Trình tự giải quyết yêu cầu phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã

24/02/2023
Khi doanh nghiệp, hợp tác xã không có đủ khả năng để tiếp tục hoạt động, phải đi đến phá sản thì doanh nghiệp, hợp tác xã cần phải làm thủ tục phá sản. Thủ tục phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã được thực hiện theo trình tự được pháp luật quy định. Trình tự giải quyết yêu cầu phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã được quy định trong luật phá sản và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

I- NỘP VÀ THỤ LÝ ĐƠN YÊU CẦU MỞ THỦ TỤC PHÁ SẢN

(i) Nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản

Đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản là yêu cầu của chủ nợ đề nghị Tòa án mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán nợ. Phá sản chỉ được Tòa án xem xét, giải quyết trên cơ sở có yêu cầu mở thủ tục phá sản. Nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản là thủ tục bắt buộc đầu tiên của trình tự giải quyết yêu cầu phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã. Chủ thể có quyền và nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản được quy định cụ thể trong Luật Phá sản. Theo quy định tại Điều 5 Luật Phá sản năm 2014, các đối tượng sau đây có quyền nộp đơn yêu cầu Tòa án mở thủ tục phá sản để xem xét và giải quyết việc phá sản của một doanh nghiệp, hợp tác mất khả năng thanh toán nợ:

Thứ nhất, đó là các chủ nợ không có bảo đảm hoặc có bảo đảm một phần. Mục đích của Luật Phá sản trước tiên là nhằm bảo vệ quyền tài sản cho các chủ nợ, vì vậy các chủ nợ là đối tượng đầu tiên có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã để thu hồi các khoản nợ của mình. Tuy nhiên, không phải tất cả các chủ nợ đều có quyền nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản mà chỉ có chủ nợ không có bảo đảm và chủ nợ có bảo đảm một phần mới có quyền nộp đơn yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp. Các chủ nợ có bảo đảm không được quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản vì khoản nợ của họ đã được bảo đảm bằng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã con nợ hay bảo lãnh của bên thứ ba.

Thứ hai, những người lao động, công đoàn cơ sở, công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở ở những nơi chưa thành lập công đoàn cơ sở có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản. Các đối tượng này cũng được phép nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi hết thời hạn 03 tháng kể từ ngày phải thực hiện nghĩa vụ trả lương, các khoản nợ khác đến hạn đối với người lao động mà doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán. Người lao động, suy cho cùng, cũng chính là chủ nợ của doanh nghiệp, hợp tác xã đối với các khoản nợ lương nếu lương của người lao động không được thanh toán đầy đủ.

Thứ ba, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, hợp tác xã có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán. Như vậy, đối với doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán thì việc nộp đơn không chỉ là quyền mà còn là nghĩa vụ. Quy định này nhằm giúp doanh nghiệp, hợp tác xã mắc nợ có cơ sở để tự giải thoát mình khỏi tình trạng mất khả năng thanh toán, giải quyết một cách hợp pháp các quan hệ nợ nần hoặc dưới sự giám sát của Tòa án, doanh nghiệp, họp tác xã mắc nợ có thế cùng với các chủ nợ thỏa thuận các biện pháp hoà giải, tổ chức lại hoạt động sản xuất kinh doanh, hạn chế thiệt hại.

Thứ tư, chủ DNTN, Chủ tịch Hội đồng quản trị của CTCP, Chủ tịch Hội đồng thành viên của công ti TNHH hai thành viên trở lên, chủ sở hữu công ti TNHH một thành viên, thành viên hợp danh của công ti hợp danh có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán.

Thứ năm, cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 20% số cổ phần phổ thông trở lên trong thời gian liên tục ít nhất 06 tháng có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi CTCP mất khả năng thanh toán, cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu dưới 20% số cổ phần phổ thông trong thời gian liên tục ít nhất 06 tháng có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi CTCP mất khả năng thanh toán trong trường hợp Điều lệ công ti quy định. Quy định này nhằm bảo vệ lợi ích các cổ đông, nhóm cổ đông nhỏ trong CTCP.

Thứ sáu, thành viên hợp tác xã hoặc người đại diện theo pháp luật của hợp tác xã thành viên của liên hiệp hợp tác xã có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã mất khả năng thanh toán.

Ngoài ra, Luật Phá sản năm 2014 cũng quy định rõ nghĩa vụ của tổ chức tín dụng nộp đơn yêu càu mở thủ tục phá sản tổ chức tín dụng sau khi Ngân hàng nhà nước có văn bản chấm dứt kiểm soát đặc biệt hoặc văn bản chấm dứt áp dụng hoặc không áp dụng biện pháp phục hồi khả năng thanh toán mà tổ chức tín dụng vẫn mất khả năng thanh toán.

(ii)  thụ lý đơn yêu cầu giải quyết phá sản

thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản yêu cầu giải quyết phá sản được hiểu là việc Tòa án nhận đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, vào sổ thụ lý để giải quyết vụ việc phá sản.

Nhằm đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản cũng như trách nhiệm của Tòa án trong quá trình tiến hành giải quyết vụ việc phá sản, Luật Phá sản năm 2014 đã có những quy định cụ thể về thụ lý đơn yêu cầu giải quyết phá sản. Cụ thể, khi đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản được nộp lên Tòa án, Thẩm phán được phân công xử lý vụ việc trong thời hạn ba ngày sẽ xem xét và xử lý đơn về các nội dung sau:

(iii) Nếu đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản hợp lệ, Thẩm phán thông báo cho người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản về việc nộp lệ phí phá sản, tạm ứng chi phí phá sản, trừ trường hợp không phải nộp lệ phí phá sản, tạm ứng chi phí phá sản;

(iv) Trường hợp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản chưa đầy đủ, Thẩm phán sẽ thông báo cho người nộp đơn sửa đổi, bổ sung đơn;

(v) Neu thấy thẩm quyền giải quyết vụ việc thuộc Tòa án khác, Thẩm phán sẽ làm thủ tục chuyển đơn lên Tòa án đó;

(vi) Trong một số trường hợp nhất định, Thẩm phán phải trả lại đơn xin yêu cầu mở thủ tục phá sản.

Thông báo việc xử lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản phải bằng văn bản và gửi cho người nộp đơn và doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán biết.

Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc khi có đơn yêu cầu giải quyết phá sản hợp pháp của đương sự và sau khi nhận được biên lai nộp lệ phí phá sản, biên lai nộp tạm ứng chi phí phá sản (trừ trường hợp không phải nộp lệ phí phá sản, tạm ứng chi phí phá sản).

Ngoài ra, không phải trong mọi trường hợp Tòa án đều thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, Tòa án có quyền trả lại đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản trong các trường hợp pháp luật quy định, như người nộp đơn không có thẩm quyền, không sửa đổi, bổ sung đơn theo quy định, không nộp lệ phí phá sản, tạm ứng chi phí phá sản v.v. hoặc Tòa án khác đã mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã.

II- MỞ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT YÊU CẦU PHÁ SẢN 

Việc mở thủ tục giải quyết yêu cầu phá sản có vai trò quan trọng trong tiến hành vụ việc phá sản. Quyết định mở thủ tục giải quyết yêu cầu phá sản là cơ sở pháp lý để tiến hành giải quyết phá sản một doanh nghiệp, hợp tác xã; là căn cứ để áp dụng các biện pháp bảo toàn tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã; là căn cứ để tính thời điểm bắt đầu cho thời hạn một số hoạt động trong quá trình giải quyết yêu cầu phá sản.

Theo pháp luật phá sản, nếu doanh nghiệp, hợp tác xã không có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu thì các chủ nợ có quyền yêu cầu Tòa án mở thủ tục phá sản đối với các doanh nghiệp, hợp tác xã đó. Thẩm phán là người ra quyết định mở thủ tục phá sản khi doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán.

Để đảm bảo tính khách quan, chính xác khi ra quyết định mở thủ tục phá sản, Tòa án có thể triệu tập phiên họp với sự tham gia của người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, chủ doanh nghiệp hoặc đại diện hợp pháp của doanh nghiệp, hợp tác xã bị yêu cầu mở thủ tục phá sản, cá nhân, tổ chức có liên quan để xem xét, kiểm tra các căn cứ chứng minh doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán. Nếu có đầy đủ căn cứ để chứng minh rằng doanh nghiệp, hợp tác xã đã mất khả năng thanh toán, thì Thẩm phán ra quyết định mở thủ tục phá sản trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản. Quyết định mở thủ tục phá sản của Tòa án phải được gửi cho người nộp đơn, doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán, chủ nợ, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, cơ quan thi hành án dân sự, cơ quan thuế, cơ quan đăng kí kinh doanh nơi doanh nghiệp, hợp tác xã có trụ sở chính và đăng trên cổng thông tin đăng kí doanh nghiệp quốc gia, cổng thông tin điện tử của Tòa án và 02 số báo địa phương liên tiếp nơi doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán có trụ sở chính.

Trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày người tham gia thủ tục phá sản, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp nhận được quyết định mở hay không mở thủ tục phá sản, quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản của Tòa án có thể bị đề nghị xem xét lại hoặc bị kháng nghị. Thẩm quyền xem xét đơn đề nghị hay kháng nghị về quyết định mở hay không mở thủ tục phá sản thuộc về Tòa án cấp trên của Tòa án ra quyết định mở hay không mở thủ tục phá sản.

Cùng với việc ra quyết định mở thủ tục phá sản, trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định mở thủ tục phá sản, Thẩm phán có trách nhiệm chỉ định Quản tài viên hoặc doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản để làm nhiệm vụ quản lý, thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản.

Sau khi mở thủ tục phá sản, doanh nghiệp, hợp tác xã có thể tiến hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh bình thường. Tuy nhiên, doanh nghiệp, hợp tác xã bị cấm thực hiện một số hoạt động như: cất giấu, tẩu tán, tặng cho tài sản; thanh toán khoản nợ không có bảo đảm, trừ khoản nợ không có bảo đảm phát sinh sau khi mở thủ tục phá sản và trả lương cho người lao động trong doanh nghiệp, hợp tác xã theo quy định của pháp luật; từ bỏ quyền đòi nợ; chuyển khoản nợ không có bảo đảm thành nợ có bảo đảm hoặc có bảo đảm một phần bằng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã.

Doanh nghiệp, hợp tác xã sau khi mở thủ tục phá sản đều phải chịu sự quản lý và giám sát của Thẩm phán, Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản. quản lý, giám sát hoạt động của các doanh nghiệp, hợp tác xã sau khi có quyết định mở thủ tục phá sản là việc làm cần thiết để đảm bảo các doanh nghiệp, hợp tác xã này không tiếp tục mắc sai lầm, tạo cơ sở cho việc xây dựng thành công phương án sản xuất, kinh doanh sau này.

III- HỘI NGHỊ CHỦ NỢ 

Mặc dù không phải là thủ tục bắt buộc trong mọi trường hợp giải quyết phá sản, song Hội nghị chủ nợ có vai trò quyết định trong việc doanh nghiệp mắc nợ có được áp dụng thủ tục phục hồi hay không, là hình thức pháp lí quan trọng nhất để các chủ nợ thông qua đó bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình trong tố tụng phá sản. Những vấn đề pháp lí của Hội nghị chủ nợ gồm:

1- Quyền và nghĩa vụ tham gia Hội nghị chủ nợ

Quyền tham gia Hội nghị chủ nợ trước hết thuộc về chủ nợ. Những chủ nợ có tên trong danh sách chủ nợ đều được quyền tham gia Hội nghị chủ nợ. Họ cũng có thể ủy quyền bằng văn bản cho người khác để đại diện cho mình nếu bản thân không thể trực tiếp tham gia Hội nghị,chủ nợ. Với các trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán và nợ lương người lao động thì những người lao động này là chủ nợ của doanh nghiệp. Trong trường hợp đó, đại diện người lao động, đại diện công đoàn được người lao động ủy quyền sẽ tham gia Hội nghị chủ nợ. Trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã được người thứ ba bảo lãnh cho các giao dịch phát sinh nghĩa vụ tài sản, thì những người bảo lãnh, sau khi đã trả nợ thay cho doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán trở thành chủ nợ không có bảo đảm của các doanh nghiệp, hợp tác xã đó.

Tham gia Hội nghị chủ nợ là nghĩa vụ đối với chính những doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán và người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản. Trường hợp không tham gia được thì phải uỷ quyền bằng văn bản cho người khác tham gia Hội nghị chủ nợ và người được uỷ quyền có quyền, nghĩa vụ như người uỷ quyền. Trường họp người đại diện doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán cố ý vắng mặt không có lí do chính đáng thì Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản có văn bản đề nghị Tòa án xử lý theo quy định của pháp luật.

2-  Nội dung và thể thức hoạt động của Hội nghị chủ nợ

Để Hội nghị chủ nợ được tiến hành, cần số lượng chủ nợ tham dự chiếm ít nhất 51% tổng số nợ không có bảo đảm của doanh nghiệp, hợp tác xã bị mất khả năng thanh toán. Chủ nợ không có bảo đảm là những người yếu thế nhất trong các chủ nợ, khoản nợ của họ nằm cuối trong thứ tự ưu tiên thanh toán các khoản nợ và không được đảm bảo bằng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã. Do vậy, chủ nợ không có bảo đảm phải là thành phần không thể thiếu của Hội nghị chủ nợ. Pháp luật phá sản luôn có quy định về tỷ lệ chủ nợ không có đảm bảo tham gia Hội nghị chủ nợ. Theo pháp luật phá sản hiện hành, nếu số lượng chủ nợ chiếm ít hơn 51% tổng số nợ không có bảo đảm tham dự, thì Hội nghị chủ nợ bị hoãn vì không đủ điều kiện theo quy định của pháp luật. Việc hoãn Hội nghị chủ nợ phải được thông báo đến những người tham gia thủ tục phá sản. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày hoãn Hội nghị chủ nợ lần thứ nhất, Thẩm phán phải triệu tập lại Hội nghị chủ nợ. Việc triệu tập Hội nghị chủ nợ lần thứ ị hai mà vẫn không đủ điều kiện như điều kiện1 áp dụng cho việc triệu tập Hội nghị chủ nợ lần thứ nhất thì Thẩm phán lập biên bản và quyết định tuyên bố phá sản.

Khác với quy định của Luật Phá sản năm 2004, điều kiện hợp lệ của Hội nghị chủ nợ theo Luật Phá sản năm 2014 chỉ căn cứ trên số nợ. số chủ nợ tham gia hội nghị không phải là điều kiện để coi Hội nghị chủ nợ có hợp lệ hay không. Điều này có nghĩa là Hội nghị chủ nợ có thể hợp lệ khi chỉ cần một chủ nợ tham gia mà đại diện cho ít nhất 51% số nợ không có bảo đảm.

Việc tham gia Hội nghị chủ nợ thể hiện thiện chí của cả hai bên trong việc tìm ra giải pháp để khắc phục tình trạng mất khả năng thanh toán của doanh nghiệp, hợp tác xã. Tuy nhiên, nếu những người có quyền lợi không tham gia Hội nghị chủ nợ thì có thể hiểu là họ không có thiện chí tìm ra cách thức cải thiện tình trạng của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán hoặc không tin tưởng vào khả năng phục hồi của các doanh nghiệp, hợp tác xã đó. Trong trường hợp này, việc tuyên bố phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã ngay là phù hợp, nhằm tiết kiệm thời ; gian, công sức, tiền bạc của các bên liên quan.                                   ’

Cùng với việc quy định thành phần tham gia Hội nghị chủ nợ, pháp luật phá sản có những quy định về nội dung của Hội nghị chủ nợ. Hội nghị chủ nợ chủ yếu thảo luận, bàn bạc và quyết nghị các nội dung được pháp luật quy định. Hội nghị chủ nợ thảo luận về các vấn đề liên quan đến tình trạng của doanh nghiệp, hợp tác xã đang mất khả năng thanh toán, thông qua nghị quyết về các vấn đề đó. Nghị quyết của Hội nghị chủ nợ được thông qua khi có quá nửa tổng số chủ nợ không có bảo đảm có mặt và đại diện cho từ 65% tổng số nợ không có bảo đảm trở lên biểu quyết tán thành. Nghị quyết của Hội nghị chủ nợ có hiệu lực ràng buộc đối với tất cả các chủ nợ, và quyết định được ra theo một trong các hướng sau:

Thứ nhất, nghị quyết Hội nghị chủ nợ có thể đưa ra kết luận đề nghị Tòa án đình chỉ giải quyết yêu cầu mở thủ tục phá sản nếu kể từ ngày Tòa án ra quyết định mở thủ tục phá sản đến trước ngày ra quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã đó không mất khả năng thanh toán.

Thứ hai, Hội nghị chủ nợ có quyền đưa ra nghị quyết đề nghị áp dụng biện pháp phục hồi hoạt động kinh doanh đối với doanh nghiệp, hợp tác xã. Trường hợp này, Hội nghị chủ nợ thấy rằng doanh nghiệp, hợp tác xã có khả năng trả được nợ nếu áp dụng các biện pháp khắc phục để cứu vãn tình trạng làm ăn thua lỗ và mất khả năng thanh toán.

Thứ ba, Hội nghị chủ nợ có thể ra nghị quyết đề nghị Tòa án tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản nếu thấy không còn khả năng cứu vãn, kể cả trường hợp có áp dụng các biện pháp phục hồi hoạt động kinh doanh.

Pháp luật phá sản đề ra cơ chế đề nghị, kiến nghị xem xét lại và giải quyết đề nghị, kiến nghị xem xét lại nghị quyết của Hội nghị chủ nợ. Theo đó, trường hợp không đồng ý với nghị quyết của Hội nghị chủ nợ thì trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được nghị quyết của Hội nghị chủ nợ, người có quyền, nghĩa vụ tham gia Hội nghị chủ nợ có quyền gửi đơn đề nghị, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kiến nghị với Chánh quyết của Hội nghị chủ nợ. Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị, kiến nghị, Chánh án Tòa án nhân dân đang giải quyết phá sản xem xét và ra một trong các quyết định không chấp nhận đề nghị, kiến nghị hoặc tổ chức lại Hội nghị chủ nợ. Quyết định giải quyết đề nghị, kiến nghị xem xét lại nghị quyết của Hội nghị chủ nợ là quyết định cuối cùng.

IV- PHỤC HỒI HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP, HỢP TÁC XÃ MẤT KHẢ NĂNG THANH TOÁN NỢ ĐẾN HẠN 

Phục hồi hoạt động kinh doanh là nội dung thể hiện quan điểm tiến bộ, tính nhân đạo của pháp luật phá sản hiện đại đối với doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán nợ đến hạn. Việc áp dụng thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh đem lại cho doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán những cơ hội và điều kiện để tổ chức lại hoạt động kinh doanh, giúp doanh nghiệp có thể thoát khỏi bờ vực của phá sản.

Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993 chưa chú trọng đến vấn đề phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán, chưa có những quy định cụ thể về thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh như điều kiện, nội dung, thời hạn thực hiện phương án phục hồi kinh doanh... Khắc phục nhược điểm này, Luật Phá sản năm 2004 và Luật Phá sản năm 2014 đã đề cao vai trò của các chế định liên quan đến phục hồi hoạt động của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán. Đặc biệt, Luật Phá sản năm 2014 đã tiến thêm một bước nữa khi quyết định tách riêng thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh thành một chương riêng với những quy định khá chi tiết. Hoạt động phục hồi kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán bao gồm những giai đoạn sau:

1- Xây dựng và thông qua phương án phục hồi hoạt động kinh doanh

Doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán là chủ thể nắm rõ các hoạt động kinh doanh của mình nhất nên pháp luật phá sản yêu cầu họ phải xây dựng phương án phục hồi hoạt động kinh doanh để những người có trách nhiệm xem xét trước khi trình lên để Hội nghị chủ nợ thông qua. Hội nghị chủ nợ là chủ thể thông qua phương án phục hồi hoạt động kinh doanh vì phương án này ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của các chủ nợ.

Theo trình tự mà Luật Phá sản quy định, trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày Hội nghị chủ nợ thông qua nghị quyết có nội dung áp dụng thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh thì doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán phải xây dựng phương án phục hồi hoạt động kinh doanh và gửi cho Thẩm phán, chủ nợ, Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản cho ý kiến.

Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được phương án phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã thì chủ nợ, Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản gửi ý kiến cho doanh nghiệp, hợp tác xã để hoàn thiện phương án phục hồi hoạt động kinh doanh. Ngay sau khi nhận được phương án phục hồi hoạt động kinh doanh đã được doanh nghiệp, hợp tác xã bổ sung hoàn thiện, Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản có nhiệm vụ báo cáo Thẩm phán. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được phương án phục hồi hoạt động kinh doanh của Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản, Thẩm phán xem xét trước khi đưa phương án ra Hội nghị chủ nợ xem xét thông qua.

Nghị quyết của Hội nghị chủ nợ thông qua phương án phục hồi hoạt động kinh doanh khi được quá nửa tổng số chủ nợ không có bảo đảm có mặt và đại diện cho từ 65% tổng số nợ không có bảo đảm trở lên biểu quyết tán thành và có hiệu lực ràng buộc đối với tất cả các chủ nợ. Trường hợp phương án phục hồi hoạt động kinh doanh có sử dụng tài sản bảo đảm thì phải quy định rõ thời gian sử dụng tài sản có bảo đảm, phương án xử lý tài sản bảo đảm và phải được chủ nợ có bảo đảm bằng tài sản đó đồng ý. Trường hợp không tổ chức lại được Hội nghị chủ nợ hoặc Hội nghị chủ nợ không thông qua được nghị quyết về việc thông qua phương án phục hồi hoạt động kinh doanh thì Tòa án tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản.

Sau khi phương án phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã được Hội nghị chủ nợ thông qua, theo quy trình, Thẩm phán sẽ ra quyết định công nhận nghị quyết của Hội nghị chủ nợ để phương án phục hồi hoạt động kinh doanh đó đi vào triển khai trong thực tế. Nghị quyết này, khi được thông qua và công nhận, sẽ có hiệu lực đối với tất cả người tham gia thủ tục phá sản có liên quan.

2- Nội dung phương án phục hồi hoạt động kinh doanh

Phương án phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán phải nêu rõ các biện pháp để phục hồi hoạt động kinh doanh; các điều kiện, thời hạn và kế hoạch thanh toán các khoản nợ. Các biện pháp để phục hồi hoạt động kinh doanh gồm: huy động vốn; giảm nợ, miễn nợ, hoãn nợ; thay đổi mặt hàng sản xuất, kinh doanh; đổi mới công nghệ sản xuất; tổ chức lại bộ máy quản lý, sáp nhập hoặc chia tách bộ phận sản xuất; bán cổ phần cho chủ nợ và những người khác; bán hoặc cho thuê tài sản và các biện pháp khác không trái quy định của pháp luật.                                                                       

Thời hạn để thực hiện phương án phục hồi hoạt động kinh doanh thực hiện theo nghị quyết của Hội nghị chủ nợ thông qua phương án phục hồi hoạt động kinh doanh. Và trong trường hợp nghị quyết của Hội nghị chủ nợ không xác định thời hạn thì thời hạn thực hiện phương án phục hồi hoạt động kinh doanh là không quá 03 năm kể từ ngày Hội nghị chủ nợ thông qua phương án phục hồi hoạt động kinh doanh.

3- Giám sát thực hiện phương án phục hồi hoạt động kinh doanh

Trong giai đoạn tiến hành các hoạt động phục hồi sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp, hợp tác xã chịu sự giám sát của những người có trách nhiệm liên quan bao gồm Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản và chủ nợ của chính họ. Điều này là cần thiết và để đảm bảo các mục tiêu đặt ra trong kế hoạch phục hồi hoạt động kinh doanh được thực hiện hiệu quả, và doanh nghiệp, hợp tác xã không thể tùy tiện thực hiện các hoạt động kinh doanh theo ý muốn chủ quan của mình. Ngoài ra, pháp luật phá sản còn quy định, sáu tháng một lần, doanh nghiệp, hợp tác xã phải lập báo cáo về tình hình thực hiện phương án phục hồi hoạt động kinh doanh của mình cho Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản và họ có trách nhiệm báo cáo Thẩm phán và thông báo cho chủ nợ. Điều này là cần thiết nhằm giúp các chủ nợ có thể theo dõi được quá trình thực hiện và triển khai kế hoạch phục hồi hoạt động kinh doanh của con nợ.

4- Đình chỉ thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh

Phục hồi hoạt động kinh doanh là một hoạt động được doanh nghiệp, hợp tác xã thực hiện trong thời gian không quá ba năm với mục đích đưa doanh nghiệp, hợp tác xã thoát khỏi tình trạng mất khả năng thanh toán. Kết quả của quá trình này là doanh nghiệp, hợp tác xã có thể phục hồi thành công hoặc thất bại. Dù thành công hay thất bại, việc đình chỉ thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã cũng sẽ được thực hiện. Theo quy định của pháp luật, Thẩm phán ra quyết định đình chỉ thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán nếu thuộc một trong các trường hợp: doanh nghiệp, hợp tác xã đã thực hiện xong phương án phục hồi hoạt động kinh doanh; doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện được phương án phục hồi hoạt động kinh doanh; hết thời hạn thực hiện phương án phục hồi hoạt động kinh doanh nhưng doanh nghiệp, hợp tác xã vẫn mất khả năng thanh toán.

V- TUYÊN BỐ DOANH NGHIỆP, HỢP TÁC XÃ PHÁ SẢN 

1- Các trường hợp Tòa án tuyên bố phá sản

Theo quy định của Luật Phá sản năm 2014, Thẩm phán ra quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản trong các trường hợp sau đây:

Thứ nhất, trường hợp tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản khi Hội nghị chủ nợ không thành.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được báo cáo kết quả họp Hội nghị chủ nợ, Tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản trong các trường hợp: (i) Triệu tập Hội nghị chủ nợ lần hai mà vẫn không đủ số chủ nợ tham gia đại diện cho ít nhất 51% tổng số nợ không có bảo đảm, thì Tòa án có thể ra quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản; (ii) Hội nghị chủ nợ không thông qua được nghị quyết vì không có đủ quá nửa tổng số chủ nợ không có bảo đảm có mặt và đại diện cho từ 65% tổng số nợ không có bảo đảm trở lên biểu quyết tán thành; (iii) không tổ chức lại được Hội nghị chủ nợ hoặc Hội nghị chủ nợ không thông qua được nghị quyết trong đó quyết định phương án phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán.

Thứ hai, trường hợp tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản sau khi có nghị quyết Hội nghị chủ nợ. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được nghị quyết của Hội nghị chủ nợ đề nghị tuyên bố phá sản thì Tòa án nhân dân xem xét quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản.

Ngoài ra, sau khi Hội nghị chủ nợ thông qua nghị quyết có nội dung áp dụng thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh, Tòa án nhân dân quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản trong các trường hợp: (i) doanh nghiệp, hợp tác xã không xây dựng được phương án phục hồi hoạt động kinh doanh trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày Hội nghị chủ nợ thông qua nghị quyết có nội dung áp dụng thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh; (ii) Hội nghị chủ nợ không thông qua phương án phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã; (iii) doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện được phương án phục hồi hoạt động kinh doanh.

Quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản phải có các nội dung theo quy định của pháp luật[8] và có hiệu lực thi hành từ ngày ra quyết định.

2- Đề nghị xem xét lại, kháng nghị và giải quyết đơn đề nghị, kháng nghị quyết định tuyên bổ phá sản

Doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán, các chủ nợ, người nộp đơn có quyền đề nghị xem xét lại quyết định phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã của Tòa án. Quyền kháng nghị quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã thuộc về Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp với Tòa án ra quyết định tuyên bố phá sản. Thời hạn đề nghị xem xét lại, kháng nghị là 15 ngày kể từ ngày nhận được quyết định hoặc được thông báo hợp lệ quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản. Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đề nghị xem xét lại, kháng nghị, Tòa án đã ra quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản phải gửi hồ sơ vụ việc phá sản kèm theo đơn đề nghị, kháng nghị cho Tòa án cấp trên trực tiếp để xem xét, giải quyết.

Sau khi nhận được hồ sơ về phá sản kèm theo đơn đề nghị, kháng nghị, Tòa án nhân dân cấp trên trực tiếp chỉ định một tổ gồm 03 Thẩm phán xem xét, giải quyết. Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ việc phá sản kèm theo đơn đề nghị, kháng nghị, Tổ Thẩm phán phải tổ chức phiên họp và ra một trong các quyết định: (i) Không chấp nhận đơn đề nghị, kháng nghị và giữ nguyên quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản; (ii) sửa quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản; (iii) huỷ quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản và giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân cấp dưới có thẩm quyền giải quyết lại.[9]

Trước đây, Điều 92 Luật Phá sản năm 2004 quy định: “Quyết định giải quyết khiếu nại, kháng nghị của Tòa án cấp trên trực tiếp là quyết định cuối cùng và có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định”. Tuy nhiên, trong thực tiễn giải quyết cố những quyết định giải quyết khiếu nại, kháng nghị quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản của Tòa án cấp trên trực tiếp có thể mắc phải sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật hoặc có tình tiết mới. Để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân, đồng thời không làm mất lòng tin của người dân và xã hội vào hoạt động của Tòa án, Luật Phá sản năm 2014 đã quy định về việc xem xét đơn đề nghị, kháng nghị theo thủ tục đặc biệt.[10] Theo đó, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa án nhân dân cấp trên trực tiếp ra quyết định giải quyết đề nghị, kiến nghị mà có đơn đề nghị xem xét lại của người tham gia thủ tục phá sản, kiến nghị của Viện kiểm sát nhân dân tối cao hoặc kiến nghị của Tòa án nhân dân thì Chánh án Tòa án nhân dân tối cao xem xét lại quyết định đó khi có một trong các căn cứ như: (i) Có vi phạm nghiêm trọng pháp luật về phá sản; hoặc (ii) phát hiện tình tiết mới có thể làm thay đổi cơ bản nội dung quyết định tuyên bố phá sản mà Tòa án nhân dân, người tham gia thủ tục phá sản không thể biết được khi Tòa án nhân dân ra quyết định.

Khi có một trong các căn cứ nêu trên, Tòa án nhân dân tối cao sẽ xem xét giải quyết và trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được đơn đề nghị, kiến nghị, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao có quyền ra một trong các quyết định sau:

(i) Không chấp nhận đề nghị xem xét lại, kiến nghị và giữ nguyên quyết định của Tòa án nhân dân cấp dưới;

(ii) Huỷ quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản của Tòa án nhân dân cấp dưới, quyết định giải quyết đề nghị xem xét lại, kiến nghị của Tòa án nhân dân cấp trên trực tiếp và giao hồ sơ về phá sản cho Tòa án nhân dân cấp dưới giải quyết lại.

Quyết định giải quyết đơn đề nghị, kiến nghị của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao là quyết định cuối cùng và có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định.

VI- THI HÀNH QUYẾT ĐỊNH TUYÊN BỐ PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP, HỢP TÁC Xà

1- Xác định tài sản phá sản của doanh nghiệp, hợp tác xã

Xác định tài sản phá sản của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán nợ đến hạn có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xử lý tài sản. Đây là một trong những căn cứ để xác định một doanh nghiệp, hợp tác xã liệu đã bị mất khả năng thanh toán nợ hay chưa. Mặt khác, nó chi phối việc lựa chọn thủ tục tố tụng trong quá trình giải quyết phá sản và áp dụng hàng loạt các biện pháp bảo toàn tài sản có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của các chủ nợ và doanh nghiệp, hợp tác xã mắc nợ. Luật Phá sản ở hầu hết các nước có nền kinh tế phát triển đều đưa ra khái niệm tài sản phá sản nhằm xác định khối tài sản của con nợ đang bị giải quyết phá sản. Ở Việt Nam, Luật Phá sản năm 2014 không có điều luật quy định riêng về khái niệm tài sản phá sản mà chỉ quy định theo hướng liệt kê các loại tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán tại Điều 64 Luật Phá sản năm 2014, theo đó:

- Tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán gồm: Tài sản và quyền tài sản mà doanh nghiệp, hợp tác xã có tại thời điểm Tòa án nhân dân quyết định mở thủ tục phá sản; tài sản và quyền tài sản có được sau ngày Tòa án nhân dân ra quyết định mở thủ tục phá sản; giá trị của tài sản bảo đảm vượt quá khoản nợ có bảo đảm mà doanh nghiệp, hợp tác xã phải thanh toán cho chủ nợ có bảo đảm; giá trị quyền sử dụng đất của doanh nghiệp, hợp tác xã được xác định theo quy định của pháp luật về đất đai; tài sản thu hồi từ hành vi cất giấu, tẩu tán tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã; tài sản và quyền tài sản có được do thu hồi từ giao dịch vô hiệu; các tài sản khác theo quy định của pháp luật.

-  Tài sản của DNTN, công ty hợp danh mất khả năng thanh toán gồm: Các loại tài sản thông thường theo quy định; tài sản của chủ DNTN, thành viên hợp danh không trực tiếp dùng vào hoạt động kinh doanh; trường hợp chủ DNTN, thành viên hợp danh có tài sản thuộc sở hữu chung thì phần tài sản của chủ DNTN, thành viên hợp danh đó được chia theo quy định của pháp luật về dân sự và quy định của pháp luật có liên quan.

-  Trường hợp hợp tác xã bị tuyên bố phá sản thì việc xử lý tài sản không chia được thực hiện theo quy định của pháp luật về hợp tác xã.

So với Luật Phá sản năm 2004, quy định của Luật Phá sản năm 2014 đã mở rộng thêm một số đối tượng là tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán như: Tài sản thu hồi từ hành vi cất giấu, tẩu tán tài sản hay tài sản và quyền tài sản có được sau ngày Tòa án nhân dân ra quyết định mở thủ tục phá sản. Quy định thêm như vậy đã dự liệu và bao quát được rộng hơn các loại tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã. Phương pháp liệt kê các loại hình tài sản như trên có ưu điểm là giúp các cơ quan tố tụng cũng như các bên liên quan đánh giá được cụ thể về tình hình tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã nhưng khó có thể bao hàm hết toàn bộ khối tài sản, gây khó khăn cho việc tính toán, kiểm soát, phân chia số tài sản này.

2- Thủ tục thi hành quyết định tuyên bố phá sản

Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định tuyên bố phá sản, cơ quan thi hành án dân sự có trách nhiệm chủ động ra quyết định thi hành, phân công Chấp hành viên thi hành quyết định tuyên bố phá sản.

Sau khi nhận được quyết định phân công của Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự, Chấp hành viên thực hiện các nhiệm vụ sau:

-   Mở một tài khoản tại ngân hàng đứng tên cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền thi hành quyết định tuyên bố phá sản để gửi các khoản tiền thu hồi được của doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản;

-   Giám sát Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản thực hiện thanh lý tài sản;

-   Thực hiện cưỡng chế để thu hồi tài sản, giao tài sản cho người mua được tài sản trong vụ việc phá sản theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự;

-   Sau khi nhận được báo cáo của Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản về kết quả thanh lý tài sản, Chấp hành viên thực hiện phương án phân chia tài sản theo quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản.

Về thứ tự phân chia tài sản: Tương tự Luật Phá sản năm 2004, Luật Phá sản năm 2014 cũng tách riêng quy định về xử lý các khoản nợ có bảo đảm và các khoản nợ này được xử lý trước khi doanh nghiệp, hợp tác xã bị tuyên bố phá sản (trừ trường hợp tài sản bảo đảm không đủ để trả nợ cho các khoản nợ có bảo đảm). Đối với các khoản nợ không có bảo đảm, việc thanh toán chỉ được thực hiện khi Thẩm phán ra quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản, theo thứ tự: (i) Chi phí phá sản; (ii) Khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đối với người lao động, quyền lợi khác theo hợp đồng lao động và thoả ước lao động tập thể đã ký kết; (iii) Khoản nợ phát sinh sau khi mở thủ tục phá sản nhằm mục đích phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã; (iv) Nghĩa vụ tài chính đối với nhà nước; khoản nợ không có bảo đảm phải trả cho chủ nợ trong danh sách chủ nợ; khoản nợ có bảo đảm chưa được thanh toán do giá trị tài sản bảo đảm không đủ thanh toán nợ.

Trường hợp giá trị tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã sau khi đã thanh toán đủ các khoản quy định nêu trên mà vẫn còn thì phần còn lại này thuộc chủ sở hữu của doanh nghiệp, hợp tác xã.

Nếu giá trị tài sản không đủ để thanh toán thì từng đối tượng cùng một thứ tự ưu tiên được thanh toán theo tỷ lệ phần trăm tương ứng với số nợ.

Luật sư Nguyễn Thị Hoài Thương, tổng hợp (từ Giáo trình Luật Thương mại 1 - Đại học Luật Hà Nội và một số nguồn khác).

 

0 bình luận, đánh giá về Trình tự giải quyết yêu cầu phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã

TVQuản trị viênQuản trị viên

Xin chào quý khách. Quý khách hãy để lại bình luận, chúng tôi sẽ phản hồi sớm

Trả lời.
Thông tin người gửi
Bình luận
Nhấn vào đây để đánh giá
Thông tin người gửi
Tổng đài tư vấn: 024-66 527 527
Giờ làm việc: Thứ 2 - Thứ 7: 8h30 - 18h00
0.22179 sec| 1130.375 kb