi hành án được 36 tháng , chưa đủ thời gian 1/3 theo quy định . Tuy nhiên , căn cứ định của pháp luật , luật sư A đã tư vấn , hỗ trợ pháp lý cho H và gia đình trong việc viết đơn , làm các thủ tục xin xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã nơi gia đình H cư trú về hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn , bản thân H là lao động duy nhất trong gia đình. Căn cứ vào đơn đề nghị của H và gia đình , xác nhận của chính quyền địa phương về hoàn cảnh gia đình của H , quá trình phấn đấu, cải tạo của H tại cơ sở giam giữ … các cơ quan có thẩm quyền đã xem xét , đề nghị và Chủ tịch nước đã chấp thuận cho H được hưởng đặc xá.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Gọi tư vấn
icons8-exercise-96